Trong sử luận về giai đoạn cách mạng Pháp, chúng ta vẫn thường hay tập trung vào bất ổn bên trong lòng chính trị cách mạng lẫn các biến cố sau này như chiến tranh Napoleon. Một điều ít được quan tâm hơn lại là Chiến tranh cách mạng thời kỳ đầu - mặc dù trên thực tế, các biến cố quân sự ở Hà Lan, Áo và Tây Ban Nha đã góp phần định hình vào lịch sử của cả Châu Âu và thế giới thời bấy giờ. Bài viết dưới đây sẽ là một nguồn dẫn nhập cho thời kỳ hỗn loạn này
Dẫn nhập - Bối cảnh
Như đã đề cập trong phần về Cách mạng Pháp, chế độ quân chủ tuyệt đối của nhà Bourbon đã sụp đổ, nhường chỗ cho một nền quân chủ lập hiến – một nỗ lực nhằm dung hòa giữa phe bảo hoàng và phe cách mạng. Tuy nhiên, sự thỏa hiệp này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi. Chính quyền lập hiến tỏ ra thiếu năng lực trong việc hòa giải các phe phái đối lập, trong khi nền kinh tế quốc gia vẫn tiếp tục kiệt quệ, loạn lạc và nạn thất nghiệp xảy ra khắp nơi. Cùng lúc đó, giới quý tộc lưu vong Pháp (émigrés) tích cực vận động các cường quốc châu Âu can thiệp nhằm khôi phục nền quân chủ cũ của họ. Nhưng tác động lớn đầu tiên đến từ việc chính quyền Pháp cho phế truất và xử tử vua Louis XVI, một hành động mà được báo chí Anh ghi chép lại là “tội ác tởm lợm nhất trong lịch sử nhân loại”.
Tin tức về việc hành quyết vua Louis XVI lan truyền khắp châu Âu, các triều đình Áo và Phổ lập tức coi đó là mối đe dọa nghiêm trọng đối với toàn bộ trật tự quân chủ của châu lục. Hai nước nhanh chóng chuẩn bị can thiệp quân sự nhằm ngăn chặn làn sóng cách mạng đang lan rộng. Áo là nước đặc biệt ủng hộ cuộc chiến này, không chỉ vì hoàng hậu Marie Antoinette – vương hậu của Louis XVI – vốn xuất thân từ vương thất Habsburg, mà còn vì sự trỗi dậy của nước Pháp cách mạng có nguy cơ làm bùng nổ chiến tranh trên toàn Trung Âu, nơi đang nằm dưới quyền bảo hộ của đất Áo. Với tư cách là quốc gia đứng đầu Thánh chế La Mã, triều đình Áo tin rằng họ có nghĩa vụ phải chấm dứt chế độ cộng hòa non trẻ này và khôi phục sự ổn định trên toàn châu lục.
Tháng 8 năm 1791, vua Phổ Friedrich Wilhelm II và hoàng đế Áo Leopold II ký Tuyên ngôn Pillnitz, tuyên bố sẵn sàng can thiệp vào nội bộ nước Pháp nếu các nước châu Âu khác cùng đồng thuận. Dù văn bản này phần lớn chỉ mang tính biểu tượng – bởi mục tiêu thật sự của Áo và Phổ lúc đó là phân chia lãnh thổ Ba Lan – nhưng nó lại khiến nỗi lo sợ và nghi kỵ trong giới cách mạng Pháp càng thêm sâu sắc.
Trái với sự thận trọng cần có, phe Girondins, lúc ấy đang kiểm soát Quốc hội Lập pháp, lại xem đây là cơ hội trời cho. Họ tin rằng chiến tranh không chỉ mang lại vinh quang và chiến thắng, mà còn có thể đoàn kết quốc gia, xuất khẩu cách mạng, và lan tỏa lý tưởng tự do - bình đẳng ra khắp châu Âu lẫn bá quyền nước Pháp.
Ngày 20 tháng 4 năm 1792, nước Pháp tuyên chiến với Áo, chính thức mở màn cho Chiến tranh Liên minh lần thứ nhất – cuộc đối đầu đẫm máu đầu tiên, nhưng cũng chỉ là khởi đầu cho chuỗi xung đột kéo dài giữa nước Pháp cách mạng và các vương triều quân chủ châu Âu, mà sau này sẽ có thêm các nước thành viên khác như Anh Quốc, Thụy Điển, Nga, các nước trong Thánh chế La Mã và cả Tây Ban Nha. Mục tiêu của họ có thể đi từ việc khôi phục chế độ quân chủ Pháp và dẹp bỏ chế độ cộng hòa, nhưng nhiều vị vua cũng đều muốn có thêm lãnh thổ mới. Họ sẽ không tưởng tượng ra được nước Pháp cách mạng là nước Pháp rất khác so với những kẻ thù mà họ từng đối mặt từ trước đến nay.
1792: Mở màn
Ban đầu các thành viên phe Girondin đã hứa hẹn về một cuộc chiến dễ dàng, khi “các công dân tự do của Pháp sẽ chiến thắng trước lũ nô lệ của Châu Âu quân chủ”. Sự thật là hoàn toàn trái ngược, quân Pháp, không được huấn luyện lẫn có quân trang cần thiết bị quân Áo đánh bại toàn diện. Đặc biệt hơn cả là các cuộc đụng độ ban đầu tại Quievrain và Marquain không chỉ thất bại mà quân Pháp còn phản loạn và giết tướng chỉ huy của họ. Sĩ khí toàn quân tan vỡ khi Hầu tước Lafayette, một trong những vị tướng hàng đầu của Cách mạng Pháp đào ngũ và bị quân Áo bắt được trên đường trốn sang nước Mỹ.
Lúc này, nước Phổ bắt đầu chuẩn bị tấn công nước Pháp từ khu vực quanh Koblenz. Dưới sự chỉ huy của Công tước Brunswick, quân Phổ tiến vào lãnh thổ Pháp, nhưng cuộc hành quân kéo dài trong nhiều ngày kết hợp với bệnh kiết lỵ hoành hành khiến sức chiến đấu của quân Phổ bị suy giảm nghiêm trọng. Bản thân Công tước Brunswick biết rõ quân đội Phổ cũng không còn là thế lực đáng gờm như thời Chiến tranh Bảy Năm nên cũng không dám liều lĩnh.
Ngày 25 tháng 7, Công tước Brunswick ban hành một bản tuyên ngôn, trong đó tuyên bố sẽ khôi phục quyền lực cho vua Louis XVI và đe dọa trừng phạt bất cứ ai dám chống lại nhà vua Pháp. Tuy nhiên, giống như phản ứng trước Tuyên ngôn Pillnitz trước đó, lời đe dọa này chỉ càng làm bùng lên tinh thần cách mạng. Người dân Paris nổi dậy, bao vây điện Tuileries và bắt giữ Louis XVI.
Quân Phổ tiếp tục tiến đến, chiếm được Longwy và Verdun - cả hai đều là tiền đồn quan trọng để tiến vào Paris và cách không quá xa thủ đô Pháp. Người Pháp lúc này hoảng loạn đến độ đã cho thảm sát hàng ngàn người phe bảo hoàng vì cho rằng họ là quân bán nước. Công việc chuẩn bị chiến tranh được tổ chức khẩn trương, chóng vánh. Các nhà cách mạng như George Danton thúc giục lính tình nguyện đến chiến trường - họ lúc này hiểu rõ không phải trang bị hay kỷ luật mà chính sĩ khí mới là điều đem đến chiến thắng cho Pháp, vậy nên quá trình tổng động viên toàn dân đã nhen nhóm từ đây.
Ngày 20 tháng 9 năm 1792, quân Pháp dưới quyền hai tướng Dumouriez và Kellermann đã lần đầu tiên cản được quân xâm lược, giành được chiến thắng tại Valmy. Brunswick vội vã rút lui, và đến ngày hôm sau, Đệ Nhất Cộng Hòa đã ra đời.
Phép màu Valmy cũng đem đến thắng lợi lớn của quân Pháp trên các mặt trận khác, trước hết là tại Nice và Savoy, trong khi tướng Dumouriez tiếp tục tấn công vào Hà Lan, lúc bấy giờ đang nằm dưới sự kiểm soát của quân Áo. Ông giành được chiến thắng lớn tại Jemappes vào cuối năm 1792, qua đấy giúp nước Pháp giành được Bỉ trong cùng mùa đông năm đó. Tuy nhiên, Cộng hòa Pháp cũng đang dần gây hấn nhiều hơn, họ đe dọa đến hòa ước cổ Westphalia cổ xưa được ký kết từ năm 1648 và bắt đầu ra sắc lệnh tuyên bố tình bác ai, người Pháp sẽ giải phóng các dân tộc bị áp bức trên toàn Châu Âu - điều này về căn bản là thách thức đến toàn bộ chính quyền Châu Âu. Chủ nghĩa dân tộc dâng cao cũng dẫn đến nhiều lãnh đạo như Brissot và Danton tiếp tục mở rộng đến khi nước Pháp chạm đến “biên cương tự nhiên” bên dòng sông Rhine.
1793: Tổng động viên
Ngày 21 tháng 1 năm 1793, chính quyền Pháp cho xử tử vua Louis XVI. Sự kiện này đã khiến toàn Châu Âu sốc nặng, nhiều lãnh đạo như Anh và Áo coi đấy là tội ác khủng khiếp nhất trên thế giới. Anh Quốc đã bắt đầu tổng động viên, nhưng đến tháng 2, Pháp đã tuyên chiến với Anh, Tây Ban Nha và Hà Lan. Biết rõ Pháp cũng không phải đối thủ dễ xơi nên Anh cũng đã xây dựng mạng lưới liên minh rộng lớn để chống Pháp, với các nước như Naples, Bồ Đào Nha, Áo cam kết tham gia liên minh chống Pháp.
Liên Quân Chống Pháp lúc này đã được hình thành. Thoạt nhiên, quân Áo giành được thắng lợi đầu trước trận Neerwinden và ép tướng Pháp Dumouriez phải tháo chạy khỏi Vùng Đất Thấp, ông ta còn đào ngũ sang quân Áo. Quân Phổ thì vượt qua vùng Rhine đẩy lùi quân Pháp, còn quân Tây Ban Nha thì vượt qua dãy Pyrenees để tiến vào biên cương Pháp. Tồi tệ hơn cả, nổi loạn Vendee cũng diễn ra trong thời gian này và lan ra các vùng khác, với Toulon - thành phố cảng quan trọng nhất để Pháp tiến vào vùng Địa Trung Hải bị chiếm đoạt.
Người Pháp đáp trả cuộc xâm lược bằng các biện pháp cực đoan hơn bao giờ hết. Uỷ ban An Ninh Công Cộng được thành lập để quản lý tinh thần hàng ngũ sĩ quan, đảm bảo các trường hợp đào ngũ như Dumouriez không bao giờ xảy ra nữa. Hàng ngàn người bị bắt và xử tử vì nghi ngờ phản bội đất nước hoặc phản cách mạng. Sĩ quan dám chống lệnh từ Uỷ Ban hoặc không giành được chiến thắng đều hứng chịu cái chết hoặc tù giam.
Tuy nhiên, về mặt tích cực, việc Ủy ban có quyền lực tuyệt đối đã cho phép quân Pháp có thể giành được chiến thắng trong mùa hè năm 1793. Thành viên quốc hội là Lazare Carnot, một nhà toán học đại tài và “Nhà Tổ Chức Chiến Thắng” bắt đầu cải cách quân đội, tổ chức đội hình mới và cho tổng động viên quân - Levee en Masse. Đến tháng 9 năm 1794, người Pháp đã có đến 1 triệu quân, 70 vạn trong số đó là có vũ khí. Đây là đội quân lớn nhất mà Châu Âu từng thấy. Carnot cũng chú ý để quân mới tuyển được tham chiến cùng với các cựu binh, nhờ đấy quân Pháp dần có được kỷ luật và các kỹ năng cần thiết để sinh tồn trên chiến trường .
1793-1796: Phản công
Tại biên giới Ý, quân đội Pháp cố gắng xâm lược Sardinia-Piedmont nhưng thất bại. Điều kiện hiểm trở và thiếu hậu cần của vùng này sẽ dẫn đến chiến tranh ở đây rơi vào tình trạng bế tắc suốt gần nửa thập kỷ.
Ở bến chiến trường Tây Ban Nha, tình hình đang có lợi hơn cho quân Pháp. Khác với các chính thể đương thời, người Tây Ban Nha từ lâu đã thất bại trong việc hiện đại hóa quốc gia của họ. Điều này khiến cuộc đối đầu giữa nước Pháp cách mạng, lực lượng quân Pháp bước đầu đẩy lùi quân Tây Ban Nha về đất cho đến khi giành được chiến thắng đầu trong trận Rặng Núi Đen, mặc dù tướng chỉ huy quân Pháp trong trận này ban đầu bị giết chết, cánh phải quân Pháp do tướng Augereau chỉ huy vẫn phá được phòng tuyến của kẻ địch và đập tan trung quân địch. Tiếp diễn đà thắng, quân Pháp tiến sâu vào lãnh thổ Tây Ban Nha, chiếm được Vitoria và Bilbao. Điều này ép quân Tây Ban Nha phải ký hòa ước vào tháng 7 năm 1795, và nền quân chủ Tây Ban Nha trở thành đồng minh với Pháp suốt 10 năm tiếp theo.
Dù giành được nhiều chiến thắng, quân Pháp vẫn chưa thể xoay chuyển hoàn toàn cục diện chiến trường ở mặt trận đông bắc. Lúc này, hàng vạn quân Áo đang chuẩn bị mở cuộc tấn công vào Bỉ, tiến theo trục đường Mons–Maubeuge. Cùng thời điểm đó, người Pháp tổ chức thêm nhiều tập đoàn quân mới để đối đầu với liên quân. Hai tập đoàn quân do Pichegru và Moreau chỉ huy, còn tập đoàn quân ở Đức đặt dưới quyền tướng Jourdan.
Nhiệm vụ của Jourdan rất rõ ràng: chiếm được Charleroi – vị trí chiến lược trên tuyến đường ở Bỉ. Nếu thành công, quân Pháp có thể chia cắt lực lượng địch và mở đường tiến thẳng đến thủ đô Brussels đất Bỉ. Vì vậy, quanh Charleroi đã diễn ra những trận giao chiến vô cùng ác liệt. Trước đó, thành phố này còn bị liên quân chiếm được cho đến khi Jourdan chiếm lại.
Đến giữa tháng 6 năm 1794, Jourdan ra lệnh cho quân Pháp bố trí theo đội hình cánh cung rộng hơn 15 km, vừa để bảo vệ vị trí, vừa dễ dàng nhận tiếp viện. Đặc biệt, ông còn cho sử dụng khinh khí cầu để quan sát và theo dõi di chuyển của quân địch từ trên không — một sáng kiến hiếm thấy thời bấy giờ.
Nhờ những chuẩn bị đó, quân Pháp đã giành được chiến thắng chiến lược trong trận Fleurus. Dù không tiêu diệt hoàn toàn được quân Áo, chiến thắng này giúp Pháp kiểm soát Vùng Đất Thấp suốt 20 năm, còn tướng Jourdan được tôn vinh với danh hiệu “Anh hùng Fleurus.”

Tướng Jourdan, hay tương lai là Thống chế Jourdan của Đệ Nhất Đế chế Pháp
Mùa đông năm ấy, quân Pháp mở chiến dịch tấn công vào Hà Lan, phía đông Vùng Đất Thấp. Thời tiết lạnh giá trở thành lợi thế cho họ, khi mặt biển đóng băng giúp quân Pháp chiếm được toàn bộ hạm đội Hà Lan ngay trên mặt băng.
Đến năm 1795, sau khi củng cố quyền kiểm soát tại Bỉ, quân Pháp tiếp tục tiến đánh Hà Lan lần nữa và nhanh chóng kết thúc cuộc chiến vào mùa hè cùng năm. Từ đó, Pháp thành lập Cộng hòa Batavia – trên danh nghĩa là một quốc gia độc lập, nhưng thực chất là nhà nước vệ tinh chịu ảnh hưởng của Cách mạng Pháp.
Trên mặt trận trên biển, hải quân Pháp chỉ có thể phòng thủ và bảo vệ các tuyến đường giao thương quan trọng, thay vì chủ động tấn công. Nguyên nhân điều này đến từ các cuộc thanh trừng chính trị trong nước khiến nhiều sĩ quan hải quân phải bỏ trốn sang nước ngoài, làm suy yếu nghiêm trọng năng lực chỉ huy của Pháp. Trong khi đó, hải quân Anh vốn có kinh nghiệm dày dạn đã nhanh chóng giành ưu thế tuyệt đối trên biển.
Tuy nhiên, Pháp vẫn nhận được sự hỗ trợ từ Tây Ban Nha - sau thất bại bên rặng núi đen, Tây Ban Nha đã trở thành đồng minh của Pháp, qua đó giúp họ phần nào khôi phục ảnh hưởng ở Địa Trung Hải. Dù vậy, sau thất bại tại Toulon – nơi quân Anh chiếm được thành phố trước khi bị đánh bại bởi một viên sĩ quan pháo binh trẻ tên Napoleon Bonaparte – người Anh đã liên minh với Pasquale Paoli và đặt đảo Corse, quê hương của Napoleon, dưới quyền bảo hộ của Anh Quốc.
Năm 1795, sau các thất bại liên tiếp, áp lực nội bộ và vấn đề chia đất Ba Lan đã được hoàn tất, Vương quốc Phổ tuyên bố rút khỏi Liên Quân. Liên quân giờ chỉ còn Áo và Anh. Nhận thấy Áo đang đơn độc tiến hành chiến tranh, Anh cố gắng cử một tập đoàn quân đến vùng quân nổi loạn vùng Vendée ở Pháp. Ấy vậy mà dân Anh vẫn không thể đánh được Pháp trên đất liền, và đến hết ngày, quân Pháp đã bắt sống được 5000 người và gây tổn thất 6000 thương vong lên quân Anh.
Sau chiến thắng ở Fleurus, tướng Jourdan cùng toàn quân Pháp vượt qua Vùng Đất Thấp để tiến về biên giới Pháp – Đức, với mục tiêu phối hợp cùng cánh quân của Pichegru để bao vây và tiêu diệt chủ lực quân Áo, chấm dứt chiến tranh. Tuy nhiên, kế hoạch nhanh chóng thất bại. Tướng Pichegru, vốn là người nghiêng về phe bảo hoàng, đã cố tình không đưa quân đến tiếp viện cho Jourdan, khiến cánh quân của ông bị cô lập khi đối đầu với lực lượng chính của Áo.
Kết quả là đến cuối năm 1795, cả hai tập đoàn quân Pháp đều bị Liên quân đánh bại và buộc phải rút lui về sông Rhine. Dù vậy, tình hình vẫn có một điểm sáng: ở miền nam nước Pháp, quân Cách mạng đã giành thắng lợi trong trận Loano, mở đường cho quân Pháp tiến vào bán đảo Ý. Chính từ đây, một trong những chiến dịch vĩ đại nhất lịch sử nhân loại bắt đầu – Chiến dịch Ý của Napoleon Bonaparte.
1796: Chiến thắng
Sau thất bại thảm hại năm 1795, chính quyền Pháp mới - hay còn được biết đến với tên gọi chính quyền đốc chính đã tái tổ chức thành 3 tập đoàn quân, với 2 tập đoàn quân chính ở Đức và 1 tập đoàn quân ở Ý. Nhiệm vụ của ba tập đoàn quân này sẽ là đẩy lui đợt tiến công của quân Áo và bao vây Vienna, từ đấy có thể ép quân Áo đầu hàng.
Thay thế Pichegru trong chiến dịch lần này là Jean-Victor Moreau, một viên tướng trẻ mới có năm năm kinh nghiệm trong quân ngũ. Cùng với Jean-Baptiste Jourdan, ông được giao chỉ huy một trong hai tập đoàn quân của Pháp nhằm đối đầu với lực lượng Áo tại Đức.
Jourdan là người nổ súng trước: vào cuối tháng 5 năm 1796, ông vượt sông Rhine và mở màn cuộc tiến công. Tuy nhiên, khi chạm trán với Đại công tước Charles trong trận Wetzlar, những sai lầm trong bố trí chiến lược của Jourdan đã khiến quân Pháp phải chịu một thất bại sớm.
Trong khi đó, Moreau vẫn tiếp tục tiến quân về tiến tuyến. Ở bên kia chiến tuyến, Đại công tước Charles lại tỏ ra thận trọng. Nguyên nhân điều này đến từ các chiến thắng áp đảo của Napoleon tại Ý buộc ông phải điều 20.000 quân của tướng Wurmser xuống hỗ trợ mặt trận miền Nam. Dẫu vẫn còn trong tay khoảng 100.000 quân trên đất Đức, Charles chỉ thực sự chiếm ưu thế khi đối đầu riêng rẽ với từng đạo quân Pháp. Và nếu Moreau và Jourdan hợp quân, họ sẽ sở hữu lực lượng tới 160.000 người – đủ để áp đảo hoàn toàn quân Áo tại chiến trường Đức.
Đại công tước Charles quyết định tạm thời rút quân để củng cố lực lượng. Trong khi đó, Jourdan vượt sông Rhine một lần nữa và tiến vào Bavaria, còn Moreau thì hành quân đến thành phố Munich, thủ đô của Bavaria. Tuy nhiên, hai cánh quân Pháp hành quân quá xa nhau, khiến họ không thể phối hợp hay hỗ trợ lẫn nhau, và điều này đã trao lợi thế tuyệt đối cho Đại công tước Charles.
Ngày 24 tháng 8, sau khi nhận được tin do thám cùng các báo cáo của quân trinh sát trên chiến trường, Charles nhanh chóng điều quân đánh thẳng vào cánh phải của Jourdan, phá vỡ đội hình Pháp và buộc Jourdan phải rút lui. Ông tiếp tục truy kích đến vùng Würzburg, một khu vực đồi rừng hiểm trở, có sông Main uốn quanh. Đại công tước Charles nhanh chóng nhận ra rằng những cao điểm quanh vùng này chính là chìa khóa để kiểm soát toàn bộ chiến trường.
Tin rằng quân Áo chỉ đang tấn công bằng lực lượng tiên phong, Jourdan ra lệnh phản công vào cánh phải địch để phá vòng vây. Nhưng đến giữa trưa, Charles đã kịp phát hiện ý đồ, lập tức đưa toàn bộ kỵ binh phản công. Kỵ binh Áo xông thẳng vào trung tâm, khiến đội hình quân Pháp bị kéo giãn và rối loạn.

Đại vương công Charles Habsburg, có lẽ là tướng quân vĩ đại nhất của Nhà Habsburg trong lịch sử
Đến khoảng 5 giờ chiều, cả ba mặt trận của quân Pháp đều chịu áp lực nặng nề, buộc Jourdan phải ra lệnh rút lui. Kết thúc trận đánh, Charles gây ra khoảng 10.000 thương vong cho quân Pháp, trong khi quân Áo chỉ thiệt hại khoảng 2.000 người — một chiến thắng áp đảo cho Đại công tước.
Với Jourdan giờ đã được giải quyết, Charles hành quân đến để xử lý Moreau. Khi Charles đến vùng Danube, Moreau đang rút lui qua vùng Ulm – Biberach, cố gắng đưa quân trở về Alsace. Lúc này Charles vừa dẫn quân truy kích vừa ép Moreau phải hao tổn đạn dược, mục đích không phải là ép quân Pháp lao vào một trận chiến tổng lực với mình mà là điều động quân đội sao cho bẻ gãy được toàn bộ chiến lược địch. Trên cả hai chiến trường, Charles đã vận dụng nhuần nhuyễn chiến lược chia để trị, đánh bại từng phần, phối hợp du kích để kiểm soát được cục diện chiến trường và triệt tiêu năng lực chiến đấu của địch. Đấy quả thật là tài năng của Đại công tước Charles, chỉ huy quân sự vĩ đại nhất của vương triều Habsburg.
Chiến dịch Ý của Napoleon
Ngày 2 tháng 3 năm 1796, Napoleon Bonaparte được bổ nhiệm làm Tổng chỉ huy Tập đoàn quân Ý. Trước đó, chỉ huy chiến dịch là Tướng Scherer, nhưng khi ông được điều sang vị trí khác, nhiều người cho rằng người kế nhiệm xứng đáng nhất phải là André Masséna – vị tướng tài năng và giàu kinh nghiệm nhất của mặt trận này. Tuy nhiên, Bonaparte, nhờ mối quan hệ chính trị thuận lợi và khả năng gây ấn tượng mạnh mẽ với giới lãnh đạo tại Paris, đã được chọn thay thế.
Khi Napoleon tiếp nhận quyền chỉ huy, Tập đoàn quân Ý đang ở trong tình trạng kiệt quệ và thiếu thốn nghiêm trọng: binh sĩ thiếu lương thực, không được trả lương, và tinh thần sa sút trầm trọng. Trong con mắt của giới chỉ huy Pháp, đây chỉ là một mặt trận phụ, có nhiệm vụ đánh lạc hướng quân Áo để hỗ trợ chiến trường Đức. Thế nhưng, chính tại mặt trận “hạng hai” này, Napoleon Bonaparte sẽ làm nên một bước ngoặt lịch sử, biến chiến trường Ý thành trung tâm của toàn chiến dịch.
Tháng 3 năm 1796, Napoleon lên đường với 4 vạn quân và 60 khẩu đại bác, đối đầu với ông là 5 vạn liên quân Áo-Sardinia. Vận dụng nhuần nhuyễn lối đánh chiến tranh cơ động kết hợp với sống dựa vào vùng đất, quân đội của Napoleon hành quân thần tốc đến chiến trường, giành được chiến thắng liên tiếp và đến hết tháng 4, Napoleon đã loại Sardinia -, một đối thủ mà đã đeo bám nước Pháp được 3 năm đã bị loại ra khỏi vong chiến.
Sau chiến thắng tại Piedmont, Napoleon Bonaparte nhanh chóng hành quân ra sông Po và tiếp tục đánh bại quân Áo trong trận Lodi. Chiến thắng này giúp vị tướng trẻ kiểm soát toàn vùng Lombardy, chiếm được thành phố Milan giàu có, và bao vây được Mantua. Đây là thảm họa với bên Áo, vì từ góc nhìn của họ, Mantua là một trong bốn thành phố then chốt quyết định quyền kiểm soát miền Bắc nước Ý.
Tuy nhiên, đối thủ của Napoleon – đế quốc Áo – không hề dễ bị khuất phục. Trong suốt chiến dịch ở Ý, Áo đã gửi tới bốn đợt viện binh với mục tiêu giải vây cho thành Mantua.
Ở lần viện quân đầu tiên của Áo, Napolon giành được chiến thắng trước tướng Wurmser của Áo trong 2 trận Lonato và Castiglione, ép lão tướng Áo Wurmser phải rút quân lên dãy Alps. Lần thứ hai, Napoleon tiếp tục tấn công hậu quân Áo, cắt đường viện quân địch và ép Wurmser tiếp tục phải rút về thành Mantua. Lần thứ ba là lần khó khăn nhất - tướng Alvinczy bên Áo lúc này đã tổ chức đợt tiến công lớn lên quân Pháp, nhưng Napoleon đã quyết định đánh cược tấn cả bằng cách vòng ngược ra sau hậu quân của Alvinczy và giành được chiến thắng lớn trong trận Arcole. Đến lần thứ tư, Alvinczy lúc này đang ở dãy Alps ra lệnh tấn công lần cuối.
Trong trận Rivoli, mặc dù bị bao vây từ ba phía, nhưng Napoleon vẫn có thể điều quân nhuần nhuyễn để đập tan cánh quân Áo ở sau lưng rồi tiêu diệt trung quân Áo, qua đấy giành được thắng lợi sau cùng. Chỉ trong 1 năm, Napoleon đã bắt được gần 1 vạn tù binh Áo. Tổng thương vong của Áo và đồng minh trong chiến dịch Ý là 10 vạn quân, và cũng sau chiến dịch Ý mà Áo đã phải chấp nhận sẽ mất trắng vùng Lombardy và để các nước đồng minh bên Nam Ý về bên đất Áo. Một chiến thắng quá áp đảo của Napoleon.
1797: Chiến tranh kết thúc
Trên mặt trận biển, từ tháng 2 năm 1797, quân Anh đã giành chiến thắng trước đồng minh Tây Ban Nha của Pháp. Cơ hội để người Pháp đổ bộ lên đất Anh đã chấm dứt. Mặt khác, các cuộc nổi loạn thủy thủ lớn diễn ra khiến dân Anh không thể chiếm được bất kỳ vùng nào ở Pháp, nhiều tàu chiến bị giam trong cảng dẫn đến hải quân Pháp và Tây Ban Nha chiếm lại được ưu thế trên địa trung hải.
Ấy vậy mà vẫn có một sự kiện khá hi hữu là vào ngày 22 tháng 2, một đạo quân Pháp nhỏ bé mang tên Đạo Quân Đen đổ bộ vào bờ biển xứ Wales để mong kích động dân xứ này chống lại chính quyền Anh. Nhưng kế hoạch thất bại khi dân địa phương kháng cự dữ dội, quân dự bị Anh dưới quyền Lãnh chúa Cawdor nhanh chóng tập hợp 500 dân quân với thủy thủ để đánh Đạo Quân Đen. Sau một vài trận đụng độ, chỉ 2 ngày sau khi cập bến, 1 nghìn quân Pháp tuyên bố đầu hàng.
Đến giữa tháng 2 năm 1797, Napoleon ký Hiệp ước Tolentino, nhượng cho nước Pháp nhiều lãnh thổ cùng khoản chi phí chiến tranh khổng lồ. Hiện giờ đã rảnh tay, Napoleon cử tướng Joubert đánh vùng Tyrol để chặn đường phản công của Áo, trong khi ông dẫn quân sang đến Vienna. Cửa thắng cho quân Pháp đã đến gần.
Ở mặt trận nước Đức, hai tập đoàn quân Pháp do tướng Hoche (thay cho Jourdan) và tướng Moreau chỉ huy cùng vượt sông Rhine, mở lại chiến dịch tấn công quân Áo. Khi nghe tin quân Áo liên tiếp thất bại ở Ý, Đại công tước Charles buộc phải rút khỏi mặt trận Đức để trở về bảo vệ Vienna. Tuy nhiên, nỗ lực của ông đến quá muộn.
Tại sông Tagliamento – tuyến phòng thủ tự nhiên của Áo – Tướng Napoleon và Đại công tước Charles, hai chỉ huy giỏi nhất quân Pháp và quân Áo, và có lẽ là giỏi nhất trong cả lịch sử hai dân tộc lần đầu tiên đối đầu trực diện. Quân Pháp một lần nữa cho thấy sức mạnh và tinh thần chiến đấu vượt trội, khi vượt sông dưới làn đạn dữ dội, đánh tan quân địch và buộc Charles phải rút về Tarvis, đem đến cho ông những thất bại đầu tiên.
Trong ba ngày giao tranh liên tục tại đây, tướng Masséna – một trong những chỉ huy xuất sắc của Napoleon – truy kích và chặn đường rút của quân Áo, chiếm lại Tarvis, cắt đứt liên lạc giữa các cánh quân đối phương. Đến ngày 22 tháng 3, quân Pháp phản công toàn diện, chiếm được thị trấn và ép quân Áo phải đầu hàng. Sau chiến thắng ấy, Napoleon buộc Áo ký Hiệp ước Leoben, tạm thời chấm dứt chiến sự.
Trong lúc Napoleon tiến quân về phía Bắc, miền Veneto nổ ra cuộc khởi nghĩa “Phục sinh Verona” ngày 17 tháng 4 năm 1797, do người dân trung thành với Cộng hòa Venice nổi dậy chống lại sự chiếm đóng của Pháp. Tuy nhiên, cuộc nổi loạn nhanh chóng bị dập tắt, và toàn bộ miền Bắc Ý rơi vào tay Pháp.
Sau thất bại của quân Áo cùng các lực lượng nổi loạn, Liên minh Chống Pháp lần thứ Nhất coi như sụp đổ hoàn toàn. Tháng 10 năm 1797, hai bên ký Hiệp ước Campo Formio: Áo công nhận quyền kiểm soát của Pháp ở Ý và Hà Lan, đồng thời chia đôi lãnh thổ Venice. Cuộc Chiến tranh Liên minh Lần thứ Nhất chính thức kết thúc. Riêng cuộc chiến tranh Liên quân lần thứ hai bùng nổ khi Pháp đưa quân sang xâm lược Ai Cập, nhằm ngăn chặn ảnh hưởng và con đường thương mại của Anh tới Ấn Độ. Hành động này khiến các cường quốc châu Âu lo ngại trước tham vọng bành trướng của nước Pháp Cách Mạng một lần nữa. Trong lúc tướng Napoleon còn ở Ai Cập, các nước quân chủ châu Âu — đặc biệt là Đế quốc La Mã Thần thánh — tin rằng đây là cơ hội thuận lợi để đánh bại nước Pháp. Và như thế, cuộc Chiến tranh Liên quân lần thứ hai chính thức bắt đầu.
1799: Hỗn loạn
Dù bên đất lục địa vẫn đang diễn ra hết sức phức tạp, tình hình ở Ai Cập ban đầu vẫn khá thuận lợi cho Napoleon. Sau khi chiếm được toàn bộ vùng đất này và giành thắng lợi lớn trong Trận Kim Tự Tháp, ông dự định mở rộng chiến dịch lên Syria để tiếp tục chinh phục. Tuy nhiên, cuộc hành quân kéo dài, cùng với sự kháng cự quyết liệt của quân Ottoman và người Anh, đã khiến kế hoạch của Napoleon thất bại hoàn toàn, buộc ông phải rút quân trở lại Ai Cập.

Không lâu sau, hạm đội Anh do đô đốc Horatio Nelson chỉ huy đã phát hiện và tiêu diệt toàn bộ hạm đội Pháp đang neo đậu ở sông Nile, bất chấp việc Napoleon đã ra những mệnh lệnh cẩn thận nhằm tránh giao chiến trực diện với hải quân Anh và bảo toàn hạm đội Pháp.
Nhận thấy tình hình ngày càng tồi tệ cho mình, Napoleon cùng một nhóm sĩ quan thân cận bí mật rời Ai Cập bằng thuyền nhỏ để trở về Pháp, bỏ lại phần lớn quân Pháp tiếp tục chiến đấu trong vô vọng. Số quân này sẽ trụ lại thêm một thời gian trước khi đầu hàng. Trong khi đó, Napoleon khi về đến Pháp đã nhanh chóng lợi dụng cơ hội chính trị, liên kết với các đồng minh để lật đổ chính quyền hiện tại và thiết lập chế độ Tổng Tài.
Tại Hà Lan, Liên Quân bắt đầu dẫn quân tấn công Cộng Hòa Batavia và bước đầu chiếm được hạm đội của người Hà Lan. Nhưng quân Pháp dưới quyền chỉ đạo của tướng Brune đã giành được chiến thắng quyết định với Liên Quân trong trận Castrium. Tại đây, nhờ vào địa hình đầm lầy và sự kiên trì mà Brune đã đánh bại 4 vạn Liên Quân, chiến thắng này kết hợp với hiệp ước Alkmaar vào tháng 10 năm đấy đã giải cứu mặt trận Hà Lan của Pháp.
Chiến sự năm 1799 ghi dấu một trong những mặt trận quyết liệt và kịch tính nhất tại nước Ý, nơi quân đội Nga Hoàng dưới quyền Đại Nguyên soái Aleksandr Suvorov tiến vào hỗ trợ đồng minh Áo chống lại Cộng hòa Pháp.
Tháng 1 năm 1799, trong khi quân Pháp vẫn đang mải truy kích quân Naples tại Rome, họ không hề nhận ra mối đe dọa đang dần hình thành ở phía bắc. Đến tháng 4, hai bên lần đầu đụng độ tại trận Cassano, và ở đây, Suvorov đã chứng tỏ trình độ thiên tài quân sự cùng kinh nghiệm cầm quân của mình khi quân Nga đánh tan tác đội quân Pháp hết trận này đến trận khác.
Nguyên nhân cho chiến thắng kiệt xuất của Suvorov đến từ cách ông sử dụng chiến thuật khác thường so với chuẩn mực châu Âu thời bấy giờ. Thay vì phụ thuộc vào hỏa lực pháo binh, Suvorov chú trọng vào tinh thần xung kích và sĩ khí trên chiến trường. Điều này càng được củng cố hơn nữa bởi tinh thần vì lính quên thân của Suvorov, bất chấp tuổi đã cao nhưng ông vẫn ăn nằm bên cạnh quân lính, sẵn sàng chia ngọt sẻ bùi với họ. Dưới mệnh lệnh của vị Đại Thống chế, các binh sĩ Nga xông lên bằng lưỡi lê, chiến đấu trong cự ly gần với khí thế mãnh liệt, tạo nên cú sốc tâm lý nặng nề cho đối phương. Chỉ trong vòng một tháng, ông chiếm được Milan và Turin, củng cố hoàn toàn quyền kiểm soát ở miền Bắc Ý. Đến tháng 6, Suvorov lại đối đầu với Tập đoàn quân Naples, tiếp tục chuỗi chiến thắng bằng trận Trebbia, nơi ông đánh vòng vào hậu quân Pháp, gây ra khoảng 20.000 thương vong. Đỉnh điểm của chiến dịch là trận Novi, khi quân Nga hạ sát tướng chỉ huy Pháp Joubert ngay trong giao tranh, khiến hàng ngũ địch hoàn toàn rối loạn. Chỉ 3 tháng, Suvorov đã gây đến hàng vạn thương vong và xóa sổ hoàn toàn thành quả của Napoleon suốt 1 năm tại Bắc Ý và tiêu diệt được. Chiến thắng này cũng giúp Suvorov cùng Đại công tước Charles được người dân Pháp công nhận là hai kẻ thù đáng sợ và tồi tệ nhất mà họ từng phải đối mặt.
Sau chiến thắng, Suvorov cùng quân Nga rút về đất Thụy Sĩ thay vì khai thác triệt để chiến thắng của mình trên đất Ý. Điều này có lẽ đến từ mối quan hệ xấu dần giữa các thành viên của Liên Quân và Sa Hoàng. Dù điều gì đã xảy ra, quyết định của Suvorov ngày hôm đấy đến giờ vẫn luôn được xem là bước ngoặt chấm dứt vai trò chủ động của phe Liên Quân và cũng mở đường cho sự trở lại đầy ngoạn mục của Napoleon chỉ vài tháng sau đó.
Ở bên Đức, cả 3 Tập đoàn quân - Tập đoàn quân Danube, Tập đoàn quân Mayence và Tập đoàn quân Phương Bắc của quân Pháp cũng chẳng khá khẩm hơn so với mặt trận Ý. Ban đầu, dưới quyền chỉ huy của tướng Jourdan, Tập đoàn quân Danube bắt đầu chia thành 4 cánh để tiến qua Rừng Đen rồi đối đầu với quân của Đại công tước Charles. Jourdan lúc này đã cử gián điệp Pháp vào bên trong Đức để dò được tin tức về chiến lược quân của Charles. Điều này cộng thêm với điều kiện khí hậu thuận lợi có lẽ là điều giúp Jourdan đủ tự tin để đối đầu với quân Áo. Tuy nhiên, điều ông không ngờ được là Charles cũng có nội gián bên trong quân đội Pháp, quân Áo đều được tổ chức tương đối tốt và địa hình lúc này đã quá lý tưởng để quân Áo có thể vượt sông Lech và giành thế chủ động đánh địch.
Tháng 3 năm 1799, quân Pháp đụng độ với quân Áo lần đầu tiên ở Ostrach, nam Đức. Do sương mù và địa hình lầy lội, đã có những cuộc chạm trán lẻ tẻ – chủ yếu là các cuộc đụng độ tiền tuyến giữa hai bên. Nhưng đến Ostrach, Jourdan không ngờ nổi tập đoàn quân của Charles có đến 6 vạn quân đang đón đánh mình.
Jourdan còn đánh giá thấp tốc độ hành quân và quân số của Đại công tước Charles, điều này cộng thêm với sương mù dày đặc đã giúp Đại công tước Charles không chỉ phản công quân Pháp trên mọi tuyến mà còn đánh thọc sườn trái quân Pháp, gây đến 6000 thương vong. Quân Pháp mất quyền chủ động miền Thượng Đức, điều này càng tồi tệ hơn nữa khi quân Pháp đang phải dàn trải trên một phòng tuyến hằng trăm dặm và quân số thua thiệt với bên Áo. Sau khi thua tại Ostrach, tướng Jourdan rút quân Pháp về phía tây để tái lập phòng tuyến quanh thị trấn Stockach và Engen, nằm giữa hồ Constance và rừng Đen. Mục đích của ông lúc này có lẽ là để tiến hành phòng tuyến để chiến đấu. Nhưng Charles, đã hiểu rõ được số lượng quân số của Jourdan và điểm yếu trong thế trận của quân Pháp, đã dẫn toàn quân dến đánh địch tại trong trận Stokach.

Tại Stockach, quân Pháp tập trung lực lượng thành các tuyến ngắn hơn, hai bên giao tranh ác liệt với quân Áo, nhưng Charles đã chia quân thành 3 cánh quân để ghim chặt cánh trái và cánh phải của quân Áo lại, để rồi từ từ tung ra đòn quyết định vào trung quân Pháp. Khi một lực lượng nhỏ của quân Pháp tách ra suýt nữa đánh úp được quân Áo, Charles đã can thiệp kịp thời để giúp quân Áo có thời gian chờ quân tiếp viện đến. Cuối cùng, hỏa lực và kỵ binh Áo đã đẩy lùi quân Pháp về sông Rhine. Tướng Jourdan, trong khi cố gắng tập hợp binh lính, đã suýt bị giẫm đạp đến chết và sau đó phải về Paris vì vấn đề sức khỏe; nhưng ông vẫn không quên chỉ đạo quân lính về Rừng Đen để tiếp tục chiến tranh tại đây.
Một cánh quân Pháp ở Đức sau đó được điều chuyển đến Tập đoàn quân Helvetia của tướng Massena, và với việc Jourdan bị thương, Massena giờ đã trở thành thống lĩnh mặt trận Đức. Lo ngại về nguy cơ áp đảo quân số, Massena cử tướng Ney đến để trấn thủ trục đường Winterthur - giống như trục đường Charleroi với đất Bỉ, trục đường Winterthur cũng là tuyến phòng thủ tối quan trọng để quân Pháp có thể ngăn cách được ba cánh quân Áo tập hợp lại với nhau. Nhưng quân số ít ỏi của tướng Ney lại Winterthur đã chứng tỏ là không đủ, và quân Pháp sau đó đã bị quân Áo đánh bật khỏi thị trấn. Quân Áo giờ đã có thể tập hợp quanh Zurich, dần dần bao vây Tập đoàn quân Danube và Thụy Sĩ của Massena.

Sau một vài cuộc đụng độ nhỏ, nhận thấy giữ Zurich cũng chẳng có tác dụng gì mà còn mất nhiều quân hơn, Massena chủ động dẫn toàn quân rút lui chiến thuật đi để chờ thời cơ chiếm lại đất Thụy Sĩ. Mùa hè năm đó, đại công tước Charles cũng tạm rời khỏi đất Alps để chuẩn bị cho chiến trường Đức, để lại Alexander Korsakov, một vị chỉ huy Nga thiếu kinh nghiệm cầm quân chỉ việc. Trong lúc Suvorov còn đang vượt dãy Alps, Massena sau khi tái tổ chức quân đội đã chớp lấy cơ hội trời cho: Với việc lực lượng Áo–Nga đang chia tách và chưa hợp nhất, quân Pháp sau khi được nghỉ ngơi và huấn luyện sẽ chiếm được Zurich và chia cắt cả cánh quân Nga-Áo, khôi phục trục đường Đức - Ý.

Ngày 25 tháng 9, Massena thực hiện một cuộc vượt sông bất ngờ. Dưới màn sương dày đặc, ông chỉ đạo quân Pháp vượt sông Limmat, chiếm đầu cầu và mở rộng khu vực sang cánh phải. Quân Pháp đánh bật hoàn toàn quân Nga khỏi các vị trí phòng thủ bên kia sông, trong khi cánh quân Áo ở Zurich bị tấn công từ phía nam, quân Pháp phục kích và giết chết tướng chỉ huy quân Áo. Dọc hết ngày 26, Massena cùng quân Pháp truy kích liên tục quân Nga - Áo. Chiến thắng Zurich không chỉ giành lại thế chủ động về cho quân Pháp mà còn đe dọa đến cánh quân của Suvorov, trên thực tế đến tháng 10 quân của Suvorov với kịp đến viện trợ trong tình trạng chết đói và mỏi mệt. Điều này cho phép quân Pháp ép quân Nga phải tháo chạy dù Suvorov vẫn có thể gây ra các tổn thất đáng kể đến quân Pháp. Nhưng lấy, Massena không chỉ gây ra tổn thất lớn với hai cánh quân của Nga mà còn khiến Sa Hoàng nản chí với chiến tranh với Pháp. Cuối năm 1799, Nga rút khỏi Liên Quân.
1800: Chiến thắng
Năm 1799, Napoleon lật đổ thành công chính quyền Đốc chính và trở thành Tổng tài của nước Pháp. Ông bắt đầu xây dựng Tập đoàn quân mới - Tập đoàn quân Dự bị tại Dijon để hỗ trợ cho chiến trường Đức, nhưng khi biết được tin tức này, Moreau đã từ chối để viện quân Napoleon sang chiến trường Đức mà thay vào đó sẽ tự thân đối đầu với Đại công tước Charles. Trong khi đó, Massena cùng quân Pháp đang bị bao vây tại Genoa bởi quân Áo cùng Hải quân Hoàng gia Anh. Napoleon lúc này đã thực hiện điều không tưởng - ông sẽ dẫn quân vượt qua dãy Alp và đánh vào hậu quân Áo, gây bất ngờ cho kẻ địch và giải cứu Massena ở chiến trường Ý. Tuy vậy, sự ngoan cường của lính Piedmont tại tiền đồn Bard đã giúp quân Áo có 2 tuần để biết được về kế hoạch tấn công bất ngờ của Napoleon.
Sau khi đến Alps, Napoleon chủ động đến Milan và bắt đầu phá hoại các tuyến liên lạc của quân Áo, cũng như tìm kiếm vị trí phòng thủ tại Stradella. Mục đích của Napoleon là để quân Áo đến tấn công trước rồi bắt đầu phản công. Tuy vậy, Napoleon đã yêu cầu quá nhiều ở Massena. Sau nhiều tháng vây thành mà không được giải vây, Massena chủ động đầu hàng với quân Áo để cùng tàn quân về Pháp. Với việc quân Áo giờ đã chiếm được Genoa và có thể được hải quân Anh tiếp tế qua đường biển, Napoleon buộc phải tấn công trước. Nhưng Tổng tài Pháp vẫn kiêu ngạo rằng quân Áo vẫn đang định rút quân, nên đã gửi một cánh quân khác để chặn đường rút lui của quân Áo. Điều này đã khiến Napoleon phải trả một cái giá đắt khi quân Áo, đông hơn hẳn quân Pháp về số lượng bắt đầu tiến hành đập tan quân Pháp. May mắn thay, sự trở lại của một cánh quân Pháp đã giúp Napoleon đã có thời gian cần thiết để tổ chức phản công và đem đến chiến thắng quân Pháp tại Marengo.

Moreau - một trong các tướng quân Pháp nổi bật nhất
Trên mặt trận Đức, 12 vạn quân Áo cùng các đồng minh án ngữ dọc sông Rhine, trong khi Tướng Moreau chỉ huy 11 vạn quân Pháp chuẩn bị mở cuộc vượt sông táo bạo. Dù nhận được chỉ thị chiến lược từ Napoleon, Moreau đã tự vạch ra một kế hoạch riêng, chi tiết và linh hoạt hơn, nhằm đánh lạc hướng đối phương và khai thác triệt để sai lầm chiến thuật của quân Áo.
Rút kinh nghiệm từ chiến dịch năm 1796, ông liên tục điều động quân cơ động, thay đổi vị trí tấn công theo hướng di chuyển của đối phương. Khi thì đánh thọc sườn, khi thì bao vây cánh phải, hoặc ép quân Áo phải chia nhỏ lực lượng đối phó, khiến chúng không thể tập trung binh lực cho một trận đánh quyết định mà phải sa vào chuỗi giao tranh nhỏ lẻ và tiêu hao dần sức mạnh.
Trận Engen là cuộc chạm trán lớn đầu tiên giữa hai bên, với thiệt hại nặng nề cho cả Pháp lẫn Áo. Tuy nhiên, một đơn vị viện binh do Napoleon cử đến đã kịp thời chiếm giữ Stokach, trung tâm tiếp tế chủ chốt của quân Áo, khiến toàn bộ tuyến hậu cần của đối phương bị tê liệt.
Tình thế đó buộc quân Áo phải rút lui liên tiếp, và họ tiếp tục chuốc lấy các thất bại lớn tại Biberach an der Riß và Höchstädt. Những thắng lợi nối tiếp này đã củng cố vững chắc vị thế của Moreau trên chiến trường Đức và mở đường cho chiến thắng quyết định của nước Pháp trong Chiến tranh Liên minh lần thứ Hai.
Sau nhiều tháng củng cố lực lượng, quân Pháp mở lại chiến dịch tấn công quân Áo, lần này dưới quyền chỉ huy của Đại công tước John. Dù quân số ít hơn đáng kể, Tướng Moreau đã lợi dụng thế tấn công quân Áo để chọn chiến địa là vùng rừng Hoheliden, nơi địa hình bùn lầy và rậm rạp sẽ làm giảm ưu thế của quân Áo. Thuận lợi hơn nữa là người em trai Đại công tước Charles, Đại công tước John không hề có kinh nghiệm thực chiến và lúc tiến vào rừng đã ra lệnh quân Áo tách thành 4 cánh để dễ bề di chuyển.
Tận dụng lợi thế đó, Moreau bố trí quân Pháp khéo léo, với cánh trái ẩn trong rừng, sẵn sàng đánh thọc vào sườn phải quân Áo rồi hậu quân Áo để chặn đường rút quân của họ khi cần thiết trong khi các cánh quân còn lại cố thủ tại Hohenlinden để từ từ dẫn quân Áo vào cái bẫy mà Moreau đặt ra. Khi chiến đấu bùng nổ, bốn đạo quân Áo phải di chuyển rời rạc qua địa hình hiểm trở, khiến đội hình bị kéo giãn và chia cắt, tạo điều kiện để quân Pháp chia cắt và tiêu diệt hoàn toàn quân Áo.
Chiến thắng này của Moreau trên mặt trận sông Rhine, cùng với thắng lợi quyết định của Napoleon tại Ý, đã kết thúc Chiến tranh Liên Quân lần thứ Hai với ưu thế hoàn toàn nghiêng về nước Pháp. Đây cũng là thời khắc khẳng định vị thế bá quyền của nền Cộng hòa Pháp tại châu Âu, và đặt nền móng cho thời kỳ Đế chế Napoléon sắp tới.
1801: Phần kết
Vào tháng 1 năm 1801, nước Áo buộc phải ký Hòa ước Treviso, đánh dấu sự sụp đổ của sức kháng cự cuối cùng trên mặt trận lục địa. Chỉ một tháng sau, vào tháng 2 năm 1801, hai bên tiếp tục ký Hiệp ước Lunéville, chính thức chấm dứt chiến tranh giữa Pháp và Áo. Tuy nhiên, Vương quốc Anh, kẻ thù kiên định và nguy hiểm nhất của nước Pháp, vẫn tiếp tục chiến đấu.
Anh áp dụng chiến lược phong tỏa hải quân, cắt đứt mọi tuyến thương mại của Pháp qua biển. Chính sách này lại vô tình gây phản ứng mạnh trong khu vực biển Baltic, khiến Nga cùng các nước Bắc Âu thành lập Liên minh trung lập vũ trang, nhằm bảo vệ quyền tự do hàng hải và chống lại ảnh hưởng của Anh. Trước mối đe dọa đó, hải quân Anh đã tấn công Copenhagen, thiêu rụi hạm đội Đan Mạch trong năm 1801 để ngăn Pháp tận dụng sức mạnh hải quân khu vực.
Cũng trong thời gian này, Pháp mở chiến dịch viễn chinh tới thuộc địa Haiti, với mục tiêu khôi phục quyền kiểm soát vùng đất từng mang lại nguồn lợi khổng lồ cho họ. Tuy nhiên, chiến dịch này thất bại nặng nề với rất nhiều binh lính dày dặn kinh nghiệm giết chết do khí hậu khắc nghiệt, bệnh tật, và sự kháng cự quyết liệt của người bản địa.
Đến cuối năm 1801, cả Anh lẫn Pháp đều kiệt quệ vì chiến tranh. Cuối cùng, vào ngày 25 tháng 3 năm 1802, hai nước ký kết Hiệp ước Amiens, mang lại một thời kỳ hòa bình ngắn ngủi cho châu Âu. Chiến tranh Liên minh lần thứ hai chính thức khép lại, cũng như thời kỳ Cách mạng Pháp. Từ đây, một kỷ nguyên mới mở ra – Thời đại của Napoleon, khi nước Pháp bước vào giai đoạn chinh phục và cải cách vĩ đại dưới bàn tay của vị Tổng tài trẻ tuổi - hay là Hoàng đế tương lai.

Lịch sử
/lich-su
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

















