By Carlos Latuff: Iran has the right to defend itself.
By Carlos Latuff: Iran has the right to defend itself.
Iran – hay Ba Tư – đứng giữa hai thế giới. Nó có một lịch sử lâu dài với tư cách là một nền văn minh riêng biệt và là một trung tâm đế quốc. Triều đại Achaemenid trong thế kỷ VI TCN, triều đại Sassanid trong thế kỷ IV CN, và triều đại Safavid trong thế kỷ XVI CN đều là những triều đại cai trị vĩ đại nhất thế giới ở thời đại của họ.
Đa số người dân Iran là hậu duệ Ba Tư và nói tiếng Farsi. Không như người Ả Rập, họ không chống nổi chính quyền Ottoman trong thế kỷ XVI, người Ba Tư bao giờ cũng giữ lại nền độc lập của mình.
Song Iran cũng là một phần của Trung Đông rộng lớn hơn – không chỉ bởi vị trí của nó, một khối đất liền lớn cắt ngang rìa phía đông của khu vực, mà cũng bởi nó đã trở thành một quốc gia Hồi giáo trong thế kỷ VII, và một quốc gia sản xuất dầu lửa chủ yếu trong thế kỷ XX.
Tuy nhiên, giữa các năm 1909 và 1951, Iran không hơn gì nhiều một thuộc quốc của chủ nghĩa đế quốc Anh. Toàn bộ sự tồn tại của nó xoay quanh hoạt động của Công ty Dầu khí Anh-Ba Tư (bây giờ là BP). Sự thiết lập tân thuộc địa này có nghĩa là công ty này lấy đi 750 triệu bảng mỗi năm, Iran còn 100 triệu, và lương của các công nhân dầu lửa chỉ đủ trang trải cho những nhu yếu phẩm. Các cuộc đình công đã bị cảnh sát của công ty đè bẹp.
Năm 1951, Mặt trận Dân tộc của Mohammad Mossadegh, được Đảng Tudeh (những người cộng sản) ủng hộ, đã giành chính quyền ở Iran và quốc hữu hóa công nghiệp dầu lửa. Nhưng chính phủ dân tộc chủ nghĩa đã yêu cầu quân đội quét sạch ra khỏi đường phố những người biểu tình và những người đình công đòi cải cách triệt để. Bằng cách ấy nó đã phá hoại cơ sở xã hội của chính mình. Chính phủ bị lật đổ trong vài ngày bởi một cuộc đảo chính nội bộ do CIA và MI6 hậu thuẫn.
Shah^4, Mohammad Reza Pahlavi, tiến hành việc thiết lập một bộ máy an ninh tàn bạo nhất trên thế giới. SAVAK, cảnh sát mật, đã phình to thành một tổ chức có 5.000 điệp viên làm việc toàn thời gian và một số lượng không thể đếm xuể những kẻ chỉ điểm. Các lực lượng vũ trang, được cấp vốn bằng sự giàu có đến từ dầu lửa, được tái trang bị bằng bộ công cụ tối tân của Mỹ, Anh, và Pháp. Bộ máy này đã được sử dụng để biến Iran thành một nhà nước độc đảng bị cai trị bởi một tên độc tài đội lốt thành một ông vua.
^4 Vua Iran
Shah phát động cuộc ‘Cách mạng Trắng’ được thiết kế để biến Iran thành một nền kinh tế công nghiệp hiện đại. Đó là một cương lĩnh tích tũy tư bản do nhà nước điều khiển. Kế hoạch cho giai đoạn 1973–1978, chẳng hạn, cho thấy một cơ cấu đầu tư gồm 46 tỷ đô-la tư bản nhà nước, 23 tỷ đô-la tư bản tư nhân Iran, và 3 tỷ đô-la tư bản nước ngoài. Kinh tế Iran trở thành một nền kinh tế hỗn hợp gồm dầu lửa, sản xuất, xây dựng, và dịch vụ. Vào cuối những năm 1970, Iran có 2,5 triệu công nhân trong ngành sản xuất và 3 triệu công nhân trong ngành dịch vụ.
Tuy nhiên, chế độ lâm vào khủng hoảng. Nhu cầu dầu lửa toàn cầu đã sụp đổ với sự khởi đầu của cuộc Suy thoái kéo dài vào năm 1973. Căng thẳng xã hội lúc này củng cố cuộc vận động cho dân chủ và cải cách. Từ đầu mùa hè 1977 trở đi, các cuộc đình công và biểu tình trở thành những sự kiện thường xuyên. Các sinh viên, trí thức, và chuyên gia xuống đường để công kích chế độ kiểm duyệt và chế độ chuyên chế. Dân cư trong khu ổ chuột tuần hành phản đối việc san ủi những ngôi nhà của họ. Hàng trăm người bị bắn gục.
Lãnh tụ tôn giáo dòng Shia lưu vong là Ayatollah Khomeini đã kêu gọi giới tu sĩ và các tín đồ sùng đạo chống lại sự áp bức. Phong trào từ đó đã lôi kéo những lực lượng đa dạng: giai cấp trung lưu hiện đại, giới tu sĩ và tiểu tư sản ở những khu chợ, giai cấp công nhân hiện đại, và dân nghèo thành thị. Thêm nữa, vào tháng Hai năm 1978, tại thành phố công nghiệp Tabriz, lần đầu tiên những người biểu tình đã đánh trả bạo lực của bọn cảnh sát; họ tiếp tục tấn công các đồn cảnh sát, các trụ sở chính của đảng, các ngân hàng, các khách sạn sang trọng, và các rạp chiếu phim khiêu dâm.
Phong trào tiếp tục lớn mạnh suốt năm 1978. Đến tháng Sáu các công nhân đã đưa ra các đòi hỏi chính trị cùng với các đòi hỏi kinh tế, và sang tháng Chín những cuộc đình công quy mô lớn, lúc này bao gồm các công nhân ngành dầu lửa, đã tràn vào những cuộc biểu tình trên đường phố với hàng triệu người tham gia. Ban quản đốc đánh mất sự kiểm soát ở các nơi làm việc, bọn cảnh sát mật bị săn lùng, và các ủy ban đình công, gọi là các shoras, đã tiến hóa thành các hội đồng dân chủ nhân dân giống như các soviet của năm 1917.
Ngày 16 tháng Giêng năm 1979, sau 18 tháng đấu tranh dữ dội, Shah bỏ trốn khỏi đất nước. Các đường phố đầy niềm hân hoan khi các đám đông người phản đối ôm chặt những người lính bị cưỡng bách nhập ngũ. Ngày mồng 1 tháng Hai Ayatollah Khomeini từ nơi lưu vong trở về, rồi năm ngày sau ông ta tự tuyên bố là người đứng đầu nhà nước, cùng với Mehdi Bazargan làm Thủ tướng.
Bộ máy an ninh trước đây lúc này đã trở nên bất lực, SAVAK bị tiêu diệt thật sự, và Quân đội Iran bị tê liệt bởi sự chia rẽ giữa các sĩ quan và các lính nghĩa vụ vốn là những người đã gia nhập các đám đông cách mạng. Cho nên vấn đề chính quyền vẫn còn để ngỏ. Có hai lực lượng chính đang hoạt động.
Khomeini, đứng đầu tầng lớp tu sĩ, các bazaaris^5, và một khối đông lạc hậu gồm dân nghèo thành thị và nông thôn, đã giành được chính quyền và tuyên bố nền ‘Cộng hòa Hồi giáo’. Mục đích của ông ta là ngăn chặn cuộc cách mạng, đè bẹp phong trào quần chúng, và đưa vào các cương lĩnh xã hội phản động dựa trên sự cố chấp tôn giáo. Kể từ đó – với sự tê liệt của các lực lượng thuộc chế độ cũ – cuộc phản cách mạng sẽ mang một hình thức hồi giáo. Nhưng quyền lực của Khomeini, cho đến bấy giờ, còn lâu mới được đảm bảo.
^5 tiểu thương
Ông ta gặp phải sự chống đối từ một liên minh hùng mạnh của các lực lượng cánh tả. Thứ nhất, phong trào công nhân và các shoras đã trở thành một lực lượng dân tộc có phối hợp với việc thành lập Ủy ban Sáng lập Công đoàn Công nhân Dân tộc Iran vào ngày mồng 1 tháng Ba. Thứ hai, một phong trào đầy tính chiến đấu của các công nhân thất nghiệp – đại diện cho một phần ba lực lượng lao động – đã xuất hiện bên cạnh phong trào đó. Thứ ba, nhằm đáp trả các cuộc tấn công mới của chế độ thần quyền vào các quyền phụ nữ, với những sắc lệnh tác động đến việc làm, đến vấn đề ly hôn, và đến trang phục, vài triệu phụ nữ Iran đã bất chấp bạo lực của bọn du côn Hồi giáo để tham gia vào một tuần lễ phản đối mở màn vào Ngày Quốc tế Phụ nữ (ngày mồng 8 tháng Ba). Thứ tư, đông đảo các nhóm dân tộc và tôn giáo thiểu số (chiếm một phần ba dân số) – người Azari, người Kurd, người Ả Rập, người Baluchi, người Turkman, người Sunni, các tín đồ Kitô giáo, và các nhóm thiểu số khác – đã bắt đầu thành lập tổ chức để khẳng định các quyền của mình trong khuôn khổ mà cuộc cách mạng đem lại.
Ngày mồng 1 tháng Năm, Ngày Quốc tế Lao động, sức mạnh tiềm năng của liên minh này đã được thể hiện trên đường phố Tehran, khi 1,5 triệu người đã tuần hành hô vang các khẩu hiệu của cánh Tả bằng tiếng Farsi, tiếng Ả Rập, tiếng Kurd và tiếng Azeri: “Đả đảo chủ nghĩa đế quốc”, “Quốc hữu hóa tất cả các ngành công nghiệp”, “Bình đẳng lương cho nam giới và nữ giới”, “Việc làm cho người thất nghiệp”, “Các công đoàn chân chính, các shoras chân chính muôn năm”.
Tiếp đó, vào mùa hè 1979, Iran đã bị kìm kẹp trong tình trạng hai chính quyền song song. Mọi chuyện lệ thuộc vào đường hướng lãnh đạo cách mạng rõ ràng. Tuy nhiên, điều đó không hề tồn tại.
Mặt trận Dân tộc là một liên minh lỏng lẻo của các nhóm tự do-thế tục và Hồi giáo ôn hòa, nhóm đầu lôi kéo sự ủng hộ từ giai cấp trung lưu hiện đại, nhóm sau lôi kéo sự ủng hộ từ giai cấp tiểu tư sản ở những khu chợ. Đảng Tudeh, cánh tả của Mặt trận Dân tộc, là một đảng Stalinist lỗi thời đã tìm kiếm sự liên minh với các thế lực tư sản ‘tiến bộ’ – chứ không định hướng vào các shoras, vào giai cấp công nhân, và vào phong trào quần chúng trên đường phố. Hai nhánh ở phe đối lập, tổ chức Mojahedin Hồi giáo và tổ chức Fedayeen tả khuynh, đã theo đuổi một cuộc đấu tranh du kích, nhưng điều đó đã chứng tỏ là một ngõ cụt trong bối cảnh của một xã hội đang ngày càng có tính chất tư bản-thành thị.
Không có lực lượng nào phù hợp cho vai trò lãnh đạo cách mạng. Thiếu sự sáng suốt về chính trị, cánh Tả, như nó vẫn thế, đã phạm phải một loạt sai lầm thảm khốc. Các bộ phận của nó đã thất bại trong việc ủng hộ phong trào phụ nữ và các phong trào của người thiểu số khi họ bị tấn công. Đảng Tudeh hậu thuẫn cho chế độ trong một cuộc trưng cầu dân ý gian lận về bản hiến pháp dự kiến của Cộng hòa Hồi giáo. Phần lớn cánh Tả đã bị cho vào tròng bởi những điệu bộ ‘chống-đế quốc’ giả tạo của Khomeini. Điều đó đã lên đến đỉnh điểm vào tháng Mười một năm 1979, khi chính phủ mở một cuộc trình diễn mạo hiểm công phu – một cuộc chiếm giữ đại sứ quán Mỹ bởi các sinh viên Hồi giáo – và gần như toàn bộ cánh Tả đã xếp thành hàng ngũ phía sau Khomeini.
Điều đó đã khiến cho phong trào quần chúng – chịu sự tấn công ngày càng tăng từ những người Hồi giáo trong dân chúng – trở nên lúng túng và mất phương hướng. Nhiều tổ chức địa phương, kể cả nhiều shoras, bị đặt dưới sự kiểm soát của Hồi giáo. Các đoàn thể, các ủy ban, và các shoras Hồi giáo đã trở thành các tổ chức thi hành những cuộc tấn công vào quyền tự do cá nhân, tự do dân sự, và quyền phụ nữ mà đã được cất giữ trong bản hiến pháp mới.
Hiến pháp này đã tạo ra một chính quyền vòng trong và một chính quyền vòng ngoài. Chính quyền vòng trong được hình thành từ hệ thống trật tự tôn ti Shia, Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, và một mạng lưới toàn quốc gồm các imam^6, các thánh đường Hồi giáo, và các đoàn thể tôn giáo chịu ảnh hưởng của họ. Chính quyền vòng ngoài được đại diện bởi Tổng thống, Quốc hội Iran, và các định chế mang tính thế tục như quân đội, cảnh sát, tòa án, và ngành công chức.
^6 lãnh tụ Hồi giáo
Do vậy, mặc dù đảng của Khomeini, Đảng Cộng hòa Hồi giáo, đã không giành được đa số trong cuộc tổng bầu cử năm 1980, điều đó không đem lại nhiều khác biệt. Vệ binh Cách mạng và các tổ chức Hồi giáo tiếp tục cuộc phản công của chúng chống lại các tổ chức shoras của công nhân, rồi sang tháng Tám Quốc hội Iran hậu thuẫn chúng bằng một bộ luật tước bỏ thẩm quyền của các shoras. Sự cai trị của tư bản được phục hồi ở các nhà máy.
Cái cuối cùng đã tiêu diệt hoàn toàn phong trào quần chúng đang thoái trào là việc Iran tuyên chiến với Iraq vào năm 1980. Dưới vỏ học của cuộc khủng hoảng quân sự – nó sẽ kéo dài tám năm và cướp đi sinh mạng của một triệu người – Vệ binh Cách mạng đã đóng cửa các trường đại học, bọn du côn Hồi giáo tuần tra các con phố để tấn công phụ nữ không đeo mạng che mặt bằng dùi cui và a-xít, và Khomeini phát động một chiến dịch văn hóa để ‘Hồi giáo hóa’ nền giáo dục Iran.
Chẳng còn lại gì hết ở cuộc cách mạng của công nhân, người thất nghiệp, phụ nữ, và các nhóm thiểu số. Phong trào đã bị đập tan bởi bạo lực phản cách mạng. Và một hình thức phản động mới – Hồi giáo chính trị – đã xuất hiện.
By Carlos Latuff: While American and Israeli bombs fall on Iran, the Western mainstream media works to portray aggressors as victims and victims as aggressors.
By Carlos Latuff: While American and Israeli bombs fall on Iran, the Western mainstream media works to portray aggressors as victims and victims as aggressors.
---
Tôi ủng hộ dân nhân Iran tự mình đứng lên chống lại sự áp bức của chế độ Hồi giáo chính trị và tôi cũng phản đối hành động xâm lược, gây chiến, can thiệp của chủ nghĩa đế quốc.
Trích chương 17 trong cuốn Lịch sử thế giới theo quan điểm cấp tiến: