Mở đầu
Cách mạng là gì? Xuất phát từ chữ revolutio trong tiếng latin, cách mạng được hiểu là sự thay đổi cơ bản của xã hội trên phương diện tôn giáo, giai cấp lẫn nhà nước. Trong lịch sử nhân loại từ trước đến nay, khó có cuộc cách mạng nào gây được tầm ảnh hưởng lẫn tranh cãi khủng khiếp như Cách Mạng Pháp. Hãy cùng bọn mình tìm hiểu trong bài viết dưới đây.
Con đường dẫn đến Cách Mạng
Từ thuở ban đầu, nước Pháp không phải là một khối thống nhất như ngày nay. Lãnh thổ Pháp khi ấy là tập hợp của nhiều vùng đất và thực thể chính trị riêng biệt như Brittany, Gascogne, Languedoc, Auvergne, Dauphiné, Provence hay Burgundy. Vùng đất Gaul – tên cổ của nước Pháp – ban đầu chỉ được gắn kết bằng sức mạnh quân sự: trước hết là của Đế chế La Mã, sau đó là Đế chế của Charlemagne, và cuối cùng là vương quyền Pháp kết hợp với quyền lực của Giáo hội. Trong đó, nhà vua đại diện cho quyền lực chính trị và quân sự, còn Giáo hội mang lại sức mạnh tinh thần – hai trụ cột này đã duy trì sự ổn định của nước Pháp suốt nhiều thế kỷ.

Theo thời gian, đặc biệt là qua Chiến tranh Trăm Năm và các cuộc Chiến tranh Tôn giáo, ý thức dân tộc của người Pháp dần hình thành. Người dân bắt đầu cảm nhận được sự gắn bó chung, được củng cố thêm nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi – nhất là đồng bằng trung tâm và dòng sông Seine, giúp các vùng miền dễ dàng giao thương, kết nối. Nhờ đó, Pháp bước vào thời kỳ quân chủ tuyệt đối, trở thành một trong những quốc gia hùng mạnh nhất châu Âu, nổi bật về kinh tế, quân sự và văn hóa.
Sang thế kỷ XVI–XVII, văn hóa Pháp tiếp tục phát triển mạnh mẽ cùng phong trào Khai sáng (Enlightenment) – một trào lưu tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng khắp châu Âu. “Khai sáng” mang ý nghĩa thức tỉnh lý trí con người: các triết gia cho rằng lý trí chứ không phải niềm tin tôn giáo mới là công cụ giúp con người hiểu và cải thiện thế giới. Vì vậy, họ kêu gọi hạn chế Thần quyền của Giáo hội và đề cao tự do tư tưởng.
Tại Pháp, phong trào này khẳng định các nguyên tắc như bình đẳng trước pháp luật, công lý, quyền tự nhiên của con người và chủ quyền thuộc về nhân dân – những ý tưởng đi ngược hoàn toàn với trật tự đẳng cấp của chế độ quân chủ đương thời. Các triết gia lớn như Montesquieu, Voltaire và Diderot đã phát triển những tư tưởng ấy, nhưng người có ảnh hưởng sâu sắc nhất là Jean-Jacques Rousseau – một nhà tư tưởng gốc Thụy Sĩ. Các tác phẩm của ông như Emile, Khế ước xã hội và Luận về Khoa học và Nghệ thuật trở thành nền tảng tư tưởng cho Cách mạng Pháp. Đặc biệt, Khế ước xã hội nhấn mạnh rằng mỗi người cần hy sinh một phần lợi ích cá nhân để hướng tới lợi ích chung – một quan điểm làm thay đổi cách con người nhìn nhận vai trò của xã hội và nhà nước.
Tuy nhiên, dù hùng mạnh về quân sự và tư tưởng, nước Pháp thế kỷ XVIII không phải là một đế chế bất bại. Những tổn thất trong Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha và Chiến tranh Bảy Năm đã khiến quốc khố kiệt quệ. Trong khi đó, nước Anh – đối thủ truyền kiếp của người Pháp – lại phát triển mạnh nhờ sớm hiện đại hóa nền công nghiệp và thương mại.
Bản thân chế độ quân chủ chuyên chế cũng trở thành gánh nặng. Nếu như dưới triều Louis XIV, nước Pháp được dẫn dắt bởi một vị vua đầy năng lực và quyết đoán, thì những người kế vị sau như Louis XV lại thiếu ý chí chính trị và khả năng cải cách. Đến những năm 1780, tình hình kinh tế ngày càng tồi tệ trong lòng một quốc gia từ lâu đã không hiện đại hóa được như nước Anh: mùa đông khắc nghiệt, mất mùa, và nguy cơ nạn đói lan rộng, trong khi triều đình vẫn chìm trong xa hoa và trì trệ. Và giữa lúc khủng hoảng lan khắp đất nước – vị vua của nước Pháp đang làm gì?
Khủng hoảng của Ancien Regime
Vị vua trị vì nước Pháp trong thời điểm này là Louis XVI. Yếu đuối và không được chuẩn bị cho ngai vàng, Louis thừa hưởng một quốc gia đang trên đà suy thoái. Tồi tệ hơn cả, nhóm quý tộc của Pháp lại không muốn đóng tiền thuế mà lại chèn ép nhóm dưới, còn tầng lớp trung - hạ lưu bị chèn ép thì vẫn đang ngày càng nổi lên. Vua Louis XVI cùng các bộ trưởng tài chính của ông cũng muốn cải cách đất nước, nhưng đến lúc này nhà vua lại không dám đánh thuế hay hạn chế các đặc quyền giới quý tộc vì sợ chọc tức họ và đưa cả nước vào nội chiến. Mặt khác, đa phần các sắc lệnh hoàng gia đều phải được các tòa án địa phương khắp nước Pháp thông qua - các luật sư từ các tòa án này đều cho rằng cải cách sẽ gây ảnh hưởng đến quyền lợi của họ do đấy nên từ chối. Tình hình càng tồi tệ hơn nữa khi các thành viên từ các tòa án địa phương này cho rằng nếu để luật nhà vua thông qua, thì quyền lực của nhà vua sẽ quá lớn và gây ảnh hưởng đến tự do cùng hiến pháp của nước Pháp. Mỉa mai thay, rất nhiều người dân ủng hộ các tòa án địa phương dù trên thực tế với cải cách của mình, vua Louis đang muốn cuộc sống của người dân tốt lên.
Ban đầu nhiều thành viên triều đình vẫn cho có thể giải quyết được, thực tế từ năm 1778 nước Pháp còn gây chiến với Anh để hỗ trợ cho Cách Mạng Mỹ. Tuy nhiên đến năm 1786, bộ trưởng bộ tài chính Callonne mới ngã ngửa khi nhận ra quốc khố hiện tại của Pháp đang nát đến mức nào. Ông vội thúc giục nhà vua triệu tập hội nghị danh sĩ - một hội đồng của các quan chức cấp cao trong chính quyền, với việc triệu tập hội đồng này, Callonne mong họ sẽ ép tòa án địa phương phải cải cách. Tuy nhiên, các danh sĩ đều cùng đẳng cấp với các luật sư cấp cao của tòa án địa phương, và họ không chỉ không chấp nhận luật không được thông qua mà còn ép vua Louis phải cho thôi việc Callone.
Tháng 8 năm 1788, sau nhiều báo cáo về tài chính, Louis XVI mới bàng hoàng nhận a chính quyền Pháp đã hết sạch tiền trong ngân khố. Sau nhiều tháng trì hoãn để nói chuyện với Hội danh sĩ, cơ hội của nhà vua giờ đã gần chấm dứt. Vào tháng 5 năm 1789, lần đầu tiên trong gần 200 năm, Hội nghị Toàn Cấp được triệu tập ở điện Versailles.
Với vua Louis XVI, có lẽ ông cũng đang điên đầu hơn bao giờ hết vì Hội nghị Toàn Cấp không phải thứ ông dự tính ngay từ ban đầu. Vốn dĩ ban đầu triệu tập Hội nghị là để nhà vua có thể giành quyền kiểm soát, trong khi bản chất Hội nghị Toàn Cấp là cơ quan chính trị có từ trước cả thời quân chủ chuyên chế, khi tiếng nói của nhà vua vẫn còn lép vế với các quý tộc và giáo sĩ, hai phe đứng đầu Đẳng Cấp Thứ Hai và Thứ Nhất. Mỗi Đẳng Cấp chỉ được chọn một đại diện của riêng họ, thế nên chỉ cần phe quý tộc thuyết phục phe giáo sĩ được là dù người dân muốn cái gì nữa thì họ cũng không thể có được.
Dù vậy, đây cũng không hẳn có lợi ích. Hội Nghị Toàn Cấp, Louis có thể có được điều ông muốn từ lâu là cải cách tài chính của Pháp - rủi ro lớn nhất mà nhà vua phải gánh chịu, là Hội Nghị Tam Cấp hoàn toàn đủ quyền lực để đe dọa đến vương thất. Và Louis XVI cũng biết rõ 150 năm trước, đồng cấp của ông bên Anh Quốc là Charles Đệ Nhất đã bị Quốc hội Anh xử tử vì tội phản quốc. Một canh bạc đầy rủi ro, nhưng đã đâm lao thì phải theo lao, Louis XVI vẫn còn một quốc gia ở phía trước.
Hội nghị Tam Cấp năm 1789
Đẳng cấp thứ nhất – Giáo sĩ (Le Clergé) – gồm 303 đại biểu, nắm giữ gần 10% tổng diện tích đất đai và thu về một phần đáng kể nguồn thuế của quốc gia. Tuy nhiên, nội bộ hàng ngũ giáo sĩ không hề thống nhất. Khoảng ba phần tư trong số họ là linh mục giáo xứ, sống giản dị và gắn bó với nông dân; trong khi thiểu số còn lại là các giám mục và tu viện trưởng giàu có, thường có quan hệ mật thiết với triều đình. Sự khác biệt này khiến tầng lớp giáo sĩ mang tính phân hóa giai cấp nội bộ, một yếu tố quan trọng trong việc họ chia rẽ khi Cách mạng bùng nổ.
Đẳng cấp thứ hai – Quý tộc (La Noblesse) – có 322 đại biểu, đại diện cho khoảng 400.000 người, nắm giữ gần một phần tư đất đai của cả nước. Họ hưởng địa tô, thuế phong kiến và đặc quyền miễn thuế từ hằng trăm năm trước. Cũng như giới giáo sĩ, tầng lớp quý tộc không đồng nhất: “quý tộc đeo kiếm” (noblesse d’épée) là giới quý tộc truyền thống, có nguồn gốc quân sự lâu đời và sống trong các dinh thự tráng lệ; trong khi “quý tộc áo thụng” (noblesse de robe) là những người mới được phong tước nhờ công tác hành chính, tư pháp hoặc chức vụ trong bộ máy nhà nước. Trong Hội nghị năm 1789, đa số đại biểu quý tộc thuộc nhóm đeo kiếm, do đó xu hướng bảo thủ và chống cải cách chiếm ưu thế.
Đẳng cấp thứ ba – Bình dân (Le Tiers État) – đông đảo nhất với 610 đại biểu, đại diện cho 95% dân số. Khoảng hai phần ba trong số này là luật sư hoặc công chức đến từ các tòa án địa phương, song nhiều người trong đó có được địa vị xã hội nhờ tài sản chứ không phải xuất thân. Giới thương nhân và thợ thủ công chiếm tỷ lệ nhỏ, còn nông dân – lực lượng đông đảo nhất trong xã hội – hoàn toàn không có đại diện trực tiếp. Các đại biểu đẳng cấp thứ ba mang đến Hội nghị nhiều bản khiếu nại, tập trung vào bất công thuế khóa, đặc quyền giới phong kiến và quyền bình đẳng trước pháp luật.
Một điểm đáng chú ý là phần lớn các đại biểu của Đẳng cấp Thứ ba đều còn trẻ tuổi và thiếu kinh nghiệm chính trị thực tiễn. Sự trẻ trung ấy cũng đồng nghĩa với việc họ sẵn sàng mạo hiểm để thực hiện các mục tiêu chính trị quyết liệt của họ. Cả đẳng cấp thứ ba cũng chiếm số lượng áp đảo, và điều đó khiến bất kỳ ai theo dõi Hội nghị cũng có thể nhận ra tầng lớp trung lưu đang ngày càng tự tin vào vai trò của họ đều có thể tự dẫn dắt Đẳng cấp thứ ba.
Dự đoán của vua Louis XVI lúc này đã thành hiện thực. Với cơ chế bỏ phiếu theo đẳng cấp – mỗi đẳng cấp chỉ có một phiếu – Đẳng cấp Thứ ba rõ ràng bị đặt vào thế yếu trước Giáo sĩ và Quý tộc. Thế nhưng điều mà nhà vua không ngờ tới chính là tầng lớp trung lưu sẵn sàng tổ chức chính quyền riêng.
Một nhóm quý tộc tự do, được gọi là Hội Ba Mươi, đã đứng ra ủng hộ yêu sách của Đẳng cấp Thứ ba, họ yêu cầu tăng gấp đôi số lượng đại biểu và thực hiện việc bỏ phiếu theo đầu người thay vì theo đẳng cấp. Trước sức ép ấy, Louis XVI miễn cưỡng chấp thuận tăng gấp đôi số đại biểu nhưng vẫn kiên quyết giữ nguyên quy chế bỏ phiếu theo đẳng cấp. Đó là một nước đi nửa vời từ nhà vua, và ông sẽ phải trả cái giá đắt cho điều đấy.
Kết quả là, Hội Nghị Toàn Cấp lại nhanh chóng rơi vào thế bế tắc. Đòn đánh quan trọng nhất lúc này đến từ một nhà trí thức tên Abbe Sieyès - người đã viết một bài luận tên “Đẳng Cấp Thứ Ba là gì?”

Thế nào là đẳng cấp thứ ba?
Mặc dù cũng là giáo sĩ, Sieyès cũng chẳng mấy giàu có là bao và ông cũng như nhiều giáo sĩ từ Đẳng cấp thứ nhất khác đều rất đồng cảm với hoàn cảnh của Đẳng cấp thứ ba. Đặc biệt hơn cả, đại diện của Đẳng cấp thứ nhất trong Đại hội này đều không hẳn đều là các giám mục giàu có thân quý tộc mà là các giáo sĩ nghèo, và họ cùng Sieyès sẵn sàng đứng về phe Đẳng cấp thứ ba. Sieyès tuyên bố:
“Đẳng cấp thứ ba là tất cả những gì ta có, họ không có gì nhưng mục tiêu của họ là để có một cái gì đấy”.
Bên phía Đẳng cấp thứ hai, nhiều quý tộc theo chủ nghĩa tự do vẫn không hài lòng với đám quý tộc truyền thống. Nhiều thành viên, bao gồm Hầu tước Lafayette - anh hùng Cách Mạng Mỹ diễn ra nhiều năm trước đấy và Louis Philippe, Công tước Orlean sẵn sàng đứng về phía người dân - 1 điều khá mỉa mai vì Louis Philippe lại là 1 người phản kháng lại vua Louis XVI khi Hội đồng danh sĩ vẫn còn được tổ chức.
Ngày 17 tháng 8, các đại biểu của Đẳng cấp thứ ba tuyên bố thành lập Hội nghị Quốc ước Pháp và tuyên bố tất cả thuế khóa hiện tại đều bất hợp pháp. Bị sốc trước hành động của Đẳng cấp thứ ba, Louis XVI tuyên bố đóng cửa Quốc hội và đề xuất cải cách để hài lòng họ. Tuy nhiên điều đấy đã quá muộn. Các thành viên của Đẳng cấp thứ ba hay giờ là Hội nghị Quốc ước đều đã quyết tâm đổi mới chính quyền - họ tìm lấy 1 sân quần vợt trong nhà tên Jeu de Paume để tụ tập. Tại đây, các thành viên của Hội nghị Quốc ước đều thề sẽ không tách rời nhau và đoàn kết cho đến khi Hiến pháp của Vương Quốc được thi hành. Lần đầu tiên sau hằng thế kỷ phong kiến, ở Pháp, đã có những người dám giành lấy quyền lực cho riêng mình.
Giấc mơ về một nước Pháp tự do

Vua Louis XVI bất lực và ông buộc phải để các thành viên còn lại trong ba đẳng cấp gia nhập Hội nghị Quốc ước. Điều này thể hiện rất rõ quyền lực nhà vua đã không còn tuyệt đối như từ 100 năm trước - dù vậy, vua Louis vẫn cách chức bộ trưởng bộ tài chính Pháp dưới sự thúc giục từ vương hậu Marie Antoinette, điều này khiến ông càng nhận thêm sự căm ghét nữa khi vị bộ trưởng bộ tài chính ấy cũng là người đề xuất cải cách trong chính quyền.
Ngày 14 tháng 7, các công dân thành Paris, nghe được tin Hội nghị Quốc ước xuất hiện và nhà vua đang cử lính đến để dẹp Hội nghị đã tập hợp lại với nhau để bảo vệ bản thân và Hội nghị Quốc ước. Tuy nhiên, họ vẫn thiếu súng cùng các loại vũ khí khác. Vậy nên họ nhanh chóng đến Bastille - 1 pháo đài vương thất với rất nhiều súng đạn, và cũng là ngục tù được nhà vua dùng để giam các tù nhân chính trị.
Sau hằng giờ chống cự, quân lính bên trong Ngục đầu hàng. Người quản lý ngục là Bernard-René de Launay thì bị giết chết, đầu ông bị cắm cọc và được đem đi diễu khắp đường phố. Trên khắp nước Pháp; nông dân tấn công lâu đài và dinh thự của các quý tộc trong khi ở các đô thị tình hình dần trở nên hỗn loạn. Đã có những trường hợp quý tộc bị cướp đoạt tài sản, phá nhà hoặc thậm chí bị treo cổ. Người dân tự xây dựng các đội tự vệ vũ trang riêng, vua Louis XVI thậm chí không thể kiểm soát được bất kỳ cái gì xảy ra và hàng loạt các quý tộc ở Pháp chạy ra khỏi nước ngoài, họ trở thành emigres và sẽ gây ảnh hưởng đến Cách Mạng về sau.
Ban đầu, Hội nghị Quốc ước còn lo lắng trước hành động trên và cố gắng giảm thiểu thiệt hại, nhưng đến lúc này họ nhận ra đây ắt là cơ hội trời cho - Hội nghị đề ra Sắc lệnh Tháng 8, tuyên bố bãi bỏ chế độ phong kiến. Toàn bộ đất canh tác của quý tộc lẫn Nhà thờ giờ sẽ thuộc về Nhà nước. Sắc lệnh còn kêu gọi quyền tự do tôn giáo, bình đẳng trước pháp luật, cũng như chấm dứt đặc quyền từng thị trấn và tỉnh. Chỉ trong 4 tháng, các tòa án địa phương cũng đều bị xóa sổ.
Chế độ quân chủ chuyên chế của Pháp đã chấm dứt.
Nền Quân Chủ Lập Hiến
Tuyên Ngôn về Dân Quyền và Nhân Quyền
Từ tháng 7, Hội nghị Quốc ước tự xưng là Quốc hội Lập Hiến. Điều này khẳng định rõ dù nhà vua vẫn còn, nhưng họ giờ mới là người nắm quyền thực sự. Họ bắt đầu đề xuất một ủy ban để đề ra tuyên ngôn. Đến ngày 26 tháng 8 năm 1789, Quốc hội Lập Hiến đã thông qua Tuyên ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền.
Đến tháng 10 năm 1789, nhà vua cũng buộc phải chấp nhận luật và danh hiệu Vua của người Pháp thay vì Vua của nước Pháp - điều này cho thấy thay vì coi “Pháp” là tài sản cá nhân của mình, giờ nhà vua phụ thuộc chặt chẽ vào người dân Pháp. Bên Quốc hội cũng đang tranh luận rất nhiều về việc ủng hộ nghị viện và quyền phủ quyết mạnh của vua hay ủng hộ quyền phủ quyết tạm thời của nhà vua. Đến tháng 9 năm 1789, Quốc hội đồng ý để vua Louis XVI thành một vị vua quân chủ lập hiến, trên thực tế nhà vua vẫn còn có kha khá quyền lực. Thời gian này nạn thiếu lương thực và giá cả leo thang đã dẫn đến người dân Paris tuần hành đến Versailles, tại đây họ xông vào cung điện và ép nhà vua trở về Paris.
Hiến pháp dân sự của Giáo sĩ và Biến Loạn Vendee
Một vấn đề quan trọng khác vẫn là tôn giáo. Việc Nhà thờ và Nhà nước tách ra hoàn toàn là một điều người Pháp chưa từng làm từ trước đến nay - trên thực tế, Pháp vẫn luôn tự hào vì là “cô con gái cả của Nhà thờ Công giáo”. Nhà thờ cũng chiếm nhiều đất của Pháp nhất, có ảnh hưởng rộng lớn trên văn hóa, xã hội và đời sống kinh tế; trên thực tế Sieyès cùng nhiều giáo sĩ khác còn hỗ trợ chính quyền Pháp trong việc hành chính, xây dựng kinh tế và gây dựng tình đoàn kết giữa toàn dân tộc.
Ngày 12 tháng 7, Quốc hội thông qua thứ tai hại nhất - Hiến Pháp Dân sự của giáo sĩ. Hiến pháp này yêu cầu giáo sĩ trên toàn đất Pháp phải chấp nhận việc Nhà nước cho quốc hữu hóa và tịch thu tài sản của Nhà Thờ, các giáo sĩ phải trở thành quan chức chính quyền và nhận lương chính phủ. Hiến pháp không chỉ cướp mất tài sản Nhà thờ mà còn xúc phạm trực tiếp đến quan điểm tôn giáo của họ. Tương tự như thế, nhiều giáo sĩ cũng phản kháng vì họ cho rằng quyền lực của Giáo Hội với Nhà Thờ lớn hơn nhiều với nhà nước. Điều này dẫn đến nhà nước tiến hành thanh rừng các giáo sĩ dám phản kháng - rất nhiều giáo sĩ bị ép xử tử hoặc lưu đày, và cuối cùng dẫn đến một sự kiện lịch sử hết sức tai tiếng tên Biến Loạn Vendee.
Vendee - vùng đất nằm ở phía tây của nước Pháp là nơi chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ Cách Mạng. Nghèo nàn và nằm giữa hai vùng đất Gironde và Brittany giàu có, quý tộc khu vực này trên thực tế không giàu như các quý tộc ở khác vùng khác và thường sống tại dinh thự của họ, quan tâm đến đời sống nông nghiệp vùng này. Các giáo sĩ tại Vendee cũng đa phần là dân bản địa. Do đó, đa phần các nông dân địa phương ở đây có quan hệ rất tốt với quý tộc của họ, các giáo sĩ ở đây cũng được người dân tôn trọng. Trên thực tế, cả đẳng cấp thứ nhất và đẳng cấp thứ hai của Vendee đều tổ chức chi tiền và thực hiện quỹ từ thiện cho người dân.
Hiến Pháp Dân sự đã tước bỏ tất cả các điều đó của họ. Bên cạnh gây tổn hại đến kinh tế của vùng lẫn ảnh hưởng đến Nhà thờ, đại đa số nông dân Vendee đều coi việc tàn sát quý tộc và ép họ phải rời đi lẫn tước đoạt tài sản của Nhà thờ là hành động phi nghĩa. Chưa kể đến việc dù đa phần tài sản mà Nhà nước tịch thu được theo lý thuyết sẽ được đem đến cho dân, nhưng trên thực tế các thương gia tiểu tư sản mới là người hốt gần hết. Các thương gia này cũng không gây thiện cảm đối với dân thường cho lắm, nhất là khi họ áp thuế lên người dân trong thời kỳ khó khăn. Tất cả điều này cộng thêm với lệnh bắt nhập ngũ đã ép dân Vendee nổi loạn. Cuộc nổi loạn diễn ra tại Vendee sẽ ám ảnh nền cộng hòa trong suốt nhiều năm đến, với việc người dân liên tục nổi loạn bất chấp bao lần dập tắt. Nhiều tội ác chiến tranh cũng diễn ra trong khoảng thời gian này, đến thời điểm cách mạng Pháp chấm dứt, vùng Vendée đã sụt giảm đến ¼ dân số.
Sự sụp đổ của vua Louis XVI
Sau khi quốc vương Louis XVI trở lại Paris, tình hình chính trị tại thủ đô nhìn chung vẫn được duy trì ổn định. Tuy nhiên, tại các vùng nông thôn, việc giải thể toàn bộ bộ máy hành chính phong kiến mà chưa kịp thiết lập cơ chế thay thế đã dẫn đến tình trạng hỗn loạn và mất kiểm soát. Đến mùa xuân năm 1790, sự chia rẽ trong Quốc hội Lập hiến ngày càng trở nên sâu sắc. Cơ quan này dần phân hóa thành ba khối chính trị: phe trung dung do Sieyès, Lafayette và Mirabeau đại diện; phe bảo hoàng đứng đầu là Maury; và phe cấp tiến dưới sự lãnh đạo của luật sư Maximilien Robespierre. Dù Sieyès nỗ lực kêu gọi đoàn kết, Quốc hội vẫn rơi vào tình trạng phân cực nghiêm trọng. Đặc biệt, câu lạc bộ Jacobin – vốn khởi đầu như một diễn đàn thảo luận chính trị – nhanh chóng phát triển thành một lực lượng có tổ chức, với hơn 150 thành viên và tầm ảnh hưởng ngày càng lan rộng.
Đầu năm 1791, Quốc hội ban hành Luật Le Chapelier, cấm hình thành các nghiệp đoàn và các hoạt động đình công. Đạo luật này được giới tư sản ủng hộ, nhưng lại gây thất vọng sâu sắc trong tầng lớp lao động, vốn đang đối mặt với khủng hoảng lương thực và yêu cầu cải thiện điều kiện sống. Bên cạnh đó, tình hình quân sự cũng sa sút nghiêm trọng. Do đội ngũ sĩ quan phần lớn xuất thân từ giới quý tộc – những người vốn không chấp nhận trật tự mới – nên hàng loạt người đã đào tẩu ra nước ngoài, khiến năng lực chiến đấu và khả năng duy trì trật tự của quân đội suy yếu rõ rệt.
Trong bối cảnh chính trị và xã hội rối ren ấy, quốc vương Louis XVI ngày càng mất đi sự bình tĩnh và kiên định. Bản tính do dự và cơ hội của nhà vua dễ dàng dao động trước áp lực của hoàn cảnh. Sau khi bị tước bỏ phần lớn quyền lực và đặt dưới sự giám sát của Quốc hội, nhà vua quyết định tìm cách rời khỏi Paris nhằm cầu viện sự giúp đỡ của các triều đình quân chủ châu Âu. Theo lời khuyên của hoàng hậu Marie Antoinette, ông lên kế hoạch đến Montmédy, nơi tướng Bouillé đang chỉ huy khoảng mười nghìn binh sĩ trung thành.
Tuy nhiên, cuộc đào thoát tháng 6 năm 1791 nhanh chóng thất bại. Chỉ sau một ngày, đoàn xe của nhà vua bị phát hiện tại Varennes và buộc phải trở lại Paris. “Cuộc đào thoát Varennes” đã trở thành bước ngoặt quyết định, khiến niềm tin của nhân dân Paris vào Louis XVI hoàn toàn sụp đổ. Trong con mắt công chúng, hành động này là bằng chứng rõ ràng cho thấy quốc vương không còn trung thành với quốc gia, mà sẵn sàng liên minh với các thế lực ngoại bang – đặc biệt là Áo, quê hương của hoàng hậu – để khôi phục nền quân chủ và đe dọa đến an ninh quốc gia.
Hệ quả trực tiếp là Quốc hội Lập hiến ban hành yêu cầu toàn dân tuyên thệ trung thành với Hiến pháp, đồng thời chuẩn bị cho khả năng bùng nổ chiến tranh với các cường quốc châu Âu. Tại Paris, bầu không khí nghi kỵ và sợ hãi bao trùm: những tin đồn về phản bội, gián điệp và âm mưu lật đổ lan truyền khắp nơi.
Dù vậy, phe trung dung chủ trương duy trì chế độ quân chủ lập hiến vẫn chiếm ưu thế trong Quốc hội. Họ cho rằng việc phế truất quốc vương và thiết lập nền cộng hòa là một bước đi mạo hiểm, nhất là khi mô hình cộng hòa thành công duy nhất ở châu Âu lúc bấy giờ là Cộng hòa Hà Lan – một quốc gia nhỏ và đặc thù. Lafayette cùng các đồng minh Lập Hiến tiếp tục ủng hộ mô hình quân chủ lập hiến kiểu Anh, vốn đã chứng minh hiệu quả trong việc dung hòa quyền lực giữa hoàng gia và nhân dân suốt gần hai trăm năm nay.

Tuy nhiên, uy tín của phe trung dung nhanh chóng sụp đổ sau vụ thảm sát Champ de Mars ngày 17 tháng 7 năm 1791. Khi đám đông tập hợp để kiến nghị phế truất nhà vua, Hầu tước Lafayette ra lệnh nổ súng nhằm trấn áp biểu tình, khiến nhiều người thiệt mạng. Sự kiện này không chỉ làm mất lòng tin của quần chúng đối với Quốc hội, mà còn mở đường cho phe Jacobin của Robespierre cùng phe Girondin trở thành lực lượng chính trị chủ đạo tại Paris.

Tháng 8 năm 1791, nhận thức được tình hình ở Pháp, vua Phổ và Hoàng đế Thánh chế La Mã tuyên bố sẽ ủng hộ Louis XVI và đe dọa sẽ xâm lược Pháp nếu như nhà vua bị đe dọa. Cùng thời điểm đó, Hiến pháp năm 1791 được thông qua để thiết lập nền quân chủ lập hiến nhưng tình trạng chia cắt của Quốc hội vẫn chẳng khá hơn là bao.
Hiến pháp 1791 được thông qua: Quân chủ lập hiến được thiết lập, có phân quyền rõ ràng, và quyền lực vua vẫn đáng kể. Đến lúc này, Louis lại tiếp tục thực hiện một nước đi vào lòng đất nữa là liên tục dùng quyền phủ quyết chống lại các đạo luật xử lý giáo sĩ bất tuân và tịch thu tài sản quý tộc bỏ trốn, khiến người dân nghi ngờ ông phản bội lại nền cách mạng, một điều khó trách được khi người ta bắt đầu xem xét thư từ và thấy ông đang ủ mưu gì đấy với những quý tộc tị nạn ở bên ngoài đất nước.
Phe cấp tiến Girondin lúc này cũng đi một nước cờ tai hại không kém là ủng hộ chiến dịch đánh Áo-Phổ, vừa để khiêu khích nhà vua, vừa vì muốn ‘xuất khẩu cách mạng” - tức là để lan truyền các giá trị của tự do cùng tinh thần cách mạng. Vương hậu Marie Antoinette, lúc này là người đứng đầu trên thực tế của phe bảo hoàng thì cũng ủng hộ chiến tranh vì tin rằng qua đấy vương thất có thể sẽ kiểm soát lại được quân đội và chấm dứt cách mạng.
Phe Jacobin của Robespierre phản đối cách thức cực đoan này của phe Girondin vì nhìn kiểu gì nước Pháp vẫn chưa được chuẩn bị cho chiến tranh và theo lời họ, nếu cứ tiếp tục chiến tranh kiểu này thì thể nào tình trạng độc tài quân sự cũng diễn ra. “Tự do không thể được xuất khẩu qua lưỡi lê” - Phe Jacobin tuyên bố.
Đầu năm 1792, sự chia rẽ sâu sắc trong Quốc hội Lập hiến khiến chính quyền rơi vào tay phái Girondin, một nhóm chính trị chủ trương mở rộng chiến tranh để đạt lợi cho Pháp và xuất khẩu cách mạng - hay phổ biến lý tưởng cách mạng ra khắp châu Âu. Trong bối cảnh liên minh giữa Áo và Phổ đang tập trung binh lực ở biên giới phía đông, Quốc hội quyết định tuyên chiến với hai cường quốc này, với hy vọng chiến thắng sẽ củng cố vị thế của nền Cộng hòa non trẻ.
Tuy vậy, kỳ vọng hoàn toàn trái ngược với hiện tại. Quân đội Pháp, vốn đã suy yếu nghiêm trọng sau nhiều năm hỗn loạn và mất kỷ luật cũng như mất hàng loạt các sĩ quan gốc quý tộc đã nhanh chóng chịu thất bại liên tiếp trước liên quân Áo–Phổ. Đối phương do Charles William Ferdinand, Công tước Brunswick chỉ huy – một tướng lĩnh lão luyện và từng dày dạn kinh nghiệm trong các chiến dịch của châu Âu.
Dẫu vậy, Brunswick đã phạm một sai lầm chiến lược nghiêm trọng khi công bố Tuyên ngôn Brunswick. Bản tuyên ngôn cảnh báo rằng nếu nhà vua Louis XVI hoặc vương thất Pháp bị tổn hại, liên quân sẽ trừng phạt Paris bằng bạo lực, thậm chí còn đe dọa sẽ tàn sát dân thường. Và kết quả lại ngược với kỳ vọng của Brunswick hơn bao giờ hết. Thay vì khiến người Pháp sợ hãi, lời đe dọa này lại thổi bùng lòng phẫn nộ của quần chúng và họ kêu gọi chấm dứt chế độ quân chủ.
Ngày 10 tháng 8 năm 1792, hàng nghìn dân quân và công nhân Paris đã tấn công Cung điện Tuileries, nơi cư ngụ của vương thất, và giết chết lực lượng cận vệ Thụy Sĩ bảo vệ nhà vua. Đến 11 giờ sáng cùng ngày, Quốc hội tuyên bố đình chỉ vương quyền của Louis XVI và chấm dứt triều đại Bourbon. Từ đó, nhà vua không còn được gọi là “Louis XVI” mà chỉ là Louis Capet, như một công dân bình thường và bình đẳng trước pháp luật.
Chế độ quân chủ ở Pháp đã tan biến chỉ trong một buổi sáng.
Đệ nhất Cộng Hòa Pháp
Cuối tháng 8 năm 1792, Quốc hội Lập pháp được cải tổ thành Hội nghị Quốc ước, khởi đầu cho một giai đoạn chính trị mới. Tuy nhiên, ngay trong nội bộ phe cách mạng, sự chia rẽ bắt đầu hình thành. Ba lực lượng nổi bật xuất hiện: phe Girondin ôn hòa, chủ trương tự do kinh tế và chống cực đoan; phe Montagnard (hậu thân của Jacobin) do Robespierre lãnh đạo, mang khuynh hướng cấp tiến; và phe trung dung còn lại.
Trong bầu không khí nghi kỵ và bất ổn, nước Pháp chìm sâu vào hỗn loạn. Tháng 9 năm 1792, vì lo sợ phản loạn, chính quyền cách mạng đã ra lệnh xử tử hơn 1.000 tù nhân, trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ em. Cùng lúc, trên chiến trường, quân Pháp thua liểng xiểng, mất Longwy và Verdun vào tay quân Phổ, khiến tinh thần trong nước xuống thấp.
Tuy nhiên, bước ngoặt đến vào ngày 20 tháng 9 năm 1792, tại Valmy. Dưới sự chỉ huy của hai tướng Dumouriez và Kellermann, quân đội Cách mạng đã chống trả thành công cuộc tấn công của quân Phổ. Trong làn sương mù dày đặc, pháo binh Pháp nã đạn dữ dội, còn binh lính đồng thanh hát La Marseillaise và hô vang “Vive la Nation!”. Trước tinh thần ấy cộng thêm với bệnh tật và nạn thiếu lương thực, quân Phổ buộc phải rút lui và không bao giờ quay trở lại nữa.
Trận Valmy – hay còn gọi là “Cuộc pháo đấu Valmy” – kết thúc với vài trăm thương vong, nhưng lại là chiến thắng đầu tiên của quân đội Cách mạng trước liên quân phong kiến châu Âu. Nó khẳng định với người Pháp rằng, họ có thể tự bảo vệ chính mình.
Ngày hôm sau, 21 tháng 9 năm 1792, Hội nghị Quốc ước tuyên bố xóa bỏ chế độ quân chủ và thành lập nền Cộng hòa Pháp thứ Nhất. Valmy vì thế trở thành biểu tượng cho sức mạnh quốc gia và niềm kiêu hãnh cách mạng.
Từ đây, hàng loạt cải cách xã hội được tiến hành, vừa cấp tiến, vừa cực đoan. Ngày 22 tháng 9, lịch Công giáo bị xóa bỏ, thay thế bằng Lịch Cộng hòa Pháp – với năm 1792 được tính là Năm thứ Nhất, mỗi năm có 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, tuần kéo dài 10 ngày. Mục tiêu của cải cách này là xóa bỏ ảnh hưởng của tôn giáo và vương quyền, khẳng định trật tự mới của lý trí và Cộng hòa.
Câu hỏi lớn nhất lúc này là số phận của vua Louis XVI. Phe ôn hòa muốn tha chết cho ông để tránh làm các nước quân chủ phẫn nộ; trong khi phe cấp tiến đòi hành quyết nhà vua vì tội phản quốc. Sau một thời gian tranh luận, cuộc bỏ phiếu tại Quốc ước kết thúc với quyết định xử tử Louis XVI.
Ngày 21 tháng 1 năm 1793, tại Quảng trường Cách mạng (Place de la Révolution), nhà vua bị chém đầu bằng máy guillotine ở tuổi 39. Chiếc máy chém – biểu tượng “công bằng và nhân đạo” của thời đại mới – được tin là sẽ mang lại cái chết nhanh và ít đau đớn hơn so với tra tấn hay treo cổ. Nhưng đối với châu Âu, đây là một cú sốc khủng khiếp: ngay cả Anh Quốc, vốn từng có thiện cảm với cách mạng Pháp, cũng lên án đây là “tội ác phản thánh”. Từ thời khắc này, chiến tranh đã bắt đầu.

Trong lúc chiến tranh lan rộng, phe Girondin hy vọng nó sẽ củng cố tinh thần dân tộc và bảo vệ cách mạng. Trái lại, chiến sự chỉ khiến khủng hoảng lan sâu. Nhiều vùng như Vendée, Toulon, Bordeaux cùng các thành phố ven biển nổi dậy chống chính quyền cách mạng với sự hỗ trợ từ hải quân Anh. Quân đội Pháp do tướng Dumouriez chỉ huy liên tiếp thất bại, bản thân ông còn đào ngũ sang phe Áo, khiến tình hình càng thêm tuyệt vọng.
Để cứu vãn tình thế, chính quyền ban hành lệnh Tổng động viên toàn dân, huy động sức mạnh của nhân dân – điều chỉ nước Pháp cách mạng, với tinh thần dân tộc sục sôi, mới có thể làm được. Tuy nhiên, phần lớn binh sĩ mới không được huấn luyện, biến quân đội thành một đám đông ô hợp, thiếu kỷ luật và tổ chức. Nhiều người đào ngũ hoặc cướp phá, làm mất uy tín chính quyền.
Trước khủng hoảng này, phe Girondin thành lập Ủy ban An ninh Công cộng với quyền lực gần như tuyệt đối, nhằm kiểm soát trật tự – nhưng thực chất là để loại bỏ đối thủ chính trị. Họ bắt đầu bằng việc truy tố nhà báo cực đoan bên phe Jacobin Jean-Paul Marat, song cuối cùng lại phải tha bổng ông, hành động này đã khiến uy tín của họ sụt giảm nghiêm trọng.
Đầu tháng 6 năm 1793, lấy cớ phe Girondin lạm quyền và âm mưu đảo chính, phe Montagnard kết hợp với quần chúng Paris bao vây Quốc ước, bắt giam các lãnh đạo Girondin. Từ đây, quyền lực chính trị rơi vào tay Robespierre.
Cùng năm đó, ông khởi thảo Hiến pháp 1793, tuyên bố nhiều quyền tự do và bình đẳng, nhưng do tình hình khẩn cấp, Hiến pháp chưa từng được thi hành. Sau vụ ám sát Marat bởi một người ủng hộ Girondin, phe Montagnard đình chỉ Hiến pháp vào tháng 10 năm 1793 và thiết lập chính phủ cách mạng lâm thời.
Lúc này, Robespierre ra lệnh tổng động viên lần hai, và nhờ tổ chức tốt hơn, quân cách mạng dần lấy lại thế chủ động: giành lại Lyon, Bordeaux, và đẩy lùi phe bảo hoàng dọc biên giới. Từ đây, nước Pháp bước vào giai đoạn khủng bố cách mạng, với quyền lực tập trung hoàn toàn trong tay Robespierre và Ủy ban An ninh Công cộng.
Tại Toulon, thành phố này đã bị Anh chiếm lấy và phong tỏa bằng đường biển. Nhưng bằng sự chỉ huy tài tình của một viên sĩ quan pháo binh, người Pháp đã có thể chiếm lại được Toulon. Tên của viên sĩ quan đấy là Napoleon Bonaparte.
Triều Đại Khủng Bố

Ban đầu, Ủy ban An ninh Công cộng được thành lập với mục tiêu giải quyết khủng hoảng và bảo vệ nền Cộng hòa non trẻ, nhưng chẳng bao lâu sau, nỗi sợ hãi, sự nghi ngờ và chủ nghĩa cực đoan lại một lần nữa len lỏi vào trung tâm của cuộc cách mạng. Hội nghị Quốc ước ban hành các biện pháp kiểm soát kinh tế nghiêm ngặt: áp đặt mức giá trần, trừng phạt những kẻ đầu cơ tích trữ; đồng thời thông qua Luật Nghi ngờ (Loi des Suspects), cho phép người dân tố cáo và bắt giữ bất kỳ ai bị xem là “kẻ thù của tự do”. Chỉ trong vòng mười tháng, khoảng 300.000 người bị bắt giữ, 16.000 người bị hành quyết và hơn 40.000 người khác chết trong tù hoặc trên đường bị áp giải — một bức tranh rợn người về cái giá của lý tưởng cách mạng.
Từ chỗ là công cụ của Quốc ước, Ủy ban An ninh Công cộng dần trở thành trung tâm quyền lực tuyệt đối. Đến ngày 10 tháng 10 năm 1793, Quốc ước chính thức công nhận Ủy ban là chính phủ toàn quyền, được phép đình chỉ Hiến pháp cho đến khi hòa bình được lập lại — điều đó đồng nghĩa không còn cơ chế nào có thể kiềm chế Robespierre và các đồng sự.
Từ giữa tháng 10, Robespierre cùng hai người thân tín là Saint-Just và Couthon bắt đầu tiến hành một cuộc thanh trừng quy mô lớn ngay trong nội bộ cách mạng. Vương hậu Marie Antoinette bị đưa lên đoạn đầu đài, tiếp đến là các lãnh tụ phe Girondin. Các vụ hành quyết lan rộng khắp nước Pháp — từ Paris đến các tỉnh, nơi hàng nghìn người bị xử tử với tội danh “phản cách mạng”. Trong số đó, vụ thảm sát tại Nantes, do tướng Jean-Baptiste Carrier chỉ huy, trở thành một trong những tội ác man rợ nhất: hơn 4.000 dân thường, phần lớn là phụ nữ, trẻ em và giáo sĩ, bị trói lại rồi dìm chết trong sông Loire.
Sự tàn bạo của phe Montagnard làm rạn nứt chính nội bộ cách mạng. Một phe cực đoan do nhà báo Jacques Hébert đứng đầu kêu gọi loại bỏ Thiên Chúa giáo và thiết lập vô thần chủ nghĩa; phe còn lại, do Georges Danton lãnh đạo, chủ trương hòa giải và chấm dứt bạo lực. Nhưng Robespierre, trong cơn ám ảnh về “sự thanh khiết cách mạng”, đã ra lệnh xử tử cả hai phe, bao gồm cả Danton — người từng là đồng chí và bằng hữu thân thiết. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt của nỗi sợ hãi: Robespierre từ “người cứu nước” trở thành biểu tượng của khủng bố.
Năm 1794, quyền lực của Robespierre đạt đến đỉnh điểm chuyên chế. Ông ban hành các đạo luật mới tước bỏ quyền bào chữa của bị cáo, biến các phiên tòa cách mạng thành công cụ hành quyết tức thì. Cùng năm, ông lập ra Giáo phái Thượng Thần (Culte de l’Être Suprême), một nỗ lực thay thế Công giáo bằng thứ “tôn giáo đạo đức” của Cộng hòa. Nhưng thay vì củng cố niềm tin, sáng kiến này khiến cả đồng minh lẫn đối thủ đều hoài nghi rằng Robespierre đang tự phong mình thành “Đấng cứu thế” của cách mạng.
Tháng 6 năm 1794, khi quân Pháp dưới quyền Jean-Baptiste Jourdan và Saint-Just giành chiến thắng vang dội tại Fleurus, đẩy lùi liên quân Áo–Phổ và chiếm được Vùng Đất Thấp (Bỉ – Hà Lan ngày nay), mối đe dọa ngoại xâm giảm đi đáng kể. Nhưng chính lúc ấy, nỗi sợ nội tại bùng phát. Các đồng sự trong Ủy ban An ninh Công cộng, lo sợ sẽ trở thành nạn nhân tiếp theo của guillotine, bí mật liên kết chống lại Robespierre.

Đỉnh điểm xảy ra vào ngày 27 tháng 7 năm 1794 (9 tháng Thermidor), khi Robespierre lên tiếng đe dọa rằng “mọi kẻ phản bội lý tưởng cách mạng đều sẽ bị trừng trị”. Lời tuyên bố ấy khiến toàn bộ Hội nghị Quốc ước rơi vào hoảng loạn — vì không ai có thể biết mình có phải “kẻ phản bội” kế tiếp hay không. Ngay trong đêm, Quốc ước ra lệnh bắt giữ Robespierre, Saint-Just và các đồng minh.
Ngày hôm sau, 28 tháng 7 năm 1794, Robespierre bị hành quyết tại Quảng trường Cách mạng, khép lại Triều đại Khủng bố. Cái chết của ông cũng đánh dấu sự tan rã của Câu lạc bộ Jacobin và mở đường cho một giai đoạn chính trị mới đầy bất ổn.
Nền Đốc Chính và Napoleon Bonaparte
Mặc dù thời kỳ khủng bố của Robespierre đã chấm dứt, nước Pháp vẫn chưa thể tìm lại sự ổn định chính trị. Tại miền Nam, các lực lượng phản cách mạng nổi lên trả thù, tàn sát hàng nghìn người bị nghi là Jacobin. Trong khi đó, những nhà lãnh đạo mới của Hội nghị Quốc ước như Paul Barras và Joseph Fouché cố gắng xoa dịu mâu thuẫn tôn giáo và hàn gắn xã hội. Về mặt đối ngoại, Pháp đạt được nhiều thành công quân sự, ký hòa ước với Phổ và Tây Ban Nha, đồng thời thiết lập Cộng hòa Batavia ở Hà Lan, củng cố vững chắc biên giới phía Bắc của mình.
Tuy vậy, tình hình trong nước ngày càng tồi tệ. Chiến tranh kéo dài gây ra nạn đói, mất mùa, và bạo động lan rộng ở Paris; đồng tiền mất giá trầm trọng. Khi những phần tử Jacobin còn lại bị thanh trừng, Hội nghị Quốc ước tiến hành cải tổ chính quyền theo mô hình La Mã cổ đại và thiết lập chế độ Lưỡng viện.
Quyền hành pháp được trao cho năm Đốc chính, những người được xem là trung dung giữa phe bảo hoàng và phe cấp tiến, về căn bản là một nền độc tài tập thể giữa năm người.
Ngay khi mới thành lập, chính quyền Đốc chính đã phải đối mặt với khủng hoảng nội bộ, suy thoái kinh tế và chiến tranh triền miên. Cơ chế lưỡng viện tỏ ra kém hiệu quả, còn các đốc chính thì thiếu quyền lực thực tế cùng sự ủng hộ bên trong các Hội đồng, lại còn thường xuyên đàn áp và sử dụng vũ lực để duy trì trật tự. Sang năm 1795, phe bảo hoàng lại nổi dậy đe dọa chính quyền. Ngày 5 tháng 10, một cuộc bạo loạn nổ ra ở Paris, nhưng bị Napoleon Bonaparte – khi ấy chỉ là một sĩ quan trẻ – dẹp tan bằng vũ lực. Trước đó, Napoleon từng bị bắt giam vì có liên hệ với phe Jacobin, song chiến công này đã giúp ông lấy lại uy tín và được dàn Đốc chính tin tưởng.
Dẫu vậy, chính quyền Đốc chính vẫn tiếp tục suy yếu bởi tham nhũng, chia rẽ phe phái và kinh tế suy thoái, dẫn đến hai cuộc đảo chính lớn trong năm 1795 và 1798. Quân đội dần trở thành trụ cột quyền lực duy nhất, khiến các Đốc chính phải dựa vào tướng lĩnh để duy trì ảnh hưởng – trong đó có Napoleon Bonaparte, người đang chỉ huy Tập đoàn quân Ý.
Được giao nhiệm vụ chỉ đánh cầm chân quân Áo, Napoleon bất ngờ giành thắng lợi rực rỡ, đánh bại quân Áo năm lần trong một năm, chinh phục toàn bộ miền Bắc Ý và tiến sát Vienna. Hiệp ước Campo Formio được ký vào tháng 4 năm 1797, đánh dấu sự kết thúc của Chiến tranh Liên minh chống Pháp lần thứ nhất.
Những chiến công đó khiến uy tín của Napoleon lên cao chưa từng có. Khi phe Jacobin bắt đầu khôi phục ảnh hưởng trong chính quyền, ông được cử chỉ huy chiến dịch Ai Cập năm 1798, nhằm đe dọa các tuyến thương mại của Anh và mở rộng tầm ảnh hưởng của Pháp. Tuy nhiên, chiến dịch nhanh chóng rơi vào bế tắc, và Napoleon quyết định bí mật trở về Pháp để lợi dụng thời cơ chính trị.
Tại quê nhà, ông nhanh chóng giành được sự ủng hộ của công chúng và quân đội. Cùng với Sieyès – một trong những kiến trúc sư của Cách mạng – và sự giúp đỡ của quý tộc Talleyrand cùng em trai kiêm Chủ tịch Hội đồng Lucien Bonaparte, Napoleon tiến hành đảo chính ngày 9 tháng 11 năm 1799 (hay 18 tháng sương mù Brumaire theo lịch cách mạng), lật đổ chính quyền Đốc chính và thiết lập chế độ Tổng tài.
Ba Tổng tài được bổ nhiệm là Napoleon, Sieyès, và Ducos, nhưng quyền lực thực sự nằm trọn trong tay Napoleon, người nắm cả quân đội lẫn chính quyền – trên thực tế, ông đã trở thành nhà độc tài quân sự của nước Pháp.
Sau chiến thắng Marengo năm 1800 trước quân Áo, Napoleon được tôn vinh là Tổng tài trọn đời, củng cố quyền lực tuyệt đối. Đến tháng 5 năm 1804, 15 năm sau khi Cách mạng Pháp khởi đầu, ông tự xưng Hoàng đế, chính thức khai sinh Đế chế Pháp.
Cách Mạng Pháp, bắt đầu khởi đầu với lời hứa về tự do, quyền bình đẳng và tình huynh đệ đã kết thúc. Mặc dù khởi đầu với nhiều hứa hẹn, lời hứa về tự do nhanh chóng lu mờ trước sự sợ hãi, dẫn đến các tội ác cùng tình trạng hỗn loạn kéo dài suốt 10 năm liền. Dù điều gì đã xảy ra, Thời đại Napoleon đã bắt đầu.
Phần kết
Và vừa rồi là toàn bộ nội dung của bài viết. Cảm ơn các bạn vì đã đọc đến đây!

Sách
/sach
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất












