Bạn đã bao giờ coi một vở tuồng cải lương chưa? Bạn đã bao giờ được nghe những câu chuyện kể về cải lương chưa? Hay bạn đã bao giờ biết đến cải lương chưa? Mỗi lần tôi nghĩ trong đầu những câu hỏi ấy là tôi lại liên tưởng đến một viễn cảnh tồi tệ là cải lương sẽ biến mất mãi mãi vì thế hệ bây giờ ít có ai còn giữ được ngọn lửa đam mê với loại hình nghệ thuật này. 
Tôi nhớ hồi còn bé, bà ngoại là người rất thích coi cải lương. Thời mà TV chưa có kiểu stream được YouTube, mọi người thường mua đĩa DVD về coi một bộ phim nào đó. Riêng bà ngoại là mua đĩa cải lương về coi. Lúc đó ngoài Bắc thì ít chỗ bán đĩa  cải lương lắm nhưng không phải là không có. Chưa bao giờ tôi để ý đến cải lương vì tôi thấy nó boring quá với cả mình còn trẻ thì phải nghe những thể loại nhạc thịnh hành bây giờ. Nhưng tiếc rằng tôi không phải là người thuộc thế hệ Gen Z mặc dù tôi sinh ra là Gen Z. Tôi không thích nghe những loại nhạc thịnh hành bây giờ hay nhạc EDM. Tôi trung thành một đời với jazz. Nhưng nhắc đến cải lương thì tôi mới thích gần một năm nay. Khi mà mạng xã hội rần rần câu “Trời ơi, bão táp mưa sa. Một Dương Vân Nga có chống đỡ nỗi sơn hà?” thì tôi bắt đầu để ý đến. Tôi nhận ra một điều rằng cải lương bây giờ có một sức ảnh hưởng lớn đến thị trường âm nhạc Việt Nam đó chứ. Chắc hẳn mọi người đều biết bài Về Nhà Nghe Mẹ Ru của Hứa Kim Tuyền, qua giọng hát của Hoàng Dũng, 14 Casper, và cải lương chi bảo Bạch Tuyết với phần ca vọng cổ ngọt lịm. Bài hát đạt hơn 18 triệu lượt coi trên YouTube tính đến thời điểm này. Cùng với đó là đạt giải Làn Sóng Xanh 2022 cho hạng mục Sự Kết Hợp Xuất Sắc Nhứt và TikTok Award cho hạng mục Bài Hát Của Năm. Điều đó chứng tỏ rằng việc phối hợp giữa cổ nhạc vào dòng nhạc bây giờ luôn gây được sự chú ý cao và làm thích thú người nghe vì sự mới mẻ này. 
Trước năm 1975, cải lương là số một của người dân miền Nam. Có người còn ví cải lương như là mạch sống của thị dân lúc đó. Khắp Nam kỳ lục tỉnh, ở đâu cũng có một gánh hát cải lương ghé đến rồi đi. Họ đem lời ca tiếng nhạc mua vui cho khán giả tại địa điểm đó. Không ai là không đến coi. Họ coi vì họ yêu mến cải lương. Ngày xưa làm gì có micro như bây giờ nên các nghệ sĩ phải hát to, thậm chí phải gào lên để cho khán giả nghe thấy những câu vọng cổ vì đôi khi họ diễn trên sông mà bà con đang ở trên bờ chú ý dõi theo. Tôi chợt nhớ đến mấy câu hát.
Người ngồi đó còn có nghe tôi
Tâm tình đầy vươn lên đắm đuối
Người đừng trách một kiếp cầm ca
Con tằm nào không muốn vương tơ.
Người nói đi như tim người nghĩ
Làm nghề xướng ca tôi mang tội gì
Họa là có chăng tôi mang tội đời
Làm cho nhân thế say mê.
trong nhạc phẩm Phận Tơ Tằm của nhạc sĩ Minh Kỳ. Cái nghề diễn được ví như là con tằm. Lúc nào cũng phải nhả tơ cho đến chết. Người nghệ sĩ cũng vậy. Cháy hết mình với đam mê. Sân khấu là nơi họ toả sáng cũng là nơi họ giã từ. Người xưa hay quan niệm “xướng ca vô loài” là những người biểu diễn không bao giờ được coi trọng trong xã hội. Thế nhưng có một nghịch lý là nếu không được coi trọng thì tại sao khán giả vẫn bỏ tiền đến coi thậm chí là còn say mê tiếng hát của họ nữa như trong lời bài hát Phận Tơ Tằm vậy? Cái nghề cầm ca là một cái nghiệp nhưng cũng là một cái duyên mà Tổ thương trời đãi cho cái người hát hay người diễn đó được toả sáng. Một điểm đặc biệt mà tôi thích ở cải lương đó cái cách họ hát một câu rồi sau đó khán giả vỗ tay. Trong vở Nửa Đời Hương Phấn của tác giả Hà Triều Hoa Phượng, lúc bà Sáu biết được cô The (Hương) làm gái trên Sài Gòn, thay vì bà phải tức giận như ông Sáu, thì bà lại ôm The vô lòng, quay sang chồng khi mà ông quyết đuổi The đi, rồi ca. “Ông, ông nói vậy nghe sao phải. Con mình nó là con gái. Tuổi chỉ quá hai mươi. Nó như một cây non chưa đứng vững giữa đời, chưa quen đương đầu với nắng mưa sương gió. Làm cha mẹ thì cũng tựa như cây cổ thụ. Phải che chở cho con trong những khi nắng dãi mưa….dầu!” Ca cao lên rồi hạ tông xuống để đánh mạnh vô cái chữ cuối cùng đó. Trời ơi, nó đã gì đâu luôn ấy. 
Cải lương xuất phát từ miền Nam được hiểu là hình thành của dòng nhạc Đờn ca tài tử và dân ca Nam bộ. Theo Giáo sư Trần Văn Khê, cải lương là sửa đổi trở nên tốt đẹp hơn thể hiện qua sân khấu nghệ thuật, kịch bản, cách biểu diễn, và nhạc. Quả đúng là như vậy. Cải lương đâu chỉ có ca mấy câu vọng cổ là xong đâu. Cùng với đó là kỹ thuật biểu diễn sân khấu nữa. Trong vở tuồng cải lương hồ quảng Thần Nữ Dâng Ngũ Linh Kỳ của tác giả Thanh Tòng và Minh Tơ, phân cảnh Thần Nữ do nghệ sĩ Tài Linh đóng gặp Phàn Lê Huê do nghệ sĩ Lệ Thuỷ đóng đã có những màn múa điêu luyện và uyển chuyển từ những nét diễn trên tay và trên cơ thể. Không có động tác nào là thừa cả. Giống như mình đang coi một vở tuồng Tàu vậy. Hay vở Xử Án Phi Giao của tác giả Bạch Mai do Ngọc Huyền đóng, Phi Giao đã được thể hiện một cách tàn độc, mưu mô, xảo quyệt qua cái ánh mắt sắc như dao lam của Ngọc Huyền hay đến đoạn Phi Giao phải lãnh án, Ngọc Huyền quay cuồng trong tấm lụa màu tang trắng để chứng tỏ Phi Giao sẵn sàng đền tội cho những gì bà ta gây ra. Hay vở cải lương Thái hậu Dương Vân Nga của soạn giả Hoa Phượng, Chi Lăng, Hoàng Việt, Thể Hà Vân, do nghệ sĩ Bạch Tuyết đóng, sau khi nghe tin Ải Chi Lăng đang bị quân xâm lược vây khốn, Dương Vân Nga không chịu cam lòng; bà nhìn vô những cây giáo cây gươm mà nói rằng. “Ơi giáo ơi gươm, sao lại chịu lạnh lùng hoen rỉ? Nghe đâu các ngươi xưa đã từng theo Tiên đế một thời oanh liệt. Sao bây giờ trầm mặc trong gian khổ cam chịu phận hẩm hiu?” Rồi tay bà chạm vào từng cây giáo để chiêu hồn và ca lên những vẻ vang huy hoàng, những bất khuất, những sát khí, những oai hùng khi quân ta cầm giáo cầm gươm lên chiến đấu vì đất nước. Từng cách nghệ sĩ Bạch Tuyết múa khiến cho tôi cảm thấy như Thái hậu Dương Vân Nga không bao giờ để cho tướng sĩ ba quân phải giảm nhuệ khí chiến đấu, khơi dậy cái tinh thần chống ngoại xâm. Vở Tiếng Trống Mê Linh của đoàn Thanh Minh, dựa trên kịch bản Trương Vương của Việt Dung, với nghệ sĩ Thanh Nga trong vai Trưng Trắc, trong cảnh bà đứng trước bàn thờ tế sống Thi Sách, bà đã đội khăn tang lên đầu rồi lạy hai lạy. “Lạy thứ nhất thiếp xin tạ tội vì không đủ tài cứu được phu quân. Lạy thứ hai thiếp mong được thứ tha vì đau lòng tế sống người bạn trăm năm chăn gối. Ôi trời Luy Lâu chưa tan hồi trống trận mà đất Mê Linh hoa lá vội vương sầu.” Bà biết nếu nổi trống tấn công thì Thi Sách sẽ bị đưa lên giàn hoả nhưng bà vẫn phải làm vì nước cho dù phải hy sinh “người đã vai kề vai gánh nặng non sông, nhưng hỡi ơi khi tang bồng nay chưa kịp thoả thì đường âm dương cách trở lằng lặng áng mây…sầu”. Đó là cái đẹp của cải lương. Không chỉ là để hát mua vui mà còn là nói lên lòng yêu nước và ý chí bất khuất, nghĩa khí hào hùng của dân tộc Việt Nam trước sự xâm lăng của một nước nào đó. “Sông núi nước Nam vua Nam ở/Rành rành định phận ở sách trời/Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Có lẽ cải lương thường hay đi sâu vào lòng khán giả mộ điệu vì nó mang tính chất xã hội trong đó. Nó rất đời thường. Nó có thể là những câu chuyện xoay quanh một cuộc tình, một gia đình với nhiều biến cố xung đột, một người con dâu bị nhà chồng hắt hủi, một thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ, một vấn đề gì đó trong xã hội, hay là tình cảm cha-con, mẹ-con. Tất cả đều có thể trở thành chất liệu để viết lên một vở cải lương mùi mẫn và đi sâu vô lòng người. Có thể kể đến là Tô Ánh Nguyệt của soạn giả Trần Hữu Trang, Duyên Kiếp của soạn giả Hoàng Song Việt, Cho Chọn Cuộc Tình của soạn giả Yên Lang, Bên Cầu Dệt Lụa của soạn giả Thế Châu, Lan và Điệp của soạn giả Viễn Châu, Tần Nương Thất của soạn giả Hà Triều Hoa Phượng, Nghêu Sò Ốc Hến của soạn giả Năm Châu. Đó là những vở tuồng mang nặng tính xã hội mà các soạn giả khai thác để đem lên sân khấu. Nếu được coi là đỉnh của đỉnh thì phải nhắc tới vở Đời Cô Lựu của soạn giả Trần Hữu Trang kể về cuộc đời thăng trầm của người đàn bà tên Lựu khi mà không có sự lựa chọn trước những thứ ập đến trong cuộc đời của mình. Người đàn bà ấy vừa đáng thương vừa đáng trách nhưng suy cho cùng bà cũng chỉ là nạn nhân của một trấn trò đời mà thôi. Cảnh ông Hội đồng Thăng kêu bà Lựu lấy cây ba toong cho ông, trong cơn say ngà, ông không nhịn được sự lạnh lùng của vợ mà thốt lên. “Từ ngày bà bước chân vô cái nhà này, tôi chưa bao giờ thấy bà nở với tôi một nụ cười. Khuôn mặt lúc nào cũng trầm tư, u uất, nặng nề, âm trì, địa ngục. Mười chín hai mươi năm nay bà còn chờ đợi cái gì, còn cái gì bà chờ đợi? Xương cha cũng mục chứ đừng nói đến xương con. Tức tôi quá mà!” Rồi cô Lựu oà khóc, thể hiện sự đau đớn đến tột cùng khi mình làm vợ lầm người và chịu cảnh sống không hạnh phúc này. Đến lúc bà gặp lại đứa con mà mình tưởng đã chết trước kia và sau này gặp lại người tình cũ đã bị ông Hội đồng hãm hại, bà không kìm được nước mắt và mong muốn được chuộc lỗi do mình đã gây nên cho dù bà không có lỗi gì. Chao ôi, nhìn nghệ sĩ Bạch Tuyết đóng vai Lựu mà tôi lúc nào cũng rơi lệ vì bà đóng quá đạt. Tôi khóc vì thương cho đời của cô Lựu. Hỡi ơi, người đàn bà dù sống trong thời nào cũng có những nỗi khổ riêng mà không sao dứt được. Đến cuối cùng, sau khi ông Hội đồng Thăng ra người thiên cổ do Minh Luân xuống tay, bà đã kêu mọi người chạy đi để mình bà gánh chịu mọi tội lỗi. Khi lính cai tới, bà cầm trên tay con dao mà Minh Luân đã dùng lên ông Hội đồng và nói. “Chuyện các người, các người cứ làm. Lửa là phải hủi. Ra tay đi!” Chứng tỏ bà không còn luyến tiếc điều gì trên cõi đời này nữa. Có lẽ được gặp lại người tình năm xưa mà bà hết lòng yêu thương và đứa con tưởng như đã đi xa là điều bà mãn nguyện rồi nên cho dù có chuyện gì xảy ra với bà mà những người bà yêu thương được an toàn thì bà cũng chấp nhận. 
Có thể nói rằng ngoài kịch nói ra, cải lương là một loại hình nghệ thuật duy nhất mà khai thác được đủ các thể loại. Từ cổ chí kim đến hiện đại. Từ tuồng tích từ Trung Hoa cho đến những nhân vật anh hùng có thật trong lịch sử. Tất cả đều được cải lương chinh phục. 
Các vị tổ của ngành cải lương có thể kể đến là bà Phùng Há, bà Năm Sa Đéc, bà Bảy Nam (thân mẫu nghệ sĩ Kim Cương) soạn giả Năm Châu, soạn giả Trần Hữu Trang, soạn giả Cao Văn Lầu với bài Dạ Cổ Hoài Lang, soạn giả Viễn Châu, soạn giả Hà Triều Hoa Phượng. Đó là những người đặt nền móng cho nền cải lương Việt Nam. Còn những nghệ sĩ đã làm rạng danh cải lương và đưa loại hình nghệ thuật này phải kể đến là cố nghệ sĩ Thanh Nga của đoàn cải lương Thanh Minh - Thanh Nga, chi bảo Bạch Tuyết (tiến sĩ nghệ thuật học đầu tiên của Việt Nam), nghệ sĩ Thanh Tòng, nghệ sĩ Hồng Nga, nghệ sĩ Diệp Lang, nghệ sĩ Minh Vương, nghệ sĩ Lệ Thuỷ, nghệ sĩ Ngọc Giàu, nghệ sĩ Thành Được, nghệ sĩ Phượng Liên, nghệ sĩ Thanh Tòng, nghệ sĩ Thanh Sang, nghệ sĩ Vũ Linh, nghệ sĩ Kim Tử Long, và còn nhiều nghệ sĩ khác nữa. Họ là những người gìn giữ cái hồn tuý và cái đẹp của cải lương để cho loại hình này không bị mai một. Nghệ sĩ Bạch Tuyết từng nói rằng. “Cải lương sẽ không bao giờ chết vì tiếng Việt còn thì cải lương còn.” Đó là lời khẳng định đanh thép của một người nghệ sĩ đã cống hiện trọn cuộc đời cho cải lương. Bà nói vậy là vì bà vẫn tin rằng sau thế hệ của bà vẫn còn có những thế hệ sau và sau nữa tiếp ngọn lửa của cải lương. Và mong sao cải lương vẫn còn sống mãi.