Bruce M. Lockhart
Bản đồ về quá trình chinh phục của Pháp ở tại Đông Dương (1862 - 1907)
Bản đồ về quá trình chinh phục của Pháp ở tại Đông Dương (1862 - 1907)
Cuộc xâm chiếm thuộc địa của Pháp đối với các lãnh thổ khác nhau mà sau này hợp thành Đông Dương thuộc Pháp là sự kết hợp giữa một loạt các chiến dịch quân sự và các nghị định thư ngoại giao. Mặc dù các hiệp ước này - ít nhất là về mặt lý thuyết - đại diện cho những thỏa thuận giữa các quốc gia có chủ quyền, nhưng chúng lại được ký kết trong một khuôn khổ địa - chính trị dựa trên nhiều yếu tố hơn là chỉ riêng khái niệm chủ quyền như được hiểu ở phương Tây. Mỗi quốc gia rơi vào sự kiểm soát của Pháp -Việt Nam, Campuchia và các vương quốc Lào - đều trước đó từng chịu sự lệ thuộc vào một hoặc nhiều thế lực bá chủ hay thượng quốc. Pháp không thể phớt lờ các mối quan hệ bá chủ – triều cống này và hiểu rất rõ rằng họ sẽ phải vô hiệu hóa chúng để duy trì quyền lực không bị thách thức đối với các “xứ bảo hộ” mới giành được. Do đó, Pháp tìm cách loại bỏ chế độ bá chủ của Xiêm đối với Campuchia và chấm dứt mối quan hệ triều cống kéo dài hàng thế kỷ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, đồng thời, Pháp lại sử dụng các tuyên bố của Việt Nam về quyền thượng quốc tại Campuchia và các vùng đất Lào để biện minh cho việc thôn tính những lãnh thổ này.
Thongchai Winichakul, trong công trình kinh điển Siam Mapped, đã chỉ ra cách các khái niệm chủ quyền của phương Tây tương tác và xung đột với các quan niệm về bá chủ ở Đông Nam Á.¹ Nghiên cứu của ông có đề cập đến các yêu sách của Pháp đối với Campuchia và Lào nhưng chủ yếu tập trung vào người Anh. Thongchai khéo léo cho thấy Xiêm đã vượt qua sự thiếu hiểu biết ban đầu về cách người Anh diễn giải biên giới và chủ quyền lãnh thổ để chủ động can dự với cả Anh lẫn Pháp trong cuộc cạnh tranh giành quyền kiểm soát lục địa Đông Nam Á. Trong khi phần lớn phạm vi ảnh hưởng của Xiêm ở phía đông cuối cùng rơi vào tay Pháp, thì ở phía nam Xiêm đạt được thành công tương đối lớn hơn, khi “mất” một số quốc gia triều cống vào tay Malaya thuộc Anh nhưng vẫn giữ được những khu vực từng thuộc vương quốc Mã Lai Pattani và vào thời điểm đó nằm dưới sự cai trị trực tiếp hơn của Xiêm.
Thongchai cung cấp một tường thuật xuất sắc về cách tầng lớp tinh hoa Xiêm đã thành công trong việc chuyển hóa chế độ bá quyền truyền thống của châu Á thành chủ quyền theo kiểu phương Tây đối với phần lãnh thổ còn lại của mình, từ đó hình thành quốc gia - dân tộc mà ngày nay chúng ta gọi là Thái Lan. Nghiên cứu hiện tại sẽ tập trung vào mặt còn lại của câu chuyện, nhằm xem xét các cách diễn giải của Pháp về chế độ bá quyền - của Xiêm, Trung Quốc và Việt Nam - như một bộ phận trong chiến lược thực dân hóa của họ. Ba giai đoạn trong tiến trình xâm chiếm Đông Dương sẽ được khảo cứu: Campuchia (1856–67), Việt Nam (1874–85) và Lào (1865–93).

Chủ quyền và chế độ bá chủ

Bản đồ về Xiêm (màu đỏ) và Đại Nam (màu tím) cùng các vùng ảnh hưởng của mình năm 1821. (Nguồn: The Dragon Historian)
Bản đồ về Xiêm (màu đỏ) và Đại Nam (màu tím) cùng các vùng ảnh hưởng của mình năm 1821. (Nguồn: The Dragon Historian)
Nghiên cứu của Thongchai dựa trên “sự đối đầu giữa quan hệ triều cống bản địa và quan điểm duy lý của châu Âu về quan hệ quốc tế hiện đại”, cũng như “một dạng địa lý chính trị mới, trong đó không cho phép biên giới chồng lấn [tức là đường biên] hay chủ quyền đa tầng”, qua đó thực chất tạo ra “một dạng chủ quyền mới trong một thực thể mới.”² Việc ông sử dụng các thuật ngữ “chủ quyền” (sovereignty), “bá chủ” (suzerainty) và “thượng quốc” (overlordship) trong bối cảnh Đông Nam Á có phần linh hoạt; các thuật ngữ này xuất hiện gần như thay thế cho nhau để mô tả mối quan hệ mà Xiêm duy trì với các quốc gia triều thuộc của mình. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không tồn tại một mô hình chung “một cỡ cho tất cả” cho mối quan hệ giữa một trung tâm quyền lực ở Đông Nam Á và các vùng ngoại vi của nó. Như Thongchai chỉ ra, người Thái sử dụng thuật ngữ “muang” cho những đơn vị mà ngày nay có thể được xem là “thị trấn/thành phố”, “tỉnh”, thậm chí cả “vương quốc”,³ nhưng điều đó không có nghĩa là Xiêm không phân biệt giữa các loại hình khác nhau này. Chỉ một số muang nhất định (Campuchia và các quốc gia Lào và Mã Lai) mới là prathetsarat, tức các nước triều thuộc hay chư hầu có vua riêng và cống nạp theo chu kỳ ít nhiều đều đặn. Những muang khác có địa vị thấp hơn, hưởng quyền tự trị ít hơn đáng kể và gần với các tỉnh hơn nhiều. Chẳng hạn, Sukhothai, dù từng là một vương quốc độc lập, đến thế kỷ XIX đã trở thành một trong nhiều muang cấp tỉnh và chắc chắn không còn là một prathetsarat.⁴
Người Việt Nam cũng đưa ra những phân biệt tương tự. Hạt nhân của chính thể Việt Nam chủ yếu - dù không hoàn toàn - do người Việt cư trú và được tổ chức theo một hệ thống phân cấp gồm các tỉnh (省), phủ (府) và huyện (縣), một hệ thống vay mượn từ Trung Quốc. (Từng là một bộ phận của đế quốc Trung Hoa trong khoảng một thiên niên kỷ, người Việt tiếp tục tiếp thu các ý tưởng và thể chế từ Trung Quốc trong suốt nhiều thế kỷ độc lập của mình.) Ở vành đai ngoại vi của hạt nhân này, tại các vùng cao nguyên, là các châu (州), một dạng “đơn vị hành chính mang tính danh nghĩa” (theo nghĩa là quyền lực trung ương ở đó phần lớn chỉ mang tính biểu tượng và mức độ tồn tại thực sự của chúng như một đơn vị hành chính là điều đáng nghi ngờ), nơi cư dân không phải là người Việt và được cai trị bởi các thủ lĩnh cha truyền con nối chứ không phải bởi các quan lại Việt Nam. (Tại Trung Quốc, thuật ngữ chính thức dùng cho những nơi như vậy là 羁縻州 [jimizhou, tiếng Việt: ki mi châu]; thuật ngữ này đôi khi cũng được sử dụng ở Việt Nam.
Các bộ chính sử Việt Nam thường xuyên ghi chép về các sứ bộ “triều cống” (cống 貢) từ các nước láng giềng trong nhiều thế kỷ, đặc biệt là từ Champa và Campuchia thời Angkor. Ít nhất trong một số trường hợp, nhiều khả năng đây chỉ là một thủ pháp tu từ cho phép Việt Nam tự nhìn nhận mình như một thượng quốc tương tự Trung Quốc, dù ở quy mô nhỏ hơn. Tuy nhiên, đến thế kỷ XIX, Việt Nam đã có những quốc gia triều thuộc thực sự (thuộc quốc), cụ thể là Campuchia, Viên Chăng và Luang Phabang. Vương quốc Lào trước đây là Lan Xang đã bị phân rã thành nhiều phần vào khoảng năm 1700, để lại một số chính thể nhỏ bé và yếu ớt, dễ bị ảnh hưởng bởi cả Xiêm lẫn Việt Nam. Campuchia, từ thế kỷ XVII, trên thực tế đã bị kẹt giữa hai quốc gia láng giềng hùng mạnh này.
Dựa trên những phân biệt này, có thể lập luận rằng ngay trong các hệ thống chính trị Đông Nam Á cũng tồn tại một dạng quan hệ tương ứng gần hơn với “chủ quyền” theo nghĩa là sự kiểm soát lãnh thổ trực tiếp của một quyền lực duy nhất, đối lập với “chế độ bá chủ”, tức một hình thức thượng quyền mang tính gián tiếp và biểu tượng hơn, thậm chí có thể được chia sẻ bởi hai hay nhiều thế lực, như trường hợp của Xiêm và Việt Nam đối với Campuchia. Mặc dù trước khi các thuật ngữ mới cho “chủ quyền” và “bá chủ” được hình thành trong thời kỳ cận - hiện đại, dường như không thể diễn đạt sự phân biệt này một cách ngôn ngữ học trong cả tiếng Thái lẫn tiếng Trung/Việt, nhưng sự khác biệt đó vẫn tồn tại trên thực tế. Trong nhận thức của Bangkok, Sukhothai chịu sự cai trị trực tiếp hơn nhiều so với Luang Phabang; và đối với triều đình Nguyễn ở Huế, ngay cả một “tỉnh” xa xôi và có thành phần sắc tộc đa dạng như Cao Bằng vẫn mang một địa vị hoàn toàn khác so với một “nước triều thuộc” như Campuchia.
Có thể thấy rõ rằng sự phân biệt này không hoàn toàn bị người Anh và người Pháp bỏ qua; họ có thể, ở mức độ nhất định, phân biệt được giữa các tỉnh bị cai trị trực tiếp và các vương quốc có mức độ tự trị cao hơn, nằm dưới chế độ bá chủ của một láng giềng hùng mạnh hơn. Thách thức đối với họ, như Thongchai bàn luận, nằm ở chỗ phải diễn giải chế độ bá quyền đó như thế nào và những hệ quả của nó đối với chương trình bành trướng của họ. Tường thuật của ông cho thấy rằng trên bán đảo Mã Lai, người Anh đã đi đến một sự hiểu biết tương đối chính xác về các mối liên hệ của Xiêm với các quốc gia Mã Lai phía bắc (Kedah, Kelantan và Terengganu), vốn là các chư hầu hay nước triều thuộc của Xiêm. Trong nhiều thập niên mở rộng ra ngoài các Khu định cư Eo biển ban đầu, Anh dần dần thay thế các mối quan hệ này mà không trực tiếp tấn công chúng, cho đến khi Hiệp ước Anh–Xiêm năm 1909 (thiết lập đường biên giới cố định giữa Xiêm và Malaya thuộc Anh) chính thức đặt dấu chấm hết cho chúng - điều này diễn ra không chỉ vì các hành động trực tiếp của Anh, mà còn do sự thay đổi trong cách Xiêm nhìn nhận lợi ích và ưu tiên của mình tại khu vực đó.⁵ Trái lại, Pháp đã áp dụng một lập trường quyết liệt hơn nhiều đối với các quan hệ bá chủ - chư hầu tại những lãnh thổ mà họ tìm cách chinh phục; và chính câu chuyện đó sẽ là nội dung mà chúng ta chuyển sang xem xét tiếp theo.

Campuchia, 1856–67

Tại châu Á, trên một mức độ lớn, Pháp đang ở vào thế “chạy theo” Anh, quốc gia mà đến giữa thế kỷ XIX đã kiểm soát phần lớn Ấn Độ và hơn một nửa Miến Điện, cùng với các thuộc địa tại các Khu định cư Eo biển. Trái lại, Pháp chỉ có một vài cảng rải rác ở Ấn Độ và đang khao khát mở rộng ảnh hưởng cũng như lãnh thổ tại những khu vực mà người Anh chưa vươn tới. Nỗ lực đầu tiên nhằm thiết lập một vị thế chính thức của Pháp tại Campuchia diễn ra vào năm 1856 với nhà ngoại giao Charles de Montigny, người vừa đàm phán thành công một hiệp ước với triều đình Xiêm, đặt nền tảng cho quan hệ ngoại giao và thương mại, đồng thời bảo đảm quyền tự do hoạt động cho các nhà truyền giáo. Sau đó, de Montigny lên đường sang Campuchia (trên đường tới Việt Nam, nơi ông hy vọng có thể ký kết một hiệp ước tương tự), được khích lệ bởi Giám mục Jean-Claude Miche, một nhà truyền giáo đã gắn bó lâu dài với người Campuchia. (Các nhà truyền giáo Pháp không hiếm khi hỗ trợ các đại diện của quốc gia mình trong việc tiếp xúc với các nhà cai trị tại những vùng đất nơi họ đang hoạt động.) Miche khuyến khích de Montigny tin rằng vua Ang Duong (trị vì 1841–44, 1845–60) sẽ hoan nghênh sự hiện diện và thiện chí của ông nhân danh Đế quốc Pháp.⁶ Vào thời điểm này, cả de Montigny lẫn cấp trên của ông tại Paris đều chưa có ý định thiết lập một chế độ bảo hộ tại Campuchia, mặc dù chỉ vài tháng sau đó, trong thư từ riêng gửi về, ông đã trình bày tầm nhìn của mình về vai trò của Pháp tại Đông Nam Á:
Vai trò tự nhiên của Pháp—một vai trò vĩ đại, cao cả và xứng đáng với Pháp—là vai trò của người Bảo hộ, không chỉ tại Xiêm và Lào, mà còn trên toàn bộ các vùng đất giàu có và rộng lớn trải dài từ Ấn Độ thuộc Anh cho đến tận Trung Quốc… Miến Điện, Xiêm và Lào, Campuchia, Cochinchina và Tonkin. Có thể dễ dàng dự đoán rằng…nếu chính phủ hoàng đế [tại Paris] mong muốn, Pháp sẽ thực thi sự bảo hộ mang tính chủ quyền đối với tất cả các vương quốc này, ngay khi các thỏa thuận với các quốc gia châu Âu [khác] tại đây được hoàn tất, bởi lẽ vào thời điểm đó—và có lẽ thậm chí sớm hơn trong một tương lai không xa—những nỗ lực xâm lược [của các cường quốc khác] sẽ gia tăng, điều từ lâu đã được các nhà cai trị [bản địa] dự liệu và lo ngại, để rồi Pháp sẽ trở thành và tiếp tục là một trọng tài hào hiệp và một người bảo đảm hùng mạnh đốivới họ.⁷
Tầm nhìn đầy hùng biện của de Montigny không giải thích được bằng cách nào sự bảo hộ của Pháp đối với Miến Điện có thể đạt được, khi phần lớn lãnh thổ nước này đã nằm dưới ách thuộc địa của Anh; có lẽ, theo ông, người Anh sẽ lịch thiệp rút lui để nhường chỗ cho sự cao cả và vĩ đại của Pháp! Dù sao đi nữa, ưu tiên trước mắt của ông là giành được một chỗ đứng tại Campuchia, và ông quyết định “đánh thẳng vào vấn đề” bằng cách soạn thảo một hiệp ước theo khuôn mẫu hiệp ước mà ông vừa đàm phán tại Bangkok. Tuy nhiên, hiệp ước này đã không được phê chuẩn, do sự kết hợp giữa việc ông xử lý nghi thức ngoại giao khá vụng về trong các cuộc tiếp xúc với người Campuchia và sức ép của Xiêm buộc Ang Duong không ký kết hiệp ước. Sự hiểu biết của de Montigny về mối quan hệ giữa Campuchia và Bangkok còn rất hạn chế. Ông thừa nhận chế độ bá quyền của Xiêm và còn đích thân tái khẳng định điều đó bằng văn bản với vua Mongkut (trị vì 1851–68), nhưng bằng cách nào đó vẫn tin rằng điều này hoàn toàn không cản trở quyền của Ang Duong trong việc ký kết một hiệp ước với một cường quốc bên ngoài.⁸ Trong các chỉ thị gửi cho một nhà truyền giáo trẻ được giao nhiệm vụ giải thích hiệp ước cho nhà vua Campuchia (trong khi de Montigny và Miche đã rời đi Việt Nam), ông đưa ra lời giải thích sau:
Vua Campuchia không cần phải lo lắng về ảnh hưởng mà hiệp ước thương mại mà ông ký với Pháp… có thể gây ra đối với Xiêm. Vượt lên trên tính chất hoàn toàn hợp pháp của một hành động như vậy—một hành động mà ngay cả một vị thượng quốc nhạy cảm nhất [trong trường hợp này là Mongkut] cũng không thể thách thức và vốn nằm trong các quyền chủ quyền của hoàng thân Campuchia—ông deMontigny sẽ chịu trách nhiệm giải thích với Vua Xiêm rằng [sự việc này] diễn ra theo sáng kiến cá nhân của ông; và sẽ chỉ ra cho [Mongkut] những lợi ích mà hiệp ước đó mang lại, không chỉ cho hai quốc gia ký kết mà còn cho chính Xiêm… Do đó, Vua Campuchia không có lý do gì để lo lắng hay bận tâm đến cảm xúc của [Mongkut], bởi vì [Montigny] sẽ lo liệu mọi việc. [Ang Duong] cũng không nên quên rằng một khi đã trở thành bạn bè và đồng minh của Pháp, ông tất yếu sẽ là [bạn bè và đồng minh] của tất cả các láng giềng của mình.⁹
Rõ ràng là de Montigny, dù nhận thức rất rõ về chế độ bá chủ của Xiêm và vào thời điểm đó chưa sẵn sàng phủ nhận nó, thì trên thực tế ông lại đã hiểu sai nó một cách nghiêm trọng. (Ông cũng không thể hiểu được vì sao Mongkut lại không sẵn lòng viết một thư giới thiệu thay mặt ông—mà ông còn “chu đáo” soạn sẵn bản nháp - gửi tới Hoàng đế Việt Nam Tự Đức, dường như không nhận ra rằng điều này chẳng khác nào yêu cầu chính phủ Paris tạo điều kiện tiếp xúc giữa một thế lực mới đầy tiềm năng trên bàn cờ địa – chính trị châu Âu với kẻ thù truyền kiếp của Pháp tại London.)¹⁰ Với tư cách là một chư hầu của Xiêm, Ang Duong không phải là một tác nhân tự do, cũng không hề có “các quyền chủ quyền” đối với Bangkok; và dù có thể tồn tại những cơ hội nào đó để thiết lập quan hệ với một cường quốc châu Âu, ông hoàn toàn không ở vị thế có thể tự mình chủ động nếu không có sự chấp thuận của thượng quốc. Hiệp ước của de Montigny vì thế đã chết yểu, và ông tức tối phàn nàn về sự hai mặt của Xiêm cũng như sự hèn nhát của Campuchia. Tuy nhiên, người Pháp đã rút ra được một bài học quan trọng—một bài học mà họ sẽ không quên trong lần tiếp theo.
Trong vài năm sau đó, sự chú ý của Pháp tập trung vào Việt Nam. Sáng kiến ngoại giao của de Montigny tại đây đã thất bại, nhưng cuộc xâm lược Pháp–Tây Ban Nha giai đoạn 1858–59 đã đưa binh lính Pháp đặt chân lên thực địa và dẫn tới việc chiếm đóng Sài Gòn cùng ba tỉnh lân cận, nay trở thành thuộc địa Cochinchina. Việc nắm giữ lãnh thổ tại vùng châu thổ sông Mekong không chỉ tạo cho Pháp thêm động cơ để dòm ngó Campuchia, mà còn kéo theo sự xuất hiện của một loạt các thống đốc hải quân tại Sài Gòn, những người sẽ can dự vào các mối quan hệ với quốc gia này. Các đô đốc này chịu sự quản lý của Bộ Hải quân và Thuộc địa (Ministère de la Marine et des Colonies – MMC), cơ quan vốn nhất quán theo đuổi một lập trường cứng rắn hơn trong khu vực so với Bộ Ngoại giao (Ministère des Affaires étrangères – MAE), nơi phụ trách các nhà ngoại giao đóng tại Bangkok trực tiếp làm việc với triều đình Xiêm.
Sự xung đột giữa hai Bộ—không hề là điều hiếm thấy ở Pháp hay trong hoàn cảnh cụ thể này—đã định hình cách tiếp cận của Pháp đối với Xiêm và Campuchia trong suốt thập niên tiếp theo.¹¹ Về bản chất, MMC (đặc biệt dưới sự lãnh đạo quyết liệt của Prosper de Chasseloup-Laubat) chủ trương lập trường cứng rắn đối với các yêu sách của Xiêm tại Campuchia, bởi họ xem Xiêm như một “con ngựa thăm dò” cho lợi ích của người Anh, do Bangkok nói chung có nhiều tiếp xúc với các chính quyền thuộc địa Anh hơn là với người Pháp. Ngược lại, MAE lập luận cho một cách tiếp cận ôn hòa hơn, nhằm tránh việc Xiêm trở nên thân Anh hơn nữa.¹² Nhìn chung, các đô đốc tại Sài Gòn (trước là Louis Bonard, sau đó là Pierre-Paul de la Grandière) đã đi theo đường lối của Chasseloup-Laubat, thể hiện nhiều sáng kiến hơn tại Campuchia và hưởng quyền tự chủ lớn hơn so với các lãnh sự Pháp được phái tới Bangkok. Ang Duong qua đời năm 1860 và được kế vị bởi con trai ông là Norodom (trị vì 1860–1904), người từ đây sẽ gánh vác nhiệm vụ đối phó đồng thời với cả Xiêm và Pháp.
Hoàn cảnh dẫn tới thất bại của de Montigny đã cho thấy rõ rằng Pháp không thể phớt lờ những hệ quả của chế độ bá chủ Xiêm đối với Campuchia; vấn đề đặt ra là làm thế nào để giảm thiểu ý nghĩa của nó, hoặc lý tưởng hơn là vô hiệu hóa nó hoàn toàn. Ang Duong, cho đến khi qua đời, vẫn duy trì lập trường rằng mọi hiệp ước với Pháp đều phải được ký kết tại Bangkok với sự tham gia của người Xiêm; và ban đầu Norodom, dù có thiện cảm với những nhà cai trị mới của Cochinchina, cũng không sẵn sàng hơn cha mình trong việc trút bỏ ách bá quyền.¹³ Sáng kiến chủ yếu cho một lập trường ngoại giao mới dường như xuất phát từ Giám mục Miche, người vào tháng 4 năm 1861 đã chỉ ra với lãnh sự Pháp tại Bangkok (với người mà ông có liên lạc trực tiếp) rằng Campuchia theo truyền thống đã thừa nhận quyền thượng quốc của cả Xiêm lẫn Việt Nam. “Giờ đây khi Pháp đã chiếm Cochinchina,” Miche gợi ý, “chẳng phải đã đến lúc đòi hỏi các quyền bá chủ đối với Campuchia hay sao?”¹⁴ Chính xác đây là chiến lược mà người Pháp lúc này đã áp dụng trong các giao dịch của họ với Xiêm cũng như với người Campuchia.
Không rõ chính xác vào thời điểm nào các nhà hoạch định chính sách Pháp mới nhận thức đầy đủ về chế độ bá chủ của Việt Nam tại Campuchia. Các tài liệu ngoại giao tạo cảm giác rằng họ nhìn người Việt chủ yếu như những kẻ xâm lấn Campuchia hơn là những thượng quốc chính thức. Quả thực, vào thời điểm Pháp bắt đầu quan tâm tích cực tới các vấn đề của Campuchia, ảnh hưởng của Việt Nam dường như đã suy giảm đáng kể. Các bộ sử Việt Nam nói tương đối ít về Campuchia trong những năm này; chỉ nhắc tới hai phái bộ triều cống (năm 1854 và 1857), cùng với một đợt bạo lực bùng phát dọc biên giới. Cũng có những gợi ý cho thấy người Campuchia, nhờ các tiếp xúc với người Pháp, đã trở nên mạnh dạn hơn, nhưng lại thiếu các chi tiết cụ thể về những diễn biến chính trị tại Oudong, kinh đô hoàng gia của Campuchia.¹⁵ Bản thân Việt Nam khi đó đang phải đối mặt với mối đe dọa phương Tây gia tăng đột ngột—chuyến thăm vô ích của Montigny năm 1856 đã được báo trước bởi cuộc pháo kích của Pháp vào Tourane (Đà Nẵng)—và hầu như không ở vào vị thế có thể can thiệp vào các vấn đề của Campuchia. Trớ trêu thay, Pháp lại tìm cách khẳng định tính ưu trội của quyền bá chủ của Huế tại Campuchia đúng vào thời điểm mà ảnh hưởng của Việt Nam trên thực tế đã suy yếu nghiêm trọng, trong khi quyền lực của Xiêm đang ở thế thượng phong.
Có một đoạn đáng chú ý trong biên niên sử Việt Nam liên quan đến hiệp ước năm 1862 được ký kết sau cuộc xâm lược ban đầu của Pháp. Bối cảnh là một cuộc thảo luận giữa các quan lại triều đình về những điều khoản khác nhau do người Pháp áp đặt. Tất cả các điểm được nêu ra đều xuất hiện trong hiệp ước cuối cùng, ngoại trừ một điều: lệnh cấm các phái bộ triều cống tiếp theo từ Campuchia. Phía Việt Nam tỏ ra không mấy bận tâm về điều khoản này, bởi vì “Campuchia là thuộc quốc của ta”“dù có triều cống hay không, thì trong mọi trường hợp [người Pháp] cũng không có quyền can thiệp, nên chẳng có gì đáng để tranh luận.” Hoàng đế nhận xét rằng có hay không có hiệp ước, nếu Campuchia gây rối cho Việt Nam thì Việt Nam sẽ đáp trả bằng vũ lực, và người Pháp sẽ không có gì để nói về điều đó.¹⁶
Các nguồn xuất bản, kể cả những công trình dựa nhiều vào tài liệu gốc của Pháp, đều không đề cập đến một kế hoạch nhằm cắt đứt mối quan hệ triều cống giữa Campuchia và Việt Nam. Phần lớn các tường thuật đương thời xem việc thiết lập quyền cai trị của Pháp tại Cochinchina và tại Campuchia như hai giai đoạn tách biệt trong câu chuyện rộng lớn hơn của quá trình thực dân hóa, với rất ít tham chiếu tới các mối liên hệ truyền thống giữa hai quốc gia này. Một ngoại lệ là nghiên cứu năm 1874 của Paulin Vial, một sĩ quan hải quân, người cho biết rằng vào thời điểm Pháp chinh phục châu thổ sông Mekong, người Việt đã rất nhanh chóng đưa ra các quyền của mình đối với Campuchia, “giải thích với chúng tôi rằng các yêu sách của họ… có cơ sở vững chắc hơn nhiều so với những yêu sách của Xiêm.”¹⁷ Thật hấp dẫn khi cho rằng ban đầu người Pháp đã dự định cưỡng bức cắt đứt quan hệ bá chủ–chư hầu giữa Việt Nam và Campuchia, tương tự như cách họ đang làm với Xiêm, nhưng sau đó nhận ra rằng họ có thể tận dụng chính mối quan hệ đó để củng cố các yêu sách của mình.
Tuy nhiên, lập trường này vấp phải hai khó khăn cơ bản. Thứ nhất, vào thời điểm đó Pháp chưa có bất kỳ quyền lực nào đối với chính phủ Việt Nam tại Huế hay các quan hệ đối ngoại của nước này. Hiệp ước năm 1862 chỉ nhượng cho Pháp phần lãnh thổ mà họ đã chiếm đóng tính đến lúc đó, cùng với một số điều khoản khác về thương mại và tôn giáo, nhưng nhìn chung vẫn để nguyên vẹn chủ quyền của triều Nguyễn, ngoại trừ khả năng nhượng bộ lãnh thổ trong tương lai; những bước đi đầu tiên hướng tới một chế độ bảo hộ chỉ xuất hiện với hiệp ước thứ hai vào năm 1874. Do đó, việc cho rằng chỉ vì Pháp nay sở hữu một phần lãnh thổ Việt Nam giáp Campuchia mà họ đã “thừa kế” quyền thượng quốc của Việt Nam đối với Campuchia là điều phi lý, nếu không muốn nói là lố bịch. Người Xiêm đã nêu ra chính xác lập luận này, khi thông báo với Paris vào tháng 11 năm 1861 rằng “Vua Cochinchina [tức Việt Nam] vẫn là chủ nhân của kinh đô mình. Ông ta vẫn nắm giữ toàn quyền trong vương quốc của mình.” Bangkok khẳng định rằng không thể cho rằng Pháp đã thừa kế các quyền bá quyền của ông ta cho đến khi ông ta bị đánh bại hoàn toàn.¹⁸ Quan trọng hơn, Bộ Ngoại giao tại Paris (MAE) cũng đồng tình với quan điểm này: bộ trưởng nhận xét rằng “do buộc phải giới hạn các thành quả của chúng ta tại Hạ Cochinchina chỉ trong ba tỉnh, chúng ta không thể đòi hỏi [quyền] thiết lập mình tại Campuchia.” Ông tái khẳng định quan điểm rằng Pháp không nên làm xa lánh Xiêm bằng cách thúc ép quá mức để cướp lấy nước chư hầu của họ.¹⁹
Điểm yếu thứ hai trong lập trường của Pháp còn rõ rệt hơn nữa: logic nào cho phép công nhận chế độ bá chủ (trong trường hợp này là của Việt Nam) như một cơ sở hợp pháp cho các yêu sách của chính mình đối với Campuchia, trong khi lại phủ nhận tính chính danh của các yêu sách của Xiêm vốn cũng dựa trên cùng một cơ sở đó? Chính Chasseloup-Laubat đã nêu rõ sự mâu thuẫn này khi nói với de la Grandière (người thay thế Bonard vào đầu năm 1863) rằng ông nên từ chối mọi sự thừa nhận các “yêu sách” (prétensions) của Xiêm, đồng thời hoàn toàn bảo vệ các “quyền” (droits) của Pháp và Việt Nam. (Bonard trước đó đã giữ một lập trường chính xác hơn đôi chút, khi nói với Bangkok rằng họ không thể đòi hỏi quyền thượng quốc duy nhất đối với Campuchia, bởi người Việt cũng có các quyền nhất định.)²⁰ Các tài liệu được công bố không đưa ra một lời giải thích có hệ thống nào cho lập trường mâu thuẫn này, nhưng rõ ràng người Pháp đã coi nó là nghiêm túc. Dường như đã có một nỗ lực nhằm lập luận rằng các quyền của Việt Nam tại Campuchia về mặt lịch sử có trước các quyền của Xiêm, nhưng lập luận này khó có thể đứng vững trước sự xem xét kỹ lưỡng.²¹
Dù vấn đề có vẻ rõ ràng đến đâu tại Paris và Sài Gòn, thì tại Bangkok và Oudong nó lại kém rõ ràng hơn nhiều. Norodom đã ký một hiệp ước với de la Grandière trong chuyến thăm của vị đô đốc này vào tháng 8 năm 1863. De la Grandière, giống như de Montigny trước đó, đã đi trước chỉ thị của mình ở một mức độ nhất định; ngay cả Chasseloup-Laubat, người nổi tiếng cứng rắn, cũng đã gợi ý rằng ông nên chờ Norodom đưa ra “nhiều yêu cầu” trước khi tiến hành các quan hệ ngoại giao chính thức.²² Tuy nhiên, vị đô đốc tin vào việc “đánh khi sắt còn nóng”, và sau đó đã báo cáo với bộ trưởng của mình rằng “Vua Norodom và các bộ trưởng của ông tỏ ra nhất trí đến mức muốn có sự bảo hộ của Pháp, đến nỗi ý tưởng về một hiệp ước nảy sinh một cách tự nhiên và, dù tôi không được giao nhiệm vụ phải đạt được một hiệp ước, cơ hội này dường như quá tốt để có thể bỏ qua.”²³
De la Grandière hẳn đã bớt lạc quan hơn nếu ông biết rằng chỉ vài tuần sau khi viết những dòng này, các sứ thần Xiêm tại Oudong đã ký một hiệp ước mật với Norodom, hiệp ước này vô hiệu hóa thỏa thuận với Pháp và tái khẳng định địa vị chư hầu của Campuchia đối với Xiêm. (Norodom dường như đã chơi một “trò hai mặt” ở mức độ nhất định, vừa than phiền với người Pháp rằng ông bị người Xiêm gây sức ép, vừa làm điều tương tự theo chiều ngược lại.)²⁴ Sự tồn tại của hiệp ước này chỉ bị phanh phui vào tháng 8 năm 1864, khi tin tức rò rỉ qua Straits Times tại Singapore. (Thật khó nói liệu người Pháp tức giận hơn vì sự lừa dối hay vì phải biết tin đó qua một cơ quan ngôn luận thuộc địa của Anh.)²⁵ Tuy nhiên, họ đã không coi hiệp ước này là nghiêm trọng; và sau khi đã ngăn Norodom sang Bangkok để làm lễ đăng quang vào đầu năm đó, đồng thời buộc sự kiện phải diễn ra tại Oudong vào tháng 6—dù vẫn có sự tham gia của người Xiêm—họ cảm thấy rằng tính ưu trội của chế độ bảo hộ của mình đã được chứng minh một cách thỏa đáng.²⁶
Các quan chức Pháp trước mặt Quốc vương Norodom I của Campuchia. Một buổi tiếp đón chính thức vào ngày 3 tháng 6 năm 1864.
Các quan chức Pháp trước mặt Quốc vương Norodom I của Campuchia. Một buổi tiếp đón chính thức vào ngày 3 tháng 6 năm 1864.
Các viên chức Pháp đặc biệt lo ngại về vấn đề nghi lễ trong lễ đăng quang chung của Norodom, vì e rằng điều đó có thể hàm ý rằng Xiêm vẫn còn giữ một số quyền bá chủ nào đó đối với nước chư hầu của mình.²⁷ Trên thực tế, xét đến việc với tư cách là nước bá chủ, Xiêm thường xuyên can dự vào việc đăng quang—và đôi khi cả việc lựa chọn—các vị vua chư hầu, thì ngay chính quyết định cho phép sứ thần Bangkok tham gia ngay từ đầu đã gửi đi những tín hiệu mơ hồ, dù Pháp cố gắng giảm thiểu chúng đến mức thấp nhất. Bản thân Norodom, trong các giao thiệp với người Pháp, dường như cũng tìm cách hạ thấp ý nghĩa của vai trò Xiêm—chẳng hạn, ông nói với de la Grandière rằng một số bảo vật cần thiết cho lễ đăng quang của mình phải được mang từ Bangkok sang, nhưng không nói rõ lý do chính xác vì sao chúng lại được lưu giữ ở đó ngay từ đầu. Người Pháp dường như không bị đánh lừa, và sứ thần Xiêm tại buổi lễ đã bị Ernest Doudart de Lagrée (được bổ nhiệm làm Khâm sứ Pháp tại Campuchia) bác bỏ khi ông này khăng khăng đòi tự tay đội vương miện (do mình mang từ Bangkok sang) lên đầu Norodom. (Giải pháp thỏa hiệp là sứ thần Xiêm trao vương miện cho Doudart de Lagrée, người sau đó đưa lại cho Norodom, và chính Norodom tự đội lên đầu mình.)²⁸ Cũng đáng chú ý là ban đầu, ít nhất về mặt nguyên tắc, Pháp dường như sẵn sàng để Campuchia tiếp tục cử các phái bộ triều cống sang Bangkok, mặc dù theo quan điểm của Pháp, nước này đã không còn là một nước triều cống của Xiêm về mặt chính thức.²⁹ Giống như lễ đăng quang, bất kỳ phái bộ nào như vậy trên thực tế đều hàm ý rằng mối quan hệ triều cống với Xiêm vẫn còn tồn tại, và cuối cùng thì dường như điều đó đã không diễn ra—hoặc vì Pháp đã suy nghĩ lại về quyết định của mình, hoặc vì người Campuchia và/hoặc người Xiêm cho rằng việc đó không còn mang ý nghĩa gì. Tuy nhiên, cả hai vấn đề này đều cho thấy rằng người Pháp đã không nắm bắt đầy đủ những khía cạnh tinh tế hơn của mối quan hệ mà họ đang trong quá trình phá bỏ.
Đáng chú ý là trong một bức thư gửi Norodom năm 1864 sau lễ đăng quang của ông, vua Mongkut tuyên bố rằng “Hoàng đế Pháp đang hậu thuẫn để ngài được độc lập và không lệ thuộc vào bất kỳ quốc gia nào khác [ekkarat mai khuen mueang dai]; Xiêm đã công nhận hiệp ước [năm 1863].”³⁰ Phần lớn bức thư dành để bàn luận xem trong số rất nhiều đại từ tiếng Thái thì cách xưng hô nào sẽ phù hợp nhất cho thư từ qua lại giữa họ, xét đến sự thay đổi này trong mối quan hệ. Tuy nhiên, bất chấp cảm xúc riêng tư của Mongkut, Bangkok chắc chắn chưa sẵn sàng công khai thừa nhận “độc lập” của Campuchia vào thời điểm đó, và phải mất thêm ba năm ngoại giao vừa “củ cà rốt” vừa “cây gậy” nữa. Đến năm 1867, một hiệp ước Pháp–Xiêm cuối cùng mới được ký kết, trong đó thừa nhận quyền kiểm soát của Bangkok đối với các tỉnh Campuchia là Battambang và Siem Reap, nhưng chính thức chấm dứt mọi yêu sách đối với phần còn lại của đất nước.³¹
Bản đồ về Xiêm (màu đỏ) và Đại Nam (màu tím) cùng các vùng ảnh hưởng của mình năm 1867. Vào thời điểm này, Campuchia nằm dưới sự bảo hộ của người Pháp (màu xanh dương) (Nguồn: The Dragon Historian)
Bản đồ về Xiêm (màu đỏ) và Đại Nam (màu tím) cùng các vùng ảnh hưởng của mình năm 1867. Vào thời điểm này, Campuchia nằm dưới sự bảo hộ của người Pháp (màu xanh dương) (Nguồn: The Dragon Historian)
Nếu Pháp không hoàn toàn hiểu được chế độ bá chủ của Xiêm, thì cũng không rõ họ đã thực sự hiểu hết những hệ quả của chính chính sách “bảo hộ” của mình hay chưa. Trong các văn bản nội bộ, họ nói đến việc “affranchissement” (giải phóng) Campuchia khỏi ảnh hưởng của Xiêm, điều này về mặt logic là hợp lý—và thực tế, một bộ phận tinh hoa Campuchia cũng có thể đã đồng tình. Những nhận xét của de la Grandière trong thư tín chính thức của ông cung cấp một số manh mối về cách người Pháp hiểu khái niệm “độc lập”. Trước hết và trên hết, đó là sự tự do thoát khỏi ách thống trị của Xiêm, như đã đề cập ở trên, nhưng rộng hơn, ông nhấn mạnh sự khác biệt về chất giữa “chế độ bá chủ của chúng ta” và chế độ của người Việt và người Xiêm. Ông đặc biệt lưu ý rằng sự can dự của Pháp ở Campuchia sẽ không dựa trên các hành vi và cấu trúc truyền thống của quan hệ chư hầu. Thay vào đó, Pháp sẽ dựa vào “thuyết phục, thiện chí, phương pháp đúng đắn và công lý”, những công cụ phù hợp hơn để đối xử với “những dân tộc bị hạ nhục và nghiền nát.”³² Chasseloup-Laubat diễn đạt vấn đề này một cách thẳng thắn hơn đôi chút, ngay trước khi hiệp ước năm 1863 được phê chuẩn cuối cùng: “Campuchia phải độc lập giữa Xiêm và chúng ta [ở Nam Kỳ], nhưng nằm dưới sự bảo hộ của chúng ta để chấm dứt các cuộc xâm nhập của Xiêm; nếu không, rốt cuộc chúng ta sẽ phải chinh phục một phần của nó.”³³
Mục tiêu, như vậy, là một Campuchia vừa “độc lập” vừa “trung lập”, nhưng bằng cách nào đó lại nằm dưới “sự bảo hộ” của Pháp. Những thuật ngữ này xuất hiện lặp đi lặp lại trong các văn bản của Pháp, nhưng rõ ràng là “độc lập” và “trung lập” trong những hoàn cảnh cụ thể này mang một ý nghĩa khác. Một viên chức đã trình bày rõ ràng lập trường của Pháp:
“[Sau cuộc chinh phục ban đầu Sài Gòn và các tỉnh lân cận] nền độc lập của Campuchia sớm được xem là một điều kiện thiết yếu cho sự phát triển—và gần như cho sự tồn tại—của Nam Kỳ thuộc Pháp. Với tình trạng suy yếu mà vương quốc đang ở trong đó, nền độc lập là điều không thể có nếu không có một chế độ bảo hộ . . . Một hiệp ước [giữa Pháp và Campuchia] sẽ trao cho chúng ta những quyền mới và độc quyền, và Xiêm sẽ bị loại bỏ một lần và mãi mãi.”³⁴
Sự phi logic của một quốc gia “độc lập” nhưng lại nằm dưới “sự bảo hộ” của ngoại bang theo cách hiểu của Pháp—điều mà người Xiêm nhìn thấy rất rõ—lại ít hiển nhiên hơn nhiều đối với các viên chức ở Sài Gòn và Paris. Chỉ trong vòng vài năm, ý niệm này cũng sẽ chứng tỏ là có vấn đề tương tự trong các quan hệ với Việt Nam và Trung Quốc.

Việt Nam, 1874–85

Quá trình Pháp xâm chiếm Việt Nam kéo dài hơn một phần tư thế kỷ và bao gồm một loạt các cuộc viễn chinh quân sự với quy mô khác nhau, dẫn đến việc ký kết ba hiệp ước kế tiếp nhau. Hiệp ước năm 1862, đã được nhắc tới ở trên, tập trung vào kết quả của cuộc viễn chinh quân sự Pháp–Tây Ban Nha năm 1858–59, đặc biệt là việc nhượng lại Sài Gòn và ba tỉnh lân cận. Khi đó, Pháp vẫn chưa ở vào vị thế có thể đòi hỏi quyền lực hay ảnh hưởng đối với phần còn lại của đất nước. Mặc dù tham vọng lâu dài về một chế độ bảo hộ hoặc một hình thức kiểm soát nào đó gần như chắc chắn đã nằm trong suy nghĩ của một số viên chức ở Paris vào thời điểm ấy, nhưng phải hơn một thập niên sau những giấc mơ đó mới bắt đầu trở thành hiện thực.
Năm 1874, một hiệp ước thứ hai được ký kết, thường được gọi là Hiệp ước Philastre theo tên viên chức Pháp đã đàm phán nó. Văn kiện này trở thành nguồn gốc chính của những bất đồng giữa Pháp, Việt Nam và Trung Quốc trong suốt thập niên tiếp theo; vì vậy, nó đáng được xem xét chi tiết các điều khoản liên quan. Điều Hai tuyên bố rằng Pháp,
công nhận chủ quyền của Vua An Nam [tức hoàng đế Việt Nam] và nền độc lập hoàn toàn của ông đối với bất kỳ cường quốc ngoại bang nào, hứa sẽ viện trợ và trợ giúp, và theo yêu cầu của ông, sẽ tự do [tức là không thu phí] cung cấp sự hỗ trợ cần thiết để duy trì hòa bình và trật tự trong nước, bảo vệ ông trước mọi cuộc tấn công, và tiêu diệt nạn hải tặc đang tàn phá một phần bờ biển của vương quốc.
Điều Ba quy định rằng, “đổi lại sự bảo hộ này [trong bản chữ Hán được dịch là 許助, ‘trợ giúp’], Vua An Nam cam kết điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình theo chính sách của Pháp và không thực hiện bất kỳ thay đổi nào trong các quan hệ ngoại giao hiện tại.” Điều khoản này tiếp tục cho phép Việt Nam ký kết các hiệp định thương mại với các cường quốc khác, nhưng Pháp phải được thông báo trước và các hiệp định đó không được vi phạm bất kỳ điều khoản nào của các hiệp ước Pháp–Việt đang có hiệu lực.³⁵
Hiệp ước Philastre chứa đựng một mâu thuẫn tưởng chừng rất rõ ràng. Một mặt, Pháp công nhận “chủ quyền” và “độc lập” của Việt Nam đối với mọi cường quốc ngoại bang, dĩ nhiên bao gồm cả Trung Quốc. Mặt khác, các quan hệ đối ngoại của Việt Nam phải được giữ nguyên; điều này hiển nhiên cũng bao hàm mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc. Trong các giao thiệp sau này với triều Thanh, người Pháp luôn nhấn mạnh điểm thứ nhất mà không hề đề cập tới điểm thứ hai. Tuy nhiên, Điều Ba có thể được hiểu là cho phép tiếp tục duy trì các quan hệ Trung–Việt theo hình thức truyền thống. Điểm này còn thể hiện rõ hơn trong bản chữ Hán của hiệp ước mà phía Việt Nam sử dụng (và có lẽ do chính họ soạn thảo). Câu liên quan viết: 若從前有與何外國相交 往來通使 今應仍舊 不可變異: “Nếu trước đây [Việt Nam] có quan hệ với bất kỳ nước ngoài nào [và] có việc qua lại, trao đổi sứ thần, thì nay vẫn nên giữ như cũ, không được thay đổi.”³⁶ Quan hệ Trung–Việt, dĩ nhiên, chủ yếu dựa trên việc trao đổi sứ thần thường xuyên, nên việc suy diễn rằng các hoạt động này có thể tiếp tục là điều không hề vô lý—và trên thực tế, đó chính là điều đã xảy ra.
Một vấn đề thứ hai, cũng gây tranh cãi không kém, là ý nghĩa của “chủ quyền” và “độc lập”, hai thuật ngữ mà vào thập niên 1870 chưa có sự tương đương chính xác trong tiếng Hán. Người Pháp hiểu Điều Hai theo nghĩa rằng từ nay Việt Nam không còn là một nước chư hầu của triều Thanh; đối với họ, hàm ý của “souveraineté” và “entière indépendance” là điều hiển nhiên. Tuy nhiên, người Việt (và sau này là triều Thanh) đã hiểu như thế nào lại là một vấn đề khác. Bản chữ Hán của phần đầu Điều Hai viết: 大南國大皇帝係操自主之權 非有遵服何國. Ở đây, “chủ quyền” được dịch là “nắm giữ quyền tự chủ”, nhưng thuật ngữ dùng cho “chủ quyền”, 自主 (zizhu, tiếng Việt: tự chủ), về sau mới mang nghĩa “tự trị/tự chủ”, còn về mặt nguyên nghĩa là “làm chủ chính mình”, và không chắc rằng một độc giả Trung Quốc hay Việt Nam vào thập niên 1870 sẽ hiểu nó là “độc lập” theo nghĩa phương Tây. Nói chính xác hơn, trong quan niệm Trung–Việt về quan hệ triều cống, mối quan hệ đó không nhất thiết phủ nhận địa vị “chủ quyền” hay “độc lập” của Việt Nam khi được diễn đạt theo những thuật ngữ như vậy. Tương tự, cụm từ “độc lập hoàn toàn” được diễn đạt là “không lệ thuộc hay thần phục bất kỳ quốc gia nào”; một lần nữa, cả bá chủ lẫn chư hầu đều không nhất thiết xem địa vị của nước chư hầu là “lệ thuộc” hay “thần phục” theo nghĩa của thuật ngữ này. Do đó, rất có thể—và những diễn biến sau này dường như xác nhận điều đó—cả người Việt lẫn người Trung Quốc đều không hiểu Hiệp ước Philastre là chấm dứt mối quan hệ triều cống đã tồn tại hàng thế kỷ giữa họ, trong khi người Pháp lại chủ ý làm chính xác điều đó.
Lập trường nội bộ của Pháp vào thời điểm này là rất rõ ràng: theo lời một bộ trưởng viết cho một bộ trưởng khác năm 1875, “Việt Nam, trong tình trạng suy yếu hiện nay và— như chính họ thừa nhận—không có khả năng bảo đảm sự tuân phục của chính thần dân mình, buộc phải chấp nhận sự bảo hộ của một cường quốc lớn. Vị thế mà chúng ta đã giành được ở Nam Kỳ [thông qua Hiệp ước Philastre] không cho phép bất kỳ ảnh hưởng nào khác ngoài ảnh hưởng của chúng ta được thực thi đối với [Hoàng đế] Tự Đức.”³⁷ Nói ngắn gọn, chế độ bảo hộ được thiết kế nhằm chấm dứt quyền bá chủ của Trung Quốc và ngăn không cho bất kỳ cường quốc nào khác can dự. Tuy nhiên, Trung Quốc không hề được tham vấn ở bất kỳ giai đoạn nào, và chỉ được thông báo về sự tồn tại của Hiệp ước Philastre vài tháng sau đó. Bộ trưởng ngoại giao ở Paris, trong thư gửi cho viên Đại biện Pháp tại Bắc Kinh, một cách khá thản nhiên bày tỏ sự tin tưởng rằng chính quyền triều Thanh sẽ “đánh giá thích đáng” mối quan hệ mới giữa Pháp và Việt Nam, và sẽ sẵn sàng để Pháp đảm nhận trách nhiệm giúp Việt Nam duy trì trật tự trong biên giới của mình.³⁸ Trong vài năm trước đó, triều Thanh đã gửi quân sang Việt Nam theo yêu cầu chính thức của triều Nguyễn để đối phó với các tàn dư của phong trào Thái Bình Thiên Quốc chạy sang lánh nạn. Chính kiểu can thiệp này—được cả triều Thanh lẫn triều Nguyễn xem là trách nhiệm của một nước bá chủ đối với nước chư hầu—là điều mà người Pháp muốn chấm dứt.
Nhiệm vụ tế nhị là thông báo cho triều Thanh về thực tế địa–chính trị mới được giao cho Bá tước Julien de Rochechouart, viên Đại biện Pháp. Như thường lệ, nhà ngoại giao này bị kẹt giữa những thông điệp mâu thuẫn từ Paris và Sài Gòn. Trong thư gửi bộ trưởng của mình, ông lưu ý rằng cách giải thích của Paris về hiệp ước năm 1874 dường như nhấn mạnh “độc lập” của Việt Nam, trong khi Toàn quyền ở Sài Gòn lại có xu hướng xem đất nước này đã phần nào nằm dưới sự kiểm soát của Pháp. Do đó, ông giải thích, trong thư gửi triều Thanh, ông đã cố tình hạ thấp vấn đề chủ quyền–bá chủ và thay vào đó tập trung vào những vấn đề cụ thể hơn—và theo quan điểm của Pháp, cấp bách hơn—là trục xuất các toán quân Thái Bình Thiên Quốc và mở cửa sông Hồng cho thương mại thông suốt tới Vân Nam.³⁹
Hiệp ước Philastre được chính thức chuyển giao cho triều Thanh vào tháng 5 năm 1875. Có thể kỳ vọng rằng người Pháp sẽ cung cấp một phiên bản điều chỉnh phù hợp của bản chữ Hán gốc mà phía Việt Nam đã sử dụng, vì văn bản đó sẽ dễ hiểu ở Bắc Kinh cũng như ở Huế. (Một số chi tiết như tước hiệu của hoàng đế Việt Nam và tên gọi quốc gia của ông cần phải được thay đổi, vì trong cả hai trường hợp, phía Việt Nam không ưa những tên gọi “do” triều Thanh áp đặt và chỉ sử dụng chúng trong thư từ ngoại giao với nước bá chủ). Tuy nhiên, dường như người Pháp đã chọn cách dịch lại trực tiếp từ bản tiếng Pháp mà không tham chiếu tới bản văn đã ký tại Việt Nam, bởi cách diễn đạt trong hai văn bản chữ Hán là khác nhau. Trong bản dịch gửi triều Thanh, hai điều khoản được thảo luận ở trên về cơ bản vẫn nói cùng một nội dung như bản gốc, nhưng với những sắc thái ngữ nghĩa khác. Điều Hai vẫn dùng thuật ngữ 自主 (zizhu) để mô tả Việt Nam là “độc lập” và khẳng định rằng nước này sẽ không 歸他國管屬, “thuộc quyền quản lý của một quốc gia khác”. Điều Ba thì rõ ràng hơn nhiều. Trong khi bản gốc dịch “sự bảo hộ” của Pháp đối với Việt Nam là “trợ giúp” (許助), thì bản được soạn thảo ở Bắc Kinh dùng thuật ngữ “bảo hộ” (保護, Việt: bảo hộ), cách dịch chính xác hơn so với nguyên văn tiếng Pháp và về sau trở thành thuật ngữ tiêu chuẩn để chỉ “chế độ bảo hộ” ở Việt Nam. Ngoài ra, trong khi Hiệp ước Philastre quy định rằng các quan hệ đối ngoại của Việt Nam phải được sự “chuẩn thuận” của Pháp (合意), thì bản dịch sau này dùng thuật ngữ 辦理, gần với nghĩa “xử lý” hay “quản lý”.⁴⁰
Như vậy, bản văn được trao cho triều Thanh gợi ý một mức độ kiểm soát của Pháp chặt chẽ hơn so với văn bản hiệp ước gốc mà phía Việt Nam đã ký. Tuy nhiên, thư đệ trình của de Rochechouart gửi Thân vương Cung (Dịch Hân), người phụ trách ngoại giao của Trung Quốc, lại cố tình làm nhẹ đi những hệ quả của hiệp ước đối với quan hệ Trung–Việt. Ông viết rằng “từ nay, trách nhiệm bảo đảm an ninh và nền độc lập của Bệ hạ Tự Đức thuộc về nước Pháp.” Câu này được dịch sang chữ Hán là 交趾之國嗣後得保無虞侵淩且得自主皆資法國之職分所顧. Một lần nữa, thuật ngữ 自主 (zizhu) lại được dùng để mô tả địa vị của Việt Nam. Như nhà ngoại giao Pháp đã báo cáo với cấp trên của mình, phần còn lại của bức thư tập trung vào việc yêu cầu triều Thanh giúp rút toàn bộ lực lượng Trung Quốc khỏi Việt Nam và hợp tác trong việc mở cửa sông Hồng cho thương mại tự do.⁴¹
Quyết định của Viên Đại biện hành xử thận trọng đối với vấn đề bá chủ, dù có thể được biện minh từ góc độ ngoại giao, lại là một bước đi thiếu sáng suốt, bởi nó đã để cho việc diễn giải vấn đề này phần lớn phụ thuộc vào cách nhà Thanh đọc hiệp ước. Vấn đề càng trở nên nghiêm trọng hơn bởi một phản hồi mơ hồ từ phía Trung Quốc, rồi sau đó lại bị làm trầm trọng thêm bởi một lỗi dịch thuật từ phía Pháp. Thân vương Cung, trong thư trả lời de Rochechouart, đã dành phần lớn sự chú ý cho hai vấn đề do phía Pháp nêu ra, nhưng ông cũng thêm vào một câu xác nhận quan hệ Trung–Việt. Bản dịch tiếng Pháp như sau: “An Nam là quốc gia còn được gọi là Việt Nam; nước này từng là một nước triều cống của Trung Quốc, và cư dân vùng biên giới Trung Quốc luôn có quan hệ buôn bán với cư dân của các quốc gia triều cống lân cận; tính chất [của các quan hệ này] thay đổi tùy theo từng tỉnh.” Tuy nhiên, nguyên văn tiếng Trung của phần đầu câu này lại viết: “交趾即越南本系中國屬國”; cách diễn đạt này cho thấy Việt Nam vẫn là một nước triều cống.⁴²
Người Pháp rõ ràng đã bị đánh lạc hướng bởi việc sử dụng thì quá khứ trong chính bản dịch của họ đối với thư của Thân vương Cung. Khi viết về Paris, de Rochechouart trấn an bộ trưởng của mình rằng “Thân vương chỉ nói đến địa vị chư hầu của An Nam đối với Trung Quốc trong quá khứ, điều này ngầm thừa nhận tình trạng hiện tại.”⁴³ Sự hiểu lầm nghiêm trọng này đã chi phối nhận thức trong suốt thập niên tiếp theo, và khi nhiều năm sau nhà Thanh bắt đầu lên tiếng phản đối sự can thiệp ngày càng gia tăng của Pháp ở Bắc Kỳ và khẳng định các quyền bá chủ của mình, Pháp đã phẫn nộ viện dẫn bức thư tháng Sáu năm 1875 của Thân vương Cung và cáo buộc Trung Quốc quay lưng lại với sự đồng thuận ngầm mà họ được cho là đã trao cho chế độ bảo hộ của Pháp.⁴⁴ Không rõ chính xác khi nào lỗi dịch thuật này được phát hiện. Bộ trưởng Pháp tại Bắc Kinh, trong thư viết vào tháng Chín năm 1877, đã bày tỏ một số hoài nghi về độ chính xác của bản dịch tiếng Pháp, phần nào dựa trên thực tế rằng Việt Nam đang cử một sứ bộ triều cống mới sang Trung Quốc, nhưng ông dường như không khẳng định rõ ràng rằng bản dịch là sai.⁴⁵ Hơn nữa, có khả năng là ngay cả khi các quan chức Pháp vào một thời điểm nào đó nhận ra sai sót này, thì quán tính tâm lý của quá trình bành trướng đã quá mạnh để có thể bị cản trở bởi các vấn đề ngữ nghĩa.
Lời giải thích có khả năng nhất là nhà Thanh trên thực tế đã không nắm bắt đầy đủ ý nghĩa của Hiệp ước Philastre, và rằng phát biểu của Thân vương Cung nhằm nhắc lại và đặt trong bối cảnh lập trường của Trung Quốc đối với các vấn đề khác do phía Pháp nêu ra. Cũng không rõ liệu bản thân người Việt có hoàn toàn hiểu hết những hệ quả của những gì họ đã ký vào năm 1874 hay không. Thập niên tiếp theo của quan hệ Pháp–Việt là một cuộc giằng co liên tục giữa “cường quốc bảo hộ”, luôn nóng lòng mở rộng thẩm quyền của mình, và những người được bảo hộ Việt Nam, vốn cũng kiên quyết tìm cách giảm thiểu thẩm quyền đó.⁴⁶ Người Pháp liên tục cáo buộc phía Việt Nam có thái độ cản trở và thiếu thiện chí, nhưng cảm giác này có lẽ là tương hỗ. Nếu tham khảo các bộ sử Việt Nam của giai đoạn này, vốn được biên soạn không lâu sau khi chế độ cai trị hoàn toàn của Pháp được áp đặt vào năm 1884, ta thấy chúng hoàn toàn im lặng về bất kỳ hình thức “bảo hộ” nào hay về bất kỳ sự thay đổi nào trong quan hệ với nhà Thanh do Hiệp ước Philastre gây ra. Các sĩ quan và quan chức Pháp xuất hiện khá thường xuyên trong tường thuật, nhưng chỉ như những người ngoại quốc mơ hồ mang tính đe dọa, cần được thưởng, xoa dịu hoặc ngăn chặn tùy theo hoàn cảnh. Ngược lại, nhà Thanh được mô tả như những láng giềng đáng tin cậy mà người Việt đang hợp tác chặt chẽ để giải quyết các vấn đề do tàn dư Thái Bình Thiên Quốc gây ra trên lãnh thổ của mình.⁴⁷
Sự mơ hồ của Hiệp ước Philastre đối với tất cả các bên liên quan đã bộc lộ rõ ràng vào cuối năm 1876, khi triều đình Huế tuyên bố ý định cử một sứ bộ sang nhà Thanh, như thông lệ ba năm một lần. (Quan hệ triều cống đã bị gián đoạn trong một thời gian do tình trạng hỗn loạn gây ra bởi cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc, nhưng đã được nối lại với một sứ bộ triều cống sang Bắc Kinh vào năm 1873.) Về mặt logic, việc phái đi một sứ bộ như vậy chỉ hai năm sau khi mối quan hệ triều cống truyền thống được cho là đã chấm dứt lẽ ra phải gióng lên hồi chuông cảnh báo tại Huế (nơi lúc này Pháp đã có Lãnh sự), tại Sài Gòn và Paris, cũng như tại Phái bộ Pháp ở Bắc Kinh. Tuy nhiên, vì những lý do không rõ ràng từ các nguồn công bố, điều đó đã không xảy ra, và sứ bộ đã lên đường sang Trung Quốc mà không gặp bất kỳ trở ngại nào.
Vào tháng 9 năm 1876, Alexandre de Kergaradec, Lãnh sự Pháp tại Huế, thông báo cho cấp trên của mình ở Sài Gòn rằng sứ bộ vừa rời đi để đến Bắc Kinh. Ông cho biết mình đã được đảm bảo rằng “sứ bộ” ba năm một lần này “không mang bất kỳ tính chất đặc biệt nào” ngoài việc duy trì một truyền thống cổ xưa. Vị lãnh sự (dường như không suy nghĩ nhiều về những hệ quả có thể có của “truyền thống cổ xưa” này) cho biết ông đã gặp các sứ thần, nhận thấy họ không thuộc hàng chức sắc cao cấp, và đã nhận được sự đảm bảo rằng trong thời gian ở Bắc Kinh, họ sẽ đến chào Bộ trưởng Pháp. Ông lưu ý tầm quan trọng của sứ bộ này trong việc tạo tiền lệ cho các tiếp xúc trong tương lai giữa hai đế quốc, nhưng không đưa ra bất kỳ phản đối nào.⁴⁸
Từ Sài Gòn, Thống đốc Victor Duperré đã chuyển tiếp thông tin này cho Phái bộ tại Bắc Kinh, đồng thời lưu ý rằng cho đến nay nhà Thanh vẫn chưa nêu bất kỳ phản đối nào đối với các hiệp ước năm 1862 hay 1874, và bày tỏ quan điểm của mình rằng “địa vị chư hầu của An Nam chỉ mang ý nghĩa thuần túy lịch sử.” Ông hy vọng rằng Bộ trưởng Pháp tại Bắc Kinh sẽ đồng ý với ông rằng tốt hơn là không nên khuấy động quan hệ Trung–Pháp bằng cách làm lớn vấn đề chuyến thăm mang tính biểu tượng này.⁴⁹ Phản hồi của vị Bộ trưởng trong thư từ gửi về Paris có phần lưỡng lự—điều hoàn toàn dễ hiểu khi xét đến việc cả de Kergaradec lẫn Duperré đều đã đánh giá thấp một cách nghiêm trọng ý nghĩa của sứ bộ này. Quan hệ trong quá khứ giữa Việt Nam và Trung Quốc, ông thừa nhận, là một “vấn đề nghiêm trọng,” và ông hy vọng rằng sự lạc quan của Duperré về những lợi ích của việc duy trì nguyên trạng là có cơ sở vững chắc. Ông cho biết mình sẽ cố gắng hết sức để bảo đảm điều đó.⁵⁰
Ban đầu, Paris dường như đã chấp nhận phán đoán của những người đại diện của mình tại chỗ. Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, Công tước Louis Decazes, trong thư gửi Bộ trưởng tại Bắc Kinh vào tháng Năm năm 1877, ghi nhận rằng quyết định tập thể không nêu vấn đề bá chủ trong bối cảnh các sứ thần Việt Nam đã được biện minh hơn cả bởi thiện chí của nhà Thanh trong việc rút các lực lượng đã được điều qua biên giới để đối phó với tàn dư Thái Bình Thiên Quốc. Trong con mắt người Pháp, hành động này có ý nghĩa lớn hơn rất nhiều so với việc nhà Thanh tiếp nhận một sứ bộ triều cống từ Việt Nam. Tuy nhiên, Decazes cũng bày tỏ mối lo ngại rằng những truyền thống cũ rất khó bị xóa bỏ, và ông đặt ra một câu hỏi mà lẽ ra ông cùng các đồng sự nên suy ngẫm kỹ lưỡng hơn:
Liệu chúng ta có nên lo ngại rằng những dấu hiệu thần phục do vua Tự Đức [đối với Trung Quốc] thể hiện, cùng với các mối quan hệ thường xuyên mà ông duy trì với [nhà Thanh] thông qua việc trao đổi các sứ bộ chính thức, hàm ý sự tiếp tục của những mối ràng buộc chặt chẽ hơn, từ đó trao cho [Trung Quốc] một vai trò hậu thuẫn trong một chính sách [địa–chính trị] vốn hiếm khi tỏ ra thiện cảm với các cường quốc châu Âu, và những bất lợi của chính sách ấy rồi sẽ bộc lộ vào thời điểm mà việc đối xử tử tế với chúng ta không còn mang lại lợi ích cho Trung Quốc như hiện tại?⁵¹
Đáng chú ý là Bộ trưởng Pháp tại Trung Quốc dường như đã vượt qua sự dè dặt ban đầu của mình, và vài tháng sau đó ông đã viết một bức thư thẳng thắn hơn nhiều gửi về Paris. Đến thời điểm này, sứ bộ Việt Nam đã lên đường hồi hương, nên những tổn hại tiềm tàng đối với uy tín của chế độ bảo hộ Pháp đã xảy ra. Các sứ thần, ông báo cáo, đã không thực hiện chuyến viếng thăm xã giao được mong đợi tới Phái bộ Pháp tại Bắc Kinh, khiến Pháp rơi vào một vị thế khá khó xử trong con mắt người Trung Quốc. Vị Bộ trưởng bày tỏ những nghi ngờ cá nhân của mình đối với giả định rằng nhà Thanh đã âm thầm chấp nhận việc mất đi quyền bá chủ—chính ông là người đặt câu hỏi liệu bức thư năm 1875 của Thân vương Cung có được dịch chính xác hay không—và ông nhận xét rằng Việt Nam lúc này dường như có tới hai “người bảo hộ”, Pháp và Trung Quốc. Tuy vậy, sau khi đã nêu ra tất cả những điều này, ông vẫn đồng ý với sự đồng thuận trước đó rằng không nên trực tiếp nêu vấn đề này với nhà Thanh, trừ khi trong tương lai việc đó trở nên hoàn toàn không thể tránh khỏi.⁵²
Chương cuối của câu chuyện này diễn ra vào tháng Ba năm 1878, khi tờ Kinh báo (京報) chính thức của Bắc Kinh loan tin rằng các sứ thần Việt Nam trên đường trở về đã tới Huế. Trong thư gửi Bộ trưởng tại Paris—người thứ ba đảm nhiệm chức vụ này chỉ trong vòng chưa đầy hai năm—nhà ngoại giao Pháp đã mỉa mai ghi nhận rằng sắc lệnh chính thức của nhà Thanh gọi Tự Đức là cái mà ông gọi là một “vương công hạng hai” (nhiều khả năng phía Trung Quốc đã dùng một thuật ngữ chỉ người cai trị chư hầu). Tự Đức, ông bình luận, trong các hiệp ước ký với Pháp luôn tự xưng là “Hoàng đế”, một tước hiệu “đặt ông ngang hàng với quân chủ bá chủ của mình là Hoàng đế Trung Quốc, mà trên thực tế ông vẫn là chư hầu, như ta thấy [qua sắc lệnh này].” Phải chăng, ông than phiền, thật kỳ quặc khi một vị quân chủ được người Pháp tôn xưng là “Hoàng đế” và có quan hệ ngoại giao với họ lại duy trì một mối quan hệ hạ thấp như vậy mà chưa từng phản đối?⁵³ Dĩ nhiên, đây chính là mối quan hệ mà các quân chủ Việt Nam đã duy trì suốt nhiều thế kỷ—“Hoàng đế” đối với thần dân của mình nhưng là “vua chư hầu” khi giao thiệp với Trung Quốc—song không rõ người Pháp có thực sự hiểu được điểm này hay không. Dù sao đi nữa, người Pháp đã rút ra bài học của mình, và khi đến lúc Việt Nam chuẩn bị cử một sứ bộ khác sang Bắc Kinh vào năm 1880, ý tưởng này đã bị phủ quyết dứt khoát tại Paris. Tuy nhiên, quyết định đó đến quá muộn, và sứ bộ triều cống cuối cùng trong lịch sử Việt Nam đã diễn ra vào các năm 1880–1881.⁵⁴
Vấn đề bá chủ của nhà Thanh đã mang một hình thức đe dọa hơn nhiều vào năm 1878, khi một nhóm binh lính Trung Quốc nổi loạn dưới quyền viên tướng phản bội Lý Dương Tài chạy sang lánh nạn tại Việt Nam, và triều đình Huế đã gửi một yêu cầu chính thức tới Bắc Kinh đề nghị giúp đánh bại ông ta và trục xuất lực lượng của ông khỏi lãnh thổ Việt Nam. Phía Trung Quốc đã làm như vậy, và cuối cùng thông báo việc bắt giữ cũng như chuẩn bị xử tử ông ta bằng một sắc lệnh hoàng gia khẳng định rằng “hòa bình đã được tái lập đối với những kẻ là chư hầu của chúng ta theo quyền phong lập.”⁵⁵
Chuỗi sự kiện này cho thấy nhận xét của Bộ trưởng Pháp về việc Việt Nam có hai người bảo hộ thực chất là hoàn toàn chính xác: trong khi Pháp tin rằng Hiệp ước Philastre trao cho họ trách nhiệm độc quyền trong việc xử lý các hành động xâm nhập như vậy vào lãnh thổ Việt Nam, thì cả Huế lẫn Bắc Kinh đều tin chắc rằng Trung Quốc vẫn tiếp tục chia sẻ trách nhiệm đó với tư cách là bá chủ.
Sự bất đồng này trước hết dẫn tới các cuộc tranh cãi ngoại giao, rồi sau đó là một cuộc xung đột quân sự giữa Trung Quốc và Pháp. Khi tình hình an ninh nội bộ của Việt Nam tiếp tục suy thoái trong đầu thập niên 1880, Paris và Sài Gòn đã hoạch định và triển khai một cuộc can thiệp quân sự quy mô lớn vào Bắc Kỳ, nhằm đặt nền móng cho một chế độ bảo hộ toàn diện. Khi Trung Quốc tiếp tục can thiệp quân sự vào các tỉnh phía bắc Bắc Kỳ và mỗi bên đều khăng khăng cho rằng quân đội của mình hiện diện tại đó trên một cơ sở hợp pháp, xung đột trở thành điều không thể tránh khỏi. Chiến dịch của Pháp đạt tới đỉnh điểm với Hiệp ước Patenôtre năm 1884, văn kiện hoàn tất quyền kiểm soát của Pháp đối với Việt Nam và trên thực tế chấm dứt nền độc lập của nước này, nhưng vẫn chưa giải quyết được vấn đề Trung Quốc.
Sự công nhận của nhà Thanh đối với chế độ bảo hộ của Pháp và việc từ bỏ quyền bá chủ chỉ đến vào năm sau đó, sau một cuộc chiến tranh ngắn ngủi. Hiệp ước Thiên Tân năm 1885, do chính Patenôtre—người chịu trách nhiệm cho hiệp ước trước đó với Huế—đàm phán, quy định rằng “Trung Quốc, quyết tâm không thực hiện bất kỳ hành động nào có thể phương hại đến nỗ lực bình định do Pháp tiến hành, cam kết tôn trọng . . . các hiệp ước, công ước và thỏa thuận . . . giữa Pháp và Việt Nam.” Để phần nào xoa dịu thể diện của Trung Quốc, Điều khoản thứ hai tiếp tục nêu rằng, xét trong quan hệ Trung–Việt, “điều này được hiểu là . . . sẽ không làm tổn hại đến phẩm giá của Đế quốc Trung Hoa hay dẫn đến bất kỳ sự vi phạm nào đối với hiệp ước hiện hành.” Đã có nhiều tranh luận trong nội bộ phía Pháp về cách diễn đạt của mệnh đề sau, bởi họ quyết tâm bảo đảm rằng bản văn tiếng Trung không hàm ý điều gì mạnh mẽ hoặc có ý nghĩa chính trị hơn “phẩm giá.” Cách diễn đạt cuối cùng là 威望體面, kết hợp một thuật ngữ chỉ “uy danh” và từ thường được dịch là “thể diện.”⁵⁶ Với sự nhượng bộ mang tính hình thức này, một mối quan hệ triều cống kéo dài hàng thế kỷ đã chính thức và dứt khoát khép lại.

Lào, 1865–1893

Vì cả những lý do địa lý lẫn địa–chính trị, tương lai của vùng lãnh thổ sau này trở thành Lào thuộc Pháp đã phải mất hơn bốn thập niên mới được định đoạt; hiệp ước cuối cùng xác lập đường biên giới của nó chỉ được ký vào năm 1904, mặc dù phần lớn lãnh thổ Lào ngày nay đã được Bangkok nhượng lại vào năm 1893 sau Sự kiện Paknam gần Bangkok — một ví dụ điển hình của ngoại giao pháo hạm. Pháp bắt đầu dòm ngó Lào một cách thèm muốn khi mực trên bản hiệp ước năm 1863 với Campuchia còn chưa kịp khô. Trong suốt quá trình đàm phán kéo dài dẫn tới thỏa thuận năm 1867, theo đó Xiêm từ bỏ mọi yêu sách đối với chư hầu cụ thể đó, Paris ngày càng nhận thức rõ hơn tầm quan trọng tiềm tàng của các lãnh thổ Lào ở phía bắc, nhiều vùng trong số đó chưa từng được lập bản đồ và về cơ bản vẫn là terra incognita. Năm 1865, khi Lãnh sự Aubaret tại Bangkok đã đạt được sự chấp thuận của Xiêm đối với một phiên bản sớm của hiệp ước năm 1867, Chasseloup-Laubat đã phản đối một điều khoản quy định việc Pháp công nhận các đường biên giới hiện tại của các tỉnh phía tây Campuchia cũng như của “Lào thuộc Xiêm”. Phần lãnh thổ phía tây của Campuchia cuối cùng đã chính thức được nhượng cho Xiêm theo phiên bản cuối cùng của hiệp ước (dù sau đó sẽ được trả lại cho Campuchia vào năm 1907), nhưng mọi tham chiếu đến Lào đều bị loại bỏ theo yêu cầu của phía Pháp. Vị bộ trưởng không muốn thấy bất kỳ sự công nhận chính thức nào đối với các yêu sách của Xiêm ở phía bên kia sông Mekong, và ông lập luận rằng: “Lào thuộc Xiêm là gì nếu không phải là một cuộc xâm lấn mới, có chủ ý, vào một mảnh [lãnh thổ] hiện đang độc lập và mà chúng ta có lợi ích vô cùng lớn trong việc duy trì nó độc lập khỏi Xiêm?” Bất kỳ sự công nhận nào đối với “sự thống trị của Xiêm đối với Lào,” theo ông, “đều có thể làm tổn hại nghiêm trọng đến tương lai thương mại” của các lãnh thổ thuộc Pháp.⁵⁷
Việc Chasseloup-Laubat sử dụng từ “độc lập” phản ánh sự thiếu hiểu biết gần như hoàn toàn của người Pháp về khu vực mà họ đang nhìn bằng ánh mắt đầy thèm khát ấy. “Lào” vào thời điểm đó là một khái niệm rộng và mơ hồ, bao trùm những vùng ngày nay thuộc miền bắc và đông bắc Thái Lan, Lào, và tây bắc Việt Nam.⁵⁸ Hầu như không có thực thể chính trị nhỏ nào trong số đó có thể được mô tả là “độc lập”, và tất cả đều ở những mức độ khác nhau trong các phạm vi ảnh hưởng của Miến Điện, Xiêm, Trung Quốc và Việt Nam. Bản thân Aubaret, do sinh sống tại Bangkok, có cái nhìn rõ ràng hơn về tình hình. Trong thư gửi bộ trưởng ngoại giao, ông chỉ ra rằng một phần lớn của “Lào” thực sự nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của Xiêm — một thực tế không thể bỏ qua. Ông dường như chủ yếu ám chỉ các muang miền bắc Thái Lan gắn với vương quốc Lanna từng hùng mạnh, với trung tâm tại Chiang Mai; trái lại, ông mô tả cái mà ông gọi là “Lào An Nam” chỉ nằm dưới quyền lực danh nghĩa của Việt Nam, bởi cư dân ở đó là “những bộ lạc mà [người Việt] gom chung dưới cái tên gọi là Man rợ.”⁵⁹ (Thuật ngữ “Lào thuộc Việt Nam” sau này được người Pháp dùng để chỉ các lãnh thổ ở bờ trái sông Mekong được nhượng cho họ vào năm 1893, trong khi “Lào thuộc Xiêm” dùng để chỉ các khu vực ở bờ phải, sau này được sáp nhập vào Thái Lan ngày nay.)
Trong hai thập niên tiếp theo, Pháp dành phần lớn thời gian và nguồn lực để củng cố vị thế của mình tại Việt Nam, nhưng Lào chưa bao giờ hoàn toàn biến mất khỏi tầm nhìn của họ. Đặc biệt, Cuộc thám hiểm sông Mekong do Ernest Doudart de Lagrée và Francis Garnier chỉ huy (1866–1868), cũng như các sứ mệnh thám hiểm kế tiếp do Auguste Pavie dẫn đầu (từ 1879 đến 1895), đều nhằm mục tiêu lập bản đồ lãnh thổ ở cả hai bờ sông Mekong chi tiết nhất có thể, đồng thời tìm kiếm các tuyến đường tiếp cận trực tiếp tới Việt Nam và bằng chứng về quyền kiểm soát của Việt Nam. Những mục tiêu này đã được nêu rõ trong chỉ thị giao cho Doudart de Lagrée năm 1866, gần một thập niên trước khi hiệp ước năm 1874 đặt nền móng cho chế độ bảo hộ của Pháp tại Việt Nam. Mặc dù khả năng đòi hỏi các phần lãnh thổ của Lào nhân danh Việt Nam chưa được dự liệu rõ ràng vào thời điểm đó (xem chú thích 60 về một ngoại lệ), tiền lệ Campuchia hẳn đã khiến đây trở thành một khả năng rất thực tế.
Doudart de Lagrée và nhóm của ông đã một cách tận tâm tìm kiếm những dấu hiệu cho thấy quyền lực của Việt Nam ở phía bắc vùng bảo hộ Campuchia mới giành được. Phần cực nam của “Lào”, vương quốc nhỏ Bassac (Champassak), rõ ràng nằm dưới ảnh hưởng của Xiêm, và không thể khẳng định ngược lại. Tiến dần lên phía bắc, họ phát hiện một khu vực quanh Khemarat (ở bờ tây sông Mekong) trước đây từng triều cống cho Việt Nam; và khi tới sông Se Bang Hieng (nay thuộc tỉnh Savannakhet của Lào), họ cho rằng đã có bằng chứng rõ ràng về ảnh hưởng của Việt Nam, dù trên thực tế điều này dường như cũng chỉ giới hạn ở việc ghi nhận triều cống.⁶⁰ Tuy nhiên, ở những nơi khác trong khu vực, dường như không hề có bằng chứng chắc chắn nào, như chính Doudart de Lagrée đã thừa nhận; nhưng những gì họ thiếu về chứng cứ thì lại được bù đắp bằng trí tưởng tượng. Đoàn thám hiểm đưa ra tuyên bố rằng toàn bộ bờ đông sông Mekong trong khoảng vĩ độ từ 16 đến 17 độ theo truyền thống vốn nằm dưới sự kiểm soát của Việt Nam, và rằng Việt Nam chỉ bị người Xiêm đẩy khỏi khu vực này vào khoảng năm 1831.⁶¹
Phiên bản sự kiện này dường như đã được chấp nhận rộng rãi trong giới chức Pháp. Jules Harmand, người thám hiểm phần lớn cùng khu vực đó một thập niên sau, đã chỉ trích tuyên bố này là phóng đại, nhưng ông dường như là một trong số rất ít người Pháp nói như vậy; và ngay cả ông cũng cho rằng người Việt ở vùng núi coi sông Mekong là biên giới phía tây của đế quốc họ.⁶² Toàn bộ câu chuyện này trên thực tế là vô căn cứ về mặt lịch sử, và các biên niên sử Việt Nam cho thấy chính xác kịch bản ngược lại: rằng chỉ tới thập niên 1820 và 1830, triều Nguyễn mới tìm cách xác lập bất kỳ dạng quyền lực nào đối với khu vực nay là miền trung Lào.⁶³
Có hai điểm cần được nêu ra về quyền lực của Việt Nam đối với vùng lãnh thổ nay thuộc Lào. Thứ nhất, phần lớn quyền lực đó, nếu có, cũng chỉ mang tính danh nghĩa, thậm chí hoàn toàn mang tính lý thuyết. Cho tới cuộc tái tổ chức hành chính vùng biên giới dưới thời Hoàng đế Minh Mạng (trị vì 1820–1840) vào cuối thập niên 1820 và đầu thập niên 1830, các khu vực trong vùng này được xem là ki mi châu, tức là hầu như không có sự kiểm soát trực tiếp nào của Việt Nam, và có lẽ chỉ thỉnh thoảng gửi các đoàn triều cống. Ngay cả khi Minh Mạng tái phân loại các châu này thành huyện (đơn vị hành chính thường chỉ dùng cho vùng đồng bằng), chúng vẫn tiếp tục được cai quản bởi các thủ lĩnh phi-Việt, dưới quyền uy rộng rãi của các quan lại trong nội địa Việt Nam — những người có lẽ chưa bao giờ đặt chân tới những vùng xa xôi này.⁶⁴ (Ý tưởng tổ chức “huyện” tại một khu vực cư trú bởi “man di” vốn đã là điều nực cười trong phần lớn lịch sử Việt Nam.) Thứ hai, các bằng chứng cho thấy rằng những đơn vị hành chính được cho là do Việt Nam cai quản này nằm ở vùng cao, và không vươn xuống các khu vực đồng bằng giữa dãy núi và sông Mekong — nơi chủ yếu do người Lào sinh sống. Các muang của người Lào này hẳn đã nằm dưới quyền lực của vương quốc Viêng Chăn cho tới khi vương quốc này bị người Xiêm tiêu diệt vào cuối thập niên 1820; sau đó Bangkok mở rộng quyền lực của mình trên phần lớn bờ đông con sông. Khi làm như vậy, họ đã thay thế các thủ lĩnh Lào, chứ không phải các thủ lĩnh Việt Nam.⁶⁵
Khu vực duy nhất mà người Pháp có thể một cách hợp pháp viện dẫn quyền bá chủ của Việt Nam là vùng nay thuộc Xiêng Khoảng ở Lào (vương quốc Phuan trước đây, được người Việt gọi là Trấn Ninh) và các muang hiện tạo thành các tỉnh tây bắc của Việt Nam. Cư dân của những khu vực này từng triều cống cả cho người Lào (cụ thể là vương quốc Luang Phabang) lẫn người Việt. Pavie đã dành nhiều thời gian tại khu vực này vào cuối thập niên 1880 và đầu thập niên 1890, khi người Haw (tàn dư của phong trào Thái Bình Thiên Quốc và các nhóm lưu động khác) đang tàn phá vùng này, trong lúc người Xiêm cố gắng — nhưng không thành công — đàn áp họ. Giai đoạn này về cơ bản là một cuộc tranh chấp giữa người Xiêm đang mở rộng sang phía đông và người Pháp đang mở rộng sang phía tây từ Bắc Kỳ. Người Pháp giành phần thắng trong cuộc tranh chấp đó, song chủ yếu nhờ các mối đe dọa quân sự đối với một Xiêm bị quá tải và nhờ sức mạnh cá nhân của Pavie hơn là nhờ tính chính danh của các yêu sách về quyền bá chủ của Việt Nam.
Ở trung tâm các yêu sách của Pháp đối với Lào là Luang Phabang, có thể coi là vương quốc Lào mạnh nhất và tự chủ nhất còn lại sau khi Viêng Chăn bị tiêu diệt. Sử gia Thái Lan Pensri Duke cho rằng Pháp đã bắt đầu dòm ngó Luang Phabang ngay từ thời kỳ đàm phán hiệp ước năm 1867.⁶⁶ Tuy nhiên, phải đến đầu thập niên 1880 người Pháp mới bắt đầu đưa ra những yêu sách cụ thể đối với vương quốc này, và họ tiếp tục làm như vậy cho đến tận Khủng hoảng Paknam năm 1893 — sự kiện đã trao Lào vào tay họ. Năm 1882, Harmand (khi đó là Lãnh sự Pháp tại Bangkok) tuyên bố rằng ông đã nêu ý tưởng về một chế độ bảo hộ của Pháp với ba phái viên từ Luang Phabang; ông cho biết mình “kinh ngạc” trước việc họ hiểu đề xuất đó rõ ràng đến mức nào — và dường như còn tỏ ra thiện cảm — “bất chấp sự man rợ của họ.”⁶⁷
Bản đồ về Xiêm (màu đỏ) và Đông Dương thuộc Pháp (màu xanh dương) cùng các vùng ảnh hưởng của mình năm 1887. (Nguồn: The Dragon Historian)
Bản đồ về Xiêm (màu đỏ) và Đông Dương thuộc Pháp (màu xanh dương) cùng các vùng ảnh hưởng của mình năm 1887. (Nguồn: The Dragon Historian)
Bản đồ về Xiêm (màu đỏ) và Đông Dương thuộc Pháp (màu xanh dương) cùng các vùng ảnh hưởng của mình năm 1890. (Nguồn: The Dragon Historian)
Bản đồ về Xiêm (màu đỏ) và Đông Dương thuộc Pháp (màu xanh dương) cùng các vùng ảnh hưởng của mình năm 1890. (Nguồn: The Dragon Historian)
Bản đồ về Xiêm (màu đỏ) và Đông Dương thuộc Pháp (màu xanh dương) cùng các vùng ảnh hưởng của mình năm 1897. (Nguồn: The Dragon Historian)
Bản đồ về Xiêm (màu đỏ) và Đông Dương thuộc Pháp (màu xanh dương) cùng các vùng ảnh hưởng của mình năm 1897. (Nguồn: The Dragon Historian)
Về sau trong thập niên đó, Pavie (người mà việc bổ nhiệm làm phó lãnh sự Pháp tại Luang Phabang đã được phía Xiêm miễn cưỡng chấp thuận) bắt đầu thúc đẩy các yêu sách Pháp–Việt một cách mạnh mẽ hơn. Chính những chuyến đi thường xuyên của ông tới vương quốc này, cùng với sự hỗ trợ dành cho hoàng gia trong cuộc tấn công của người Haw năm 1887, đã góp phần đặt nền móng cho chế độ bảo hộ của Pháp sau này đối với toàn bộ Lào. Các cuộc xâm nhập của người Haw đã làm suy yếu nghiêm trọng quyền lực của Xiêm tại các lãnh thổ Lào, khi Bangkok tỏ ra phần lớn bất lực trong việc đẩy lùi họ bằng quân sự. Pavie là đúng người, đúng chỗ, đúng thời điểm, và đích thân ông đã giúp vị vua Luang Phabang tạm thời chạy trốn khỏi những kẻ xâm lược.⁶⁸ Thiện cảm mà ông giành được nhờ sự can thiệp cá nhân này về sau đã mang lại lợi thế lớn cho Pháp trong việc thiết lập chế độ bảo hộ tại Lào. Mặc dù hiệp ước năm 1893 chỉ có các bên ký kết là Xiêm và Pháp, giới tinh hoa Lào vào thời điểm đó nhìn chung đã chấp nhận sự cai trị của Pháp.
Các yêu sách của Pháp về quyền bá chủ của Việt Nam đối với Luang Phabang yếu hơn đáng kể so với trường hợp Campuchia. Mặc dù vương quốc Lào này đã gửi một vài đoàn triều cống sang Việt Nam sau khi triều Nguyễn được thiết lập năm 1802, nhưng ngoài ra họ có rất ít tiếp xúc với Huế, và các ghi chép chính thức trong sử liệu Việt Nam cho thấy trước năm 1800 hầu như không có sự tiếp xúc nào. Trái lại, người Xiêm đã thực thi quyền lực đáng kể đối với Luang Phabang trong hơn một thế kỷ trước khi người Pháp tìm cách đòi hỏi nó nhân danh Việt Nam. Các vị vua của Luang Phabang được người Xiêm làm lễ đăng quang và đôi khi còn do các vua Xiêm lựa chọn, và vương quốc này đã trở thành mục tiêu của sự bành trướng Xiêm kể từ thập niên 1760. Điều này cũng đúng đối với Viêng Chăn và Champassak, hai vương quốc Lào khác hình thành từ sự tan rã của vương quốc Lan Xang trước đây.⁶⁹
Trong suốt giai đoạn này, người Pháp vẫn tiếp tục khẳng định rằng về bản chất họ đang duy trì các quyền bá chủ của Việt Nam đối với lãnh thổ Lào. Lập trường này, như đã thấy, đã được hình thành ngay cả trước khi chế độ bảo hộ ban đầu được thiết lập vào năm 1874 và được củng cố trong những năm sau đó. Năm 1882, Harmand lập luận rằng Pháp nên “đặt các yêu sách của chúng ta ngang bằng với các yêu sách của người Việt và dựa chúng trên các bản đồ [của Việt Nam].”⁷⁰ Tuy nhiên, sau cuộc chinh phục hoàn toàn năm 1884, khi Pháp có toàn quyền tiếp cận các văn khố triều đình, viên sĩ quan quân đội được giao nhiệm vụ tìm kiếm bằng chứng tư liệu về quyền bá chủ của Việt Nam đã hầu như không thu được kết quả gì. Đối với phần lớn bờ đông sông Mekong, và đặc biệt là phía nam vĩ tuyến 18 (chính xác là khu vực mà các nhà thám hiểm trước đó từng tha thiết tìm kiếm ảnh hưởng của Việt Nam), Pháp “chỉ có thể đối trọng với sự chiếm hữu lâu dài [của Xiêm]” bằng các “quyền [của Việt Nam] mang tính truyền thống và hiếm khi được thực thi.”⁷¹
Không có gì ngạc nhiên khi người Xiêm nhìn chung tỏ ra coi nhẹ các yêu sách của Pháp nhân danh Việt Nam. Hoàng thân Devawongse, vị ngoại trưởng đầy ảnh hưởng vào cuối thập niên 1880, thẳng thừng tuyên bố rằng những yêu sách này — “vốn chưa bao giờ được Việt Nam đưa ra, ngay cả sau khi nước này trở thành một xứ bảo hộ của Pháp” — không chỉ bị bác bỏ bởi những bằng chứng lịch sử đáng kể mà còn bởi các bản đồ và tường thuật của nhiều nhà thám hiểm khác nhau, kể cả chính Đoàn thám hiểm Mekong.⁷² Nước Anh cũng vậy: khi can thiệp gần như vào phút chót trong năm 1893, họ nói với các quan chức tại Paris rằng nếu đi theo lập luận của Pháp, thì người Anh cũng có thể một cách hợp pháp đòi lại Normandy và các phần khác của nước Pháp từng thuộc về vương miện Anh.⁷³
Tuy nhiên, người Pháp không để các cân nhắc lịch sử cản trở mình, mà tiếp tục thúc đẩy chính sách ngoại giao pháo hạm (Sự kiện Paknam), và đạt được những kết quả hết sức thỏa đáng. Hiệp ước Pháp–Xiêm tháng 10 năm 1893 đã nhượng cho Pháp toàn bộ các lãnh thổ Lào ở bờ trái sông Mekong; một thỏa thuận tiếp theo năm 1904 bổ sung vào Lào thuộc Pháp các phần của các vương quốc Luang Phabang và Champassak nằm ở bờ phải con sông. Cần nhấn mạnh (như các tác giả Lào thường làm, với không ít cay đắng) rằng không có vị vua Lào nào là một bên tham gia ký kết bất kỳ thỏa thuận nào trong số này; chúng được ký kết giữa các bá chủ cũ và mới của các lãnh thổ đó. Xiêm buộc phải hài lòng với các vùng đất bờ phải — nay cấu thành khu vực đông bắc Thái Lan — và thực thể chính trị Lào trước đây đã bị chia cắt vĩnh viễn.

Kết luận

Hình 4.1 Bản đồ Đông Nam Á từ góc nhìn của Xiêm, năm 1869. V. A. Malte-
Brun, Carte du Royaume de Siam de la Cochinchine Française et du Royaume de 
Cambodge (Paris: Challamel, 1869) (downloaded from http://gallica.bnf.fr/).
Hình 4.1 Bản đồ Đông Nam Á từ góc nhìn của Xiêm, năm 1869. V. A. Malte- Brun, Carte du Royaume de Siam de la Cochinchine Française et du Royaume de Cambodge (Paris: Challamel, 1869) (downloaded from http://gallica.bnf.fr/).
Hình 4.2 Bản đồ Đông Nam Á từ góc nhìn của Việt Nam, năm 1838. From 
Jean-Louis Taberd, An Nam Đại Quốc Họa Đồ Tabula Geographica Imperii Anamitici (Calcutta: Oriental Lith. Press, 1838) (downloaded from http://gallica.bnf.fr/).
Hình 4.2 Bản đồ Đông Nam Á từ góc nhìn của Việt Nam, năm 1838. From Jean-Louis Taberd, An Nam Đại Quốc Họa Đồ Tabula Geographica Imperii Anamitici (Calcutta: Oriental Lith. Press, 1838) (downloaded from http://gallica.bnf.fr/).
Như đã được biết rõ, Đông Nam Á thời kỳ tiền thuộc địa không thể được chia thành những thực thể có ranh giới gọn gàng, được xác định cẩn thận. Ngay cả các phạm vi ảnh hưởng và những yêu sách về quyền bá chủ cũng không thể được lập bản đồ một cách dứt khoát, như được minh họa qua hai bản đồ gần như đồng thời do người châu Âu vẽ—một bản phản ánh góc nhìn của Xiêm và một bản phản ánh góc nhìn của Việt Nam (Hình 4.1 và 4.2). Chỉ riêng khu vực lục địa, đã phải mất hơn một thế kỷ kể từ đường biên giới đầu tiên giữa Miến Điện và Ấn Độ thuộc Anh cho đến việc hoàn thiện cuối cùng các đường biên giữa Xiêm và Campuchia thuộc Pháp. Nếu tính cả Bán đảo Mã Lai, thì quá trình này còn kéo dài ngược xa hơn nữa trong thời gian.
Nếu câu chuyện về quá trình thực dân hóa châu Âu ở Đông Nam Á, như Thongchai gợi ý, là sự thay thế dần dần của quyền bá chủ châu Á bằng chủ quyền phương Tây, thì tiến trình đó không hề diễn ra một cách thẳng thắn hay đồng nhất giữa các khu vực khác nhau trong vùng. Trên Bán đảo Mã Lai, người Anh nhìn chung thừa nhận phạm vi ảnh hưởng của Xiêm đối với các tiểu quốc phía bắc và chưa bao giờ công khai bác bỏ điều đó, mặc dù họ tìm cách làm suy yếu nó từng bước.⁷⁴ Trái lại, Pháp theo đuổi một chiến lược quyết liệt hơn—và có thể nói là phi logic, thậm chí đạo đức giả. Một mặt, người Pháp thừa nhận thực tế lịch sử về quyền bá chủ của Xiêm đối với Campuchia và một phần Lào, cũng như quyền bá chủ lâu đời hơn của Trung Hoa đối với Việt Nam. Mặt khác, họ thực sự tin rằng mình có thể một cách hợp pháp—dù đơn phương—vô hiệu hóa quyền bá chủ này thông qua các hiệp ước ký với các nước chư hầu, mà không cần tham chiếu tới các bá chủ. Chỉ sau khi Xiêm và Trung Hoa chứng tỏ rằng họ không chia sẻ niềm tin này, người Pháp mới buộc phải “lùi lại”, ký hiệp ước với chính các nước đó, sử dụng những kết hợp khác nhau giữa cây gậy và củ cà rốt.
Không hoàn toàn rõ ràng người Pháp đã tự hợp lý hóa cách tiếp cận này trong đầu họ như thế nào. Cách giải thích có khả năng nhất dường như là họ tin tưởng vững chắc vào thẩm quyền tối cao và tính chính danh của các hiệp ước thành văn, đến mức mỗi văn kiện mới ký với người Campuchia và người Việt, theo cách nhìn của họ, đã mặc nhiên vượt lên trên các yêu sách của Xiêm và Trung Hoa—những yêu sách mà theo họ là không có bằng chứng thành văn. Các quan hệ bá chủ–chư hầu của Xiêm được ngầm thừa nhận và được phản ánh trong thư từ chính thức giữa các vị quân vương, nhưng không phải là đối tượng của một hiệp ước cụ thể nào. Những nhận xét về việc thiếu tài liệu chính thức liên quan đến các yêu sách lãnh thổ của Xiêm đối với Campuchia và Lào xuất hiện nhiều lần trong các nguồn tư liệu Pháp—bất chấp thực tế rằng, như đã thấy, các quyền của Việt Nam đối với cùng những khu vực đó cũng không cụ thể hơn là bao. (Rất có khả năng việc Xiêm tìm cách vô hiệu hóa thỏa thuận năm 1863 giữa Norodom và de la Grandière bằng một “phản hiệp ước” thành văn phản ánh nhận thức của Bangkok về tầm quan trọng của văn bản.)
Cũng rõ ràng là người Pháp, ở một mức độ lớn, nhìn nhận quyền bá chủ của Xiêm và Việt Nam đối với các nước triều cống của họ như là được áp đặt bằng vũ lực; nếu đúng như vậy, thì các quyền đó—trong con mắt họ—kém chính danh về mặt chính trị và có thể bị làm suy yếu, thậm chí bị hủy bỏ bởi một cường quốc mạnh hơn.⁷⁵ Có thể lập luận rằng lối tư duy phương Tây của họ—dựa trên các tương tác giữa những quốc gia có chủ quyền và độc lập—đã không cho phép họ hiểu rằng một mối quan hệ bá chủ–chư hầu có thể không hẳn là điều không mong muốn, thậm chí là đáng ghê tởm, đối với thực thể ở vị thế thấp hơn. Các trước tác riêng tư và công khai của họ trong giai đoạn này liên tục thể hiện một niềm tin không lay chuyển rằng sự “nhân từ” của quyền giám hộ Pháp vốn dĩ sẽ hấp dẫn hơn đối với những kẻ được bảo hộ so với cái “ách áp bức” của quyền bá chủ truyền thống.
Trong trường hợp Việt Nam, việc Pháp nghi ngờ thực tế lịch sử và tính chính danh của mối quan hệ triều cống với nhà Thanh là điều khó khăn, nếu không muốn nói là bất khả. Tuy vậy, giả định vẫn là rằng bằng cách đưa vào một hiệp ước thành văn có hiệu lực pháp lý theo quan niệm phương Tây, họ có thể đơn phương chấm dứt vai trò của Trung Hoa trong các vấn đề của Việt Nam. Cũng như đối với Campuchia và Lào, người Pháp tin rằng một công cụ pháp lý của chủ quyền phương Tây sẽ thay thế tất cả các mối quan hệ hiện hữu khác. Các quan chức Pháp dường như thực sự sửng sốt khi nhận ra rằng cả Bắc Kinh lẫn Huế đều không hiểu hiệp ước năm 1874 theo cách đó.
Trên thực tế, người Pháp đang áp đặt sự thay thế của tình trạng đa bá chủ truyền thống (trong trường hợp Campuchia và Lào) bằng một bá chủ duy nhất—chính họ. Đối với Việt Nam, rõ ràng họ tin rằng vai trò “bảo hộ” của mình hoàn toàn tương đương với quyền bá chủ của Trung Hoa, và do đó họ đang một cách hợp pháp thay thế nhà Thanh ở vị trí này. Theo thời gian, thứ “bá chủ độc quyền” mới giành được ấy đã tiến hóa thành chủ quyền hoàn toàn và trực tiếp, với việc hình thành Liên bang Đông Dương thuộc Pháp như một thuộc địa hoàn chỉnh với các đường biên giới được xác định rõ ràng. Hành vi của Pháp trong suốt giai đoạn này cho thấy rằng, mặc dù họ có thể phân biệt giữa quyền bá chủ và chủ quyền, họ vẫn sẵn sàng trộn lẫn hai hình thức kiểm soát này khi điều đó có lợi cho mình. Ở một mức độ nào đó, chính sách này đã thành công, như bốn thập niên hiệp ước với Xiêm và Trung Hoa có thể chứng thực. Tuy nhiên, các mối liên kết tâm lý và văn hóa thì khó bị cắt đứt hơn. Xiêm vẫn tiếp tục là một điểm quy chiếu chính trị và văn hóa đối với các nhà dân tộc chủ nghĩa Campuchia và Lào, trong khi các lực lượng chống Pháp đủ mọi khuynh hướng ở Việt Nam lại tìm đến Trung Hoa để tìm cảm hứng, huấn luyện, và đôi khi là nơi trú ẩn thực sự. Những khuôn mẫu bá chủ cũ có thể đã bị xóa bỏ, nhưng di sản của chúng thì vẫn còn.

Chú thích

1. Thongchai Winichakul, Siam Mapped: A History of the Geo-Body of a Nation (Honolulu: University of Hawai’i Press, 1994).
2. Ibid., tr. 91, 106.
3. Ibid., tr. 81.
4. Một thảo luận chi tiết về các loại muang khác nhau trong chính thể Thái thời Ayudhya được trình bày trong S. J. Tambiah, World Conqueror & World Renouncer (Cambridge và New York: Cambridge University Press, 1976), tr. 133–8.
5. Thongchai, Siam Mapped, tr. 85–91; một khảo cứu chi tiết hơn xem Kobkua Suwannathat-Pian, Thai-Malay Relations: Traditional Intra-regional Relations from the Seventeenth to the Early Twentieth Centuries (Singapore và New York: Oxford University Press, 1988).
6. Về phái bộ de Montigny và bối cảnh của nó, xem Pierre Lamant, “Les prémices des relations politiques entre le Cambodge et la France vers le milieu du XIXe siècle,” Revue française d’histoire d’outre-mer 72, số 267 (1985), tr. 167–98 (tải từ persee.fr). Một tổng quan từ góc nhìn Campuchia xem Khin Sok, Le Cambodge entre le Siam et le Viêtnam (de 1775 à 1860) (Paris: École Française d’Extrême-Orient, 1991), tr. 149–56. Năm 1853, Ang Duong dường như đã tìm cách thiết lập quan hệ với Pháp thông qua viên lãnh sự của họ tại Singapore, nhưng tiếp xúc này khi đó không đem lại kết quả ngoại giao nào (tr. 149).
7. Trích trong Charles Meyniard, Le Second Empire en Indo-Chine (Paris: Société d’Éditions Scientifiques, 1891), tr. 383 (tải từ Thư viện Quốc gia Pháp, gallica.bnf.fr); nhấn mạnh thuộc về nguyên bản. Mọi bản dịch từ ngoại ngữ đều là của tác giả. Meyniard đã bảo vệ một cách thuyết phục de Montigny trước những cáo buộc của các tác giả sau này rằng ông thực chất đã được Paris giao nhiệm vụ thiết lập một chế độ bảo hộ nhưng đã thất bại (tr. 360–6).
8. Mongkut đã nhắc đến việc de Montigny thừa nhận quyền bá chủ của Xiêm trong một bức thư gửi Ang Duong viết vào khoảng thời gian này; xem thư năm 1856 của Mongkut gửi Ang Duong, trong Phratchahatthalekha Phrabat Somdet Phrachomklao Chaoyuhua [Thư từ hoàng gia của Vua Mongkut] (Bangkok: Mahamakut Royal College, 1978), tr. 67. Một bức thư tháng 3/1857 của de Montigny gửi Mongkut được đề địa chỉ là “Bệ hạ Quốc vương Xiêm, Người cai trị Lào, Bá chủ của Campuchia …”; trích trong Henri Cordier, La politique coloniale de la France au début du Second Empire (Indo-Chine, 1852–1858) (Leiden: Brill, 1911), tr. 133. Một tác giả thời thuộc địa đã thẳng thừng phủ nhận rằng de Montigny từng đưa ra sự nhượng bộ như vậy, nhằm biện minh cho việc từ chối thừa nhận các yêu sách của Xiêm; Louis de Carné, “Le royaume du Cambodge et le protectorat français,” Revue des deux mondes 79, số 2 (1869), tr. 865–6 (tải từ gallica.bnf.fr).
9. Meyniard, Second Empire, tr. 416–17. Meyniard không dẫn các chỉ thị này như một trích dẫn trực tiếp, nhưng rõ ràng ông có quyền tiếp cận giấy tờ của de Montigny và các tài liệu chính thức khác, và phong cách tiếng Pháp nguyên bản mang tính ngoại giao.
10. De Montigny đã tìm cách tranh thủ sự hỗ trợ của vị giám mục truyền giáo kỳ cựu tại Xiêm là Jean-Baptiste Pallegoix, nhưng ông này đã thẳng thừng từ chối; thư từ giữa hai người được in trong Cordier, Politique coloniale, tr. 72–6.
11. Chẳng hạn, tại các thuộc địa châu Á của Anh tồn tại một sự cạnh tranh tam giác giữa Bộ Thuộc địa, Bộ Ngoại giao và Văn phòng Ấn Độ thuộc Anh. Tác giả xin cảm ơn một phản biện ẩn danh đã chỉ ra sự tương đồng này.
12. Xem Pensri Duke, Les relations entre la France et la Thaïlande (Siam) (Bangkok: Chalermnit, 1962), tr. 23–30, bao gồm các trích đoạn từ tài liệu ngoại giao Pháp. Bóng ma của ảnh hưởng Anh mang tính ác ý tại Xiêm xuất hiện lặp đi lặp lại trong nhiều nguồn tư liệu Pháp đương thời; chẳng hạn, nhà thám hiểm và viên chức thuộc địa Louis de Carné tin chắc rằng những toan tính của Mongkut đối với Campuchia chịu ảnh hưởng từ Anh (“Royaume du Cambodge,” tr. 862).
13. Duke, Relations, tr. 19–20. Đầu năm 1861 đã diễn ra một cuộc trao đổi thân thiện các thông điệp và quà tặng giữa Đô đốc Léonard Charner tại Sài Gòn và Norodom; Albert Septans, Les commencements de l’Indo-Chine Française (Paris: Challamel Ainé, 1887), tr. 155–6 (tải từ gallica.bnf.fr).
14. Giám mục Miche gửi Lãnh sự de Castenau, ngày 15/8/1861, trích trong Duke, Relations, tr. 20. Mongkut trong thư gửi Ang Duong nói rằng ông đã thừa nhận với người Pháp rằng Campuchia cũng triều cống Việt Nam, nhưng mô tả Quốc vương Campuchia là “một người Thái thực thụ” (Thai thae), đã sống gần ba thập kỷ ở Bangkok trước khi lên ngôi và là bạn của Mongkut từ thuở nhỏ (Phratchahatthalekha, tr. 67). Bất chấp các cân nhắc địa-chính trị, người Thái và người Campuchia có mối liên hệ văn hóa gần gũi hơn nhiều, và quan hệ giữa hai triều đình cũng mật thiết hơn so với quan hệ của Campuchia với Việt Nam.
15. Đại Nam thực lục (Hà Nội: Giáo Dục, 2007), quyển 7, tr. 306 (phái bộ năm 1854), 493 (phái bộ năm 1857); các nhận xét về quan hệ của Campuchia với Pháp nằm ở tr. 668–9 và 682, cho năm 1860.
16. Ibid., quyển 7, tr. 769–70.
17 Paulin Vial, Les premières années de la Cochinchine colonie française (Paris: Challamel Ainé, 1874), tr. 172 (tải từ gallica.bnf.fr).
18. Bộ trưởng Phrakhlang Xiêm gửi Lãnh sự de Castenau, ngày 21/11/1861, trích trong Duke, Relations, tr. 22. “Cochinchina” trong văn kiện này chỉ toàn bộ Đế quốc Việt Nam; địa danh này đã trở nên phổ biến trong tiếng Anh và tiếng Pháp để chỉ vương quốc có kinh đô tại Huế trong giai đoạn 1600–1800, khi trên thực tế tồn tại hai “Việt Nam”. Do chính thể thống nhất sau năm 1800 do cùng một triều đại cai trị từ cùng một kinh đô, tên gọi cũ đôi khi vẫn được sử dụng, dù “Annam” dần thay thế nó.
19. Ghi chú của Ngoại trưởng Drouyn de Lhuys, trích trong Duke, Relations, tr. 28. “Hạ Cochinchina” chỉ vùng Đồng bằng sông Mekong; dưới thời thuộc địa, “Cochinchina” sẽ chỉ còn dùng cho phần lãnh thổ cụ thể này của Việt Nam, thay vì toàn bộ quốc gia như giải thích ở chú thích trước. Như đã nêu, vào thời điểm này Pháp mới chỉ chiếm đóng một nửa số tỉnh trong vùng châu thổ.
20. Chỉ thị của Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa Chasseloup-Laubat gửi Đô đốc de la Grandière, ngày 17/2/1863, Duke, Relations, tr. 30; thư của Đô đốc Bonard gửi Bộ trưởng Phrakhlang Xiêm, ngày 10/12/1862, tr. 26.
21. Viên chức thuộc địa Charles Lemire đưa ra một niên biểu chi tiết từ thế kỷ XI nhưng đã bóp méo đáng kể quan hệ giữa chính thể Angkor và Việt Nam nhằm củng cố lập luận này; Lemire, Exposé chronologique des relations du Cambodge avec le Siam, l’Annam et la France (Paris: Challamel, 1879) (tải từ gallica.bnf.fr). Một văn kiện do Lãnh sự quán tại Bangkok soạn thảo đã thừa nhận chính xác rằng ảnh hưởng của Xiêm tại Campuchia có trước ảnh hưởng của Việt Nam (“Histoire abrégée du Cambodge,” gửi về Paris từ Bangkok tháng 8/1863), dẫn trong Duke, Relations, tr. 21.
22. Chasseloup-Laubat gửi de la Grandière, ngày 18/8/1863, trích trong Duke, Relations, tr. 34. Sử gia Georges Taboulet nhận xét rằng các chỉ thị của bộ trưởng gửi de la Grandière trong những tháng trước đó “rất tinh vi và thậm chí có phần mâu thuẫn”; Taboulet, La geste française en Indochine, quyển 2 (Paris: Adrien-Maisonneuve, 1956), tr. 629. Một tổng quan về các mệnh lệnh mâu thuẫn từ Paris và sự biện hộ của vị đô đốc được trình bày ở tr. 621–9.
23. De la Grandière gửi Chasseloup-Laubat, ngày 5/10/1863, trích trong Duke, Relations, tr. 35.
24. Văn bản hiệp ước in trong A. B. de Villemereuil (chủ biên), Explorations et missions de Doudart de Lagrée (Paris: Imprimerie Bouchard-Huzard, 1883), tr. 94–101 (tải từ gallica.bnf.fr).
25. Straits Times, ngày 20/8/1864, có thể truy cập trực tuyến. Hiệp ước này đi kèm một bài bình luận nửa đùa nửa thật về lễ đăng quang như một sự phản ánh chính sách Pháp tại Campuchia. “Tại đây,” tác giả người Anh viết, “dưới vẻ ngoài của sự nhã nhặn cực độ, và chỉ bằng việc chỉ đạo một nghi thức cụ thể, một quốc gia vốn lâu nay triều cống Xiêm đã được người Pháp dựng thành một vương quốc độc lập; và một vị Phó vương [Norodom] được giải thoát khỏi sự trung thành cũ đối với thế lực đã nuôi dưỡng ông và ban cho ông chức vị ấy, để rồi được khiến phải nhìn về phía người Pháp với lòng biết ơn nồng nhiệt—những người đã phong ông làm Vua của một vương quốc không phải của họ để ban phát.”
26. Duke, Relations, tr. 43–4. Về chuyến đi Bangkok bất thành của Norodom, xem các tài liệu trong Villemereuil, Explorations, tr. 108–11. Sau khi không thuyết phục được nhà vua ở lại Oudong và để người Xiêm đến gặp mình, Doudart de Lagrée đã kéo cờ Pháp trên cung điện của Norodom và bắn vài phát đại bác. Nhà vua, khi đó đang trên đường sang Xiêm, đã vội vã quay lại Oudong. Một bức thư dài của Mongkut gửi Norodom nhằm đánh giá hệ quả của hiệp ước và lập kế hoạch cho lễ đăng quang nằm trong Phratchahatthalekha, tr. 105–17. Mongkut đang cố gắng duy trì một sự cân bằng mong manh giữa việc giữ lại càng nhiều quyền lực càng tốt đối với vị quân vương Campuchia và tránh khiêu khích trực tiếp người Pháp.
27. Xem các văn kiện trong Villemereuil, Explorations, tr. 104–108.
28. Thư tháng 2/1864 của Norodom gửi de la Grandière được dịch trong ibid., tr. 107–108. Bản tường thuật của phái viên Xiêm về các cuộc tiếp xúc với người Pháp dường như đã bị rò rỉ sang phía Anh và cũng được đăng trên Straits Times ngày 13/8.
29. Khả năng này đã được Lãnh sự Pháp Aubaret nêu ra vào năm 1864 (Duke, Relations, tr. 41).
30. Phratchahatthalekha, tr. 124–7.
31. Văn bản hiệp ước in trong Phụ lục 2, tr. 286–9, của Patrick Tuck, The French Wolf and the Siamese Lamb: The French Threat to Siamese Independence, 1858–1907 (Bangkok: White Lotus, 1993). Tuck cung cấp một nghiên cứu chi tiết về toàn bộ giai đoạn này.
32. Chỉ thị của de la Grandière gửi các viên chức Pháp được phái sang Campuchia, ngày 21/7/1863, trích trong Taboulet, Geste française, quyển 2, tr. 623.
33. Chasseloup-Laubat gửi Drouyn de Lhuys, ngày 10/12/1863, trích trong Duke, Relations, tr. 40; nhấn mạnh thuộc về nguyên bản.
34. De Carné, “Royaume du Cambodge,” tr. 863; de Carné tiếp tục mô tả mục tiêu của chính sách Pháp là “tự trị” của Campuchia.
35. Văn bản hiệp ước in trong Henri Cordier, Histoire des relations de la Chine avec les puissances occidentales 1860–1900, quyển 2, phần 1 (L’empereur Kouang-Siu, 1875–1887) (Paris: Felix Alcan, 1902), tr. 268–9 (tải từ gallica.bnf.fr). “Annam” là tên gọi Trung Hoa được dùng phổ biến nhất để chỉ Việt Nam, và người Pháp dần dần tiếp nhận nó để chỉ cả Việt Nam nói chung lẫn riêng vùng trung kỳ. Các nghiên cứu tổng quát về giai đoạn này xem Yoshiharu Tsuboï, L’empire viêtnamien face à la France et à la Chine 1847–1885 (Paris: L’Harmattan, 1987); và Lloyd E. Eastman, Throne and Mandarins: China’s Search for a Policy during the Sino-French Controversy 1880–1885 (Cambridge, MA: Harvard University Press, 1967).
36. Văn bản chữ Hán của hiệp ước có thể tra cứu dưới mục “第二次西貢條約”; nguồn văn bản được ghi là Đại Nam thực lục.
37. Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa de Montaignac gửi Ngoại trưởng Decazes, ngày 19/4/1875, trong Documents diplomatiques: Affaires du Tonkin, Phần 1 (Paris: Imprimerie Nationale, 1883) (sau đây viết tắt là DDAT), tr. 39.
38. Decazes gửi Viên Đại biện de Rochechouart, ngày 27/2/1875, ibid., tr. 30. “Appreciate” (apprécier) trong ngữ cảnh này có nghĩa là hiểu giá trị hay ý nghĩa của một điều gì đó, không nhất thiết là đánh giá tích cực.
39. De Rochechouart gửi Decazes, ngày 27/5/1875, ibid., tr. 44.
40. Đối với bản được sử dụng tại Việt Nam, xem văn kiện dẫn ở chú thích 36; bản dịch gửi triều đình Thanh in trong Guo Tingyi 郭廷以 và Wang Yujun 王聿均 (chủ biên), 中法越南交涉檔: 光緖元年至宣統三年 [1875–1911] (Đài Bắc: Trung ương Nghiên cứu viện, 1962), quyển 1, Văn kiện 3, tr. 4–10; đoạn trích ở đây lấy từ tr. 4.
41. De Rochechouart gửi Thân vương Cung, ngày 24/5/1875, DDAT, tr. 45–6; bản chữ Hán gốc in trong 中法越南交涉檔, Văn kiện 3, tr. 3.
42. Thân vương Cung gửi de Rochechouart, ngày 15/6/1875, DDAT, tr. 49; bản gốc in trong 中法越南交涉檔, Văn kiện 6, tr. 11–12; trích dẫn từ tr. 12.
43. De Rochechouart gửi Decazes, ngày 19/6/1875, DDAT, tr. 47.
44. Xem, chẳng hạn, thư Ngoại trưởng Léon Gambetta gửi Công sứ Trung Hoa tại Pháp Tăng Kỷ Trạch (Zeng Jize), ngày 1/1/1882, ibid., tr. 195.
45. Bộ trưởng Brenier de Montmorand gửi Decazes, ngày 30/9/1877, DDAT, tr. 71; Cordier, Relations de la Chine, tr. 281, chú thích 1, đã hiệu chỉnh bản dịch. Một nhà ngoại giao Pháp viết không lâu sau các sự kiện này đã tuyên bố rõ ràng rằng người Pháp đã hiểu sai lập trường của Trung Hoa do một bản dịch không chính xác; “Un Diplomate,” L’affaire du Tonkin (Paris: J. Hetzel et Cie, 1888), tr. 5.
46. Về những căng thẳng giữa 1874 và 1884, xem Nguyên Thế Anh, Monarchie et fait colonial au Viêt-Nam (1875–1925) (Paris: L’Harmattan, 1992), chương 1; và Bruce McFarland Lockhart, The End of the Vietnamese Monarchy (New Haven: Yale Council on Southeast Asia Studies, 1993), chương 1.
47. Các nhận xét này dựa trên việc đọc Đại Nam thực lục, quyển 8, bao quát giai đoạn 1874–83.
48. Lãnh sự de Kergaradec gửi Thống đốc Duperré, ngày 27/9/1876, DDAT, tr. 60–1.
49. Duperré gửi Brenier de Montmorand, ngày 18/10/1876, DDAT, tr. 58–60.
50. Brenier de Montmorand gửi Decazes, ngày 26/11/1876, DDAT, tr. 58.
51. Decazes gửi Brenier de Montmorand, ngày 30/5/1877, DDAT, tr. 63.
52. Brenier de Montmorand gửi Decazes, ngày 30/9/1877, DDAT, tr. 70–3. Paris đồng ý với đánh giá của ông; xem Ngoại trưởng de Banneville gửi Brenier de Montmorand, ngày 30/11/1877, DDAT, tr. 73–4.
53. Brenier de Montmorand gửi Ngoại trưởng Waddington, ngày 25/3/1878, DDAT, tr. 75–6. Thực tế, người Pháp cực kỳ thiếu nhất quán trong cách họ gọi Hoàng đế, ít nhất là trong ngôn ngữ của chính họ; chẳng hạn, văn bản tiếng Pháp của hiệp ước năm 1874 nói đến “Vua Annam,” trong khi bản chữ Hán trao cho ông đầy đủ tước hiệu Việt Nam là “Đại Nam Quốc Đại Hoàng Đế.” Sự kết hợp giữa “Vua” và “Annam” sẽ là vô cùng xúc phạm đối với người Việt; trên thực tế, bức thư của Hoàng đế Napoléon III mà de Montigny mang tới triều đình năm 1856 ban đầu đã bị khước từ chính vì nó xưng hô Tự Đức như thể ông chỉ là một vị vua chứ không phải hoàng đế; Taboulet, La geste française en Indochine, quyển 1, tr. 393–4.
54. Cordier, Relations de la Chine, tr. 308–15.
55. Sắc lệnh đề ngày 5/12/1879 được dịch trong DDAT, tr. 138–9; toàn bộ hồ sơ của sự kiện này nằm ở tr. 85–145.
56. Cordier, Relations de la Chine, tr. 533. Về câu chữ của hiệp ước, xem Documents diplomatiques: Affaires de Chine et du Tonkin 1884–1885 (Paris: Imprimerie Nationale, 1885), tr. 262–74, 288.
57. Chasseloup-Laubat gửi Drouyn de Lhuys, ngày 9/7/1865, trích trong Duke, Relations, tr. 46–7.
58. Mặc dù các nhóm sắc tộc chính nói tiếng Tai ở miền Bắc Thái Lan, một mặt, và ở Đông Bắc Thái Lan cùng vùng đồng bằng Lào, mặt khác, có sự tương đồng lớn về văn hóa và ngôn ngữ và từng được người Xiêm cũng như nhiều người châu Âu gộp chung dưới tên gọi “Lào,” nhưng trong nội bộ, chỉ nhóm sau mới tự gọi mình là “Lào,” và chính họ cùng ngôn ngữ của họ hiện nay được обознач bằng thuật ngữ đó.
59. Aubaret gửi Drouyn de Lhuys, ngày 10/11/1865, trích trong Duke, Relations, tr. 47.
60. Villemereuil, Explorations, tr. 455–6; Ernest Doudart de Lagrée, Voyage d’exploration en Indo-Chine (Paris: Hachette, 1873), tr. 262; Louis de Carné, Travels on the Mekong: Cambodia, Laos, Yunnan (Bangkok: White Lotus, 1995), tr. 130. Carné, người tham gia đoàn thám hiểm, nói đến “bằng chứng không thể chối cãi” về mối liên hệ Việt Nam này; ngay từ chuyến thám hiểm cuối thập niên 1860, ông đã dự liệu những yêu sách tương lai của Pháp đối với khu vực nhân danh Việt Nam.
61. Xem các tài liệu dẫn ở chú thích trước.
62. Xem, chẳng hạn, Jean-Louis de Lanessan, L’expansion coloniale de la France (Paris: Félix Alcan, 1886), tr. 477; và Charles Lemire, Le Laos Annamite (Paris: Challamel, 1894), tr. 8. Nhận xét của Harmand nằm trong “Rapport sur une mission en Indo-Chine,” Archives des missions scientifiques et littéraires, loạt 3, V (1878), tr. 269–70.
63. Đại Nam thực lục, quyển 3, tr. 154–5, 372–3; và Đại Nam liệt truyện (Huế: Thuận Hóa, 1993), quyển 2, tr. 570–86. Về tổng quan lịch sử vùng biên giới Lào–Việt, xem Nguyễn Thế Anh và Saveng Phinith trong Les frontières du Vietnam, tr. 185–203.
64. Một địa lý lịch sử của các vùng lãnh thổ này xem Đại Nam nhất thống chí, quyển 2, tái bản lần 2 (Huế: Thuận Hóa, 2006), tr. 134–65.
65. Quyền lực của Xiêm ở cả hai bờ sông Mekong được thể hiện rất rõ trong cả sử Thái và sử Lào thời kỳ này. Toem Wiphakphochanit, Prawatsat Isan (Bangkok: Thammasat University, 1987), cung cấp một tường thuật chi tiết về sự mở rộng kiểm soát của Bangkok trên gần như toàn bộ đoạn Mekong từ Viêng Chăn đến biên giới Campuchia. Ngay cả sử học Lào mang tính dân tộc chủ nghĩa mạnh cũng không tìm cách chứng minh chủ quyền của Lào đối với lãnh thổ này trong những thập niên trước khi Pháp đô hộ.
66. Duke, Relations, tr. 116.
67. Lãnh sự Harmand gửi Thống đốc Cochinchina Le Myre de Vilers, ngày 17/5/1882, trích trong Duke, Relations, tr. 116.
68. Tường thuật của Pavie về các sự kiện này nằm trong A la conquête des cœurs (Paris: Bossard, 1921).
69. Xem David Wyatt; Walter Vella; Martin Stuart-Fox. Về quan hệ Việt Nam – Luang Phabang, xem Đại Nam liệt truyện, quyển 2, tr. 603–607.
70. Harmand gửi Le Myre de Vilers, ngày 8/5/1882, trích trong Duke, Relations, tr. 116.
71. Báo cáo của Đại úy Luce, ngày 15/10/1888, trích trong Duke, Relations, tr. 130. Ông miễn cưỡng mô tả quyền lực của Xiêm là “không công bằng … nhưng khá hiệu quả.”
72. Ngoại trưởng Devawongse gửi Công sứ Pháp tại Bangkok de Kergaradec, ngày 30/5/1888, trích trong Duke, Relations, tr. 129; xem thêm Devawongse gửi Công sứ Pháp Pavie, ngày 4/4/1893, Duke, Relations, tr. 147.
73. Đại sứ Anh tại Paris Lord Dufferin gửi Ngoại trưởng Lord Rosebery, ngày 26/7/1893, Duke, Relations, tr. 163.
74. Xem Kobkua, Thai-Malay Relations.
75. De Montigny, trong thư gửi bộ trưởng sau khi rời nhiệm sở, mô tả các quyền của Xiêm đối với Campuchia là “không hơn gì quyền của kẻ mạnh đối với kẻ yếu”; trích trong Cordier, Politique coloniale, tr. 113. Jean Moura cho rằng Mongkut không thể phản đối hiệp ước năm 1863 với Norodom vì ông không có “tài liệu thành văn xác thực” để hậu thuẫn cho các yêu sách bá chủ của mình, và rằng cả Xiêm lẫn Việt Nam chỉ có thể áp đặt quyền bá chủ của họ thông qua “việc lạm dụng sức mạnh đối với một láng giềng mà họ đã từng bước tước đoạt lãnh thổ và làm cho suy kiệt”; Jean Moura, Le royaume du Cambodge, quyển 2 (Paris: Ernest Leroux, 1883), tr. 130.