“Hãy nhớ lấy, hỡi tên khổng lồ: kẻ đã chọc mù con mắt duy nhất của ngươi hôm nay là Odysseus, con trai của Laertes, vua xứ Ithaca.”

Odysseus trong bộ phim The Odyssey (2026)
Odysseus trong bộ phim The Odyssey (2026)
Thần thoại Hy Lạp vốn là sân chơi của những anh hùng mang dòng máu nửa người nửa thần và những chiến công vượt tầm nhân loại. Ta nhớ về Heracles, con trai của thần Zeus với sức mạnh bài thiên đảo hải, gánh cả vòm trời trên vai, hay Theseus, con trai của Poseidon, đơn độc chế ngự Minotaur, hay chàng Achilles kiêu hùng, người anh hùng vĩ đại nhất trong trận chiến thành Troy, con trai của nữ thần sóng biển Thetis.
Thế nhưng, lạc giữa những tượng đài sừng sững ấy, có một cái tên đã định nghĩa lại khái niệm "anh hùng" theo cách rất riêng. Ông không có sức mạnh dời non lấp bể, càng không phải là con cháu của bất kỳ vị thần nào. Ông bước vào huyền thoại với tư cách của một người trần mắt thịt đúng nghĩa. Tất cả những gì ông có chỉ là một cái đầu mưu mẹo và một ý chí sắt đá đến thần linh cũng không lay chuyển nổi. Ấy vậy mà những câu chuyện về ông vẫn còn vang danh cho tới ngày nay, hoàn toàn sánh ngang với những Hercules, Theseus, hay Achilles. Đó chính là Odysseus, người anh hùng đã đánh sập thành Troy.
Hướng về dự án phim Odysseus đầy hứa hẹn của đạo diễn Christopher Nolan, chúng ta hãy cùng ngược dòng thời gian để khám phá trọn vẹn cuộc đời ba chìm bảy nổi của kẻ ranh mãnh nhất thế giới cổ đại này. Bài viết là sự đúc kết và chắt lọc từ hai tác phẩm vĩ đại IliadOdyssey của Homer, cùng hệ thống cổ thư phong phú như Cypria, Iliou Persis, các vở kịch Ajax, Philoctetes và sách Bibliotheca (Apollodorus). Do các nguồn sử liệu gốc đôi chỗ còn xung đột, mình đã biên soạn và kết nối lại các tình tiết nhằm mang đến cho mọi người một mạch truyện tự nhiên, trọn vẹn nhất.
Bắt đầu thôi!

I, TUỔI THƠ CỦA ODYSSEUS

Tượng Odysseus trên đảo Ithaca ngày nay
Tượng Odysseus trên đảo Ithaca ngày nay
Người đời vẫn truyền nhau rằng Odysseus là con trai hợp pháp của Laertes. Tuy nhiên, các dị bản thần thoại sau này lại đưa ra một giả thuyết khác: cha ruột của chàng thực chất là Sisyphus - kẻ gian hùng khét tiếng trong thần thoại, người từng dùng mưu kế trêu đùa cả thần địa ngục Hades và xích cổ cả thần Chết Thanatos.
Trong khi đó, bên ngoại của Odysseus là Autolycus, kẻ mang biệt danh “Sói cô độc”. Ông ta là tên trộm lừng danh nhất Hy Lạp cổ đại, sở hữu biệt tài cải trang và tráo đổi hình dạng mọi thứ một cách xuất thần. Trong thiên hạ, không có món đồ nào ông ta không thể lấy, cũng chẳng có nơi nào ông ta không thể đột nhập.
Tương truyền một ngày nọ, Sisyphus đang chăn thả đàn bò thì vừa quay đi quay lại, cả đàn gia súc đã biến mất không dấu vết. Sinh nghi, hắn đoán ngay chỉ có Autolycus mới đủ mưu mẹo để làm việc này, bèn lần theo dấu vết sang tận đồng cỏ của đối phương.
Sisyphus cũng không phải kẻ tầm thường. Trước đó, hắn đã bí mật khắc ký hiệu dưới móng từng con bò để phòng hờ bị đánh tráo. Khi hắn lật móng lên kiểm tra, những dấu vết cũ hiện ra rõ ràng, chứng thực đó chính là đàn bò của mình.
Tuy nhiên, vật đã rơi vào tay kẻ khác thì khó lòng đòi lại. Nuốt không trôi cơn giận, Sisyphus liền trả đũa bằng cách cưỡng hiếp con gái của Autolycus. Người con gái này về sau kết hôn với Laertes và sinh ra Odysseus.
Chính Autolycus là người đã đặt tên cho đứa trẻ là Odysseus, mang ý nghĩa “kẻ khiến người đời oán hận”. 
Nếu chúng ta công nhận dị bản này, thì Odysseus đã mang trong mình dòng máu của Sisyphus từ đời cha, lại thừa hưởng bản năng của Autolycus từ đời mẹ.
Thuở nhỏ, vua Laertes đã nuôi dạy con trai mình theo một phương pháp rất khác người. Tuy là vua một nước, nhưng ông bắt con trai phải tự tay cày cấy, cuốc đất trồng cây. Ông không nuôi dưỡng Odysseus trong cung điện xa hoa mà để chàng tiếp xúc trực tiếp với dân thường, học săn bắn, nếm trải gian khổ và tự mình giải quyết mọi vấn đề. Sau này, khi đã nhường ngôi cho con trai, Laertes cùng vợ tìm đến một vùng thôn dã hẻo lánh để an hưởng tuổi già thanh đạm.
Ngay từ thuở nhỏ, Odysseus đã được vua cha dạy cho một đạo lý: làm vua cũng không tránh khỏi lao lực, quyền lực không giúp người ta miễn trừ gian nan. Ithaca là một hòn đảo nhỏ ở phía Tây Hy Lạp, rất khắc nghiệt và nghèo khó, hoàn toàn không thể sánh vai với những đế quốc Mycenaea hay Sparta trong đại lục. Và muốn sinh tồn trên hòn đảo Ithaca nghèo khó này, người ta buộc phải hiểu thiên nhiên, biết cách chống chọi với cuộc sống khắc nghiệt.
Chính vì vậy, người đời sau mới nhận định rằng, bản lĩnh của Odysseus không chỉ nằm ở dòng máu anh hùng, mà là sự kết tinh của trí tuệ, mưu lược và quá trình khổ luyện khắc nghiệt giữa đời thực.

II, TRẬN CHIẾN THÀNH TROY

1, Lời thề Tyndarius

Helen
Helen
Thuở bấy giờ, tại xứ Sparta có một người con gái tên là Helen, sở hữu nhan sắc tuyệt thế vô song, tựa như vầng trăng sáng giữa trời đêm, khiến cho bất kỳ ai cũng phải ngước nhìn. Tiếng tăm về vẻ đẹp của nàng truyền đi khắp các thành bang Hy Lạp, vượt qua biển cả và núi non, đến tận những vùng đất xa xôi ngoài biên giới. Các vương tôn, anh hùng và những chiến binh quả cảm nghe danh đều đem lòng ngưỡng mộ, chỉ mong được một lần kết duyên cùng nàng.
Khi Helen đến tuổi trưởng thành, xe ngựa của những người cầu hôn nối đuôi nhau đổ về Sparta. Trong số ấy có những người sau này trở thành những danh tướng lừng lẫy, có những người nắm giữ cả một vương quốc hùng mạnh, bởi vậy mà vua Tyndareus ngày đêm lo lắng. Ông hiểu rằng nếu gả con gái cho một người thì những kẻ còn lại tất sẽ sinh lòng oán hận. Mà những người ấy đều là các bậc anh hùng cai trị một phương, chỉ cần một người nổi giận cũng đủ gây nên binh đao khói lửa, huống hồ ở đây có đến hàng chục kẻ đang cùng tranh giành một mỹ nhân.
Đúng vào lúc nhà vua đang bế tắc không biết giải quyết ra sao thì từ đảo Ithaca, có một vị quốc vương trẻ tuổi đến gặp ông. Người ấy chính là Odysseus. Chàng vừa gặp Tyndareus đã nhìn thấu nỗi lo trong lòng nhà vua, bèn chủ động xin được hiến kế.
Chàng nói với Tyndareus rằng nếu kế sách thành công, xin nhà vua hãy đứng ra gả nàng Penelope, cháu gái của ông, cho chàng làm vợ.
Thật ra, Odysseus cũng nằm trong số những người ban đầu đến cầu hôn Helen. Nhưng khác với đám đông đang mê muội trước sắc đẹp của nàng, chàng lại nhìn thấy phía sau dung nhan ấy là vô số tai họa đang chực chờ. Trong mắt Odysseus, Helen giống như một báu vật quý giá đến mức khiến tất cả mọi người đều muốn đoạt lấy, và thường sẽ trở thành nguồn cơn của tranh chấp và hủy diệt. Trái lại, Penelope tuy về sắc đẹp đứng sau Helen, nhưng ngay từ lần đầu gặp mặt, Odysseus đã cảm thấy đây mới chính là người phụ nữ có thể cùng mình đi hết quãng đời còn lại.
Tyndareus thấy yêu cầu ấy hoàn toàn hợp lý, bèn đồng ý. Lúc đó Odysseus mới đưa ra kế sách rằng trước khi Helen chọn chồng, tất cả những người cầu hôn đều phải đứng trước các vị thần tối cao mà lập lời thề: bất kể Helen lựa chọn ai, những người còn lại đều phải tôn trọng quyết định ấy. Hơn nữa, nếu trong tương lai có kẻ nào dám cướp đoạt hoặc đe dọa cuộc hôn nhân đó, thì tất cả những người đã từng cầu hôn nàng đều phải cùng nhau đứng lên bảo vệ, không được viện bất kỳ lý do gì để thoái thác.
Tyndareus nghe xong thì mừng rỡ vô cùng, bởi kế sách ấy chẳng những giải được mối lo trước mắt mà còn có thể ngăn ngừa hậu họa về sau. Thế là ông lập tức triệu tập toàn bộ những người cầu hôn đến trước bàn thờ thần linh, yêu cầu họ cùng nhau lập lời thề. Về sau người đời gọi đó là "Lời thề Tyndareus", nhưng xét cho cùng thì kẻ nghĩ ra lời thề ấy lại chính là Odysseus. 
Sau đó, Helen chọn Menelaus, hoàng tử út xứ Mycenae làm chồng. Vài năm sau, Menelaus lên ngôi, Helen trở thành hoàng hậu. Và lời thề tưởng như sẽ chẳng bao giờ cần dùng đến... cho đến khi nàng bỏ trốn cùng chàng trai tên Paris đến từ thành Troy. 
Về chi tiết toàn cục của cuộc chiến thành Troy, mình đã kể trong bài viết trước, vì thế trong bài viết này, mình sẽ chỉ tập trung vào những gì quan trọng nhất xảy ra xoay quanh người anh hùng Odysseus của chúng ta. Các bạn có thể tìm đọc bài viết cũ của mình về toàn bộ trận chiến thành Troy trong list bài viết của mình nhé! Giờ thì tiếp tục thôi.

2, Odysseus chiêu mộ Achilles

Sau khi Paris đưa Helen rời khỏi Sparta để trốn sang thành Troy, thế giới Hy Lạp lập tức chấn động. Menelaus nổi giận, còn anh trai ông là Agamemnon thì nhân cơ hội ấy triệu tập các thủ lĩnh khắp nơi, viện dẫn lời thề năm xưa để ép các vị vua cùng xuất binh phạt thành Troy.
Bấy giờ trên đảo Ithaca, Odysseus lại đang sống những ngày tháng bình yên nhất đời mình. Penelope vừa sinh được một con trai đặt tên là Telemachus. Mỗi khi nhìn thấy vợ yêu con thơ, Odysseus đều cảm thấy những chuyện tranh giành quyền lực ngoài thế giới kia chẳng còn đáng để bận tâm. Nào ngờ giữa lúc gia đình đang sum họp thì sóng gió đã vượt biển mà tới.
Một hôm, sứ giả của Agamemnon mang thông điệp từ Mycenae đến Ithaca. Trong thư nhắc lại lời thề năm xưa và yêu cầu chàng phải dẫn quân đến Mycenae hội quân trong thời gian sớm nhất.
Odysseus đọc xong, bất giác cười cay đắng. Năm ấy khi hiến kế cho Tyndareus, chàng chỉ muốn giải quyết một mối họa trước mắt, nào ngờ một lời nói ra lại giống như sợi xích vô hình, nhiều năm sau quay lại trói buộc chính bản thân chàng.
Chàng nghĩ thầm: "Menelaus mất vợ là chuyện của Menelaus. Ta cùng hắn nào có thâm tình gì. Nay bắt ta bỏ lại Penelope và đứa con vừa mới chào đời, đem quân vượt biển hàng nghìn dặm để đánh một trận chiến không biết ngày nào kết thúc, chẳng phải quá vô lý hay sao?"
Không bao lâu sau, dân chúng Ithaca bỗng thấy vị vua của mình thay đổi hẳn. Chàng không còn điều hành chính sự, cũng chẳng gặp gỡ các trưởng lão, suốt ngày mặc tấm áo rách, đầu quấn cỏ khô, lang thang ngoài đồng ruộng như người mất hồn. Có hôm chàng dắt bò đi cày, nhưng thay vì gieo lúa lại rải từng nắm muối trắng xuống đất. Miệng thì lẩm bẩm những câu chẳng ai hiểu nổi, ánh mắt đờ đẫn như kẻ đã hóa điên.
Tin tức nhanh chóng truyền tới Mycenae. Agamemnon nghe xong nửa tin nửa ngờ, liền sai Palamedes đích thân tới điều tra.
Người này nổi tiếng là kẻ có đầu óc kín kẽ, lại cực kỳ đa nghi. Palamedes âm thầm quan sát nhiều ngày. Thấy Odysseus ngày nào cũng kéo cày ngoài đồng, hắn liền nghĩ ra một mưu mẹo.
Hôm ấy khi Odysseus đang cày ruộng, Palamedes bỗng cho người bế đứa trẻ Telemachus đặt ngay trước lưỡi cày.
Lưỡi cày đang lao tới. Đứa trẻ nằm bất động giữa luống đất. Chỉ trong khoảnh khắc sinh tử ấy, Odysseus lập tức kéo mạnh dây cương, ép con vật đổi hướng. Chàng nhảy xuống ôm lấy con trai vào lòng, trên mặt không còn chút vẻ điên dại nào nữa.
Đến nước ấy, Odysseus đành chấp nhận vận mệnh. Chàng từ biệt Penelope, ôm Telemachus lần cuối rồi dẫn quân lên đường. 
Khi đến Mycenae, Agamemnon đích thân ra đón tiếp. Sau khi tiệc rượu xong xuôi, vị tổng tư lệnh mới hỏi:
"Nay các vương quốc đều đã tập hợp binh mã, chỉ đợi ngày xuất quân. Theo ý ngươi, muốn phá thành Troy cần chuẩn bị điều gì trước nhất?"
Odysseus nghe vậy liền đáp:
"Muốn phá Troy, trước tiên phải có Achilles."
Vấn đề là, ai cũng biết Achilles không nằm trong số những người từng cầu hôn Helen. Chàng không chịu bất kỳ sự ràng buộc nào từ lời thề năm xưa. Nếu Achilles từ chối, chẳng ai có quyền ép buộc.
Nhưng Agamemnon hiểu rất rõ: thiếu người này, cuộc viễn chinh gần như mất đi một nửa hy vọng chiến thắng.
Vì vậy Agamemnon lập tức giao nhiệm vụ chiêu mộ ấy cho Odysseus.
Sau nhiều ngày dò hỏi, Odysseus biết được rằng mẹ của Achilles, là nữ thần sóng biển Thetis, vì sợ lời tiên tri về cái chết của con trai, nên đã bí mật đưa chàng tới đảo Scyros, giấu trong cung điện của vua Lycomedes. Achilles phải mặc y phục thiếu nữ, sống lẫn giữa các công chúa và cung nữ, khiến người ngoài không một ai nhận ra.
Nghe chuyện ấy, Odysseus chỉ mỉm cười. Đến Scyros, chàng cải trang thành thương nhân phương xa, đem theo vô số gấm vóc, son phấn, vòng ngọc và đồ trang sức. Thế nhưng giữa đống hàng hóa ấy, chàng lại cố ý đặt vài thanh kiếm báu cùng một bộ giáp tinh xảo.
Khi hàng hóa được bày ra, đám thiếu nữ lập tức kéo đến xem. Người chọn vòng ngọc, kẻ chọn lụa là, tiếng cười nói ríu rít vang khắp đại sảnh.
Chỉ riêng một thiếu nữ đứng ở góc phòng lại chẳng buồn nhìn đến những thứ trang sức lộng lẫy. Ánh mắt nàng cứ dán chặt vào những thanh kiếm sáng loáng đặt trên bàn.
Đến lúc ấy thì không còn gì phải nghi ngờ nữa. Odysseus cười lớn: "Achilles, ngươi còn muốn trốn tránh đến bao giờ?"
Người thiếu nữ khẽ thở dài. Odysseus định mở lời thuyết phục, nhưng Achilles đã giơ tay ngăn lại.
"Ta biết ngươi tới đây vì mục đích gì. Ta cũng biết nếu đi tới Troy thì sẽ phải bỏ mạng. Nhưng con người khả tử có ai mà không chết? Nếu phải chết, ta thà chết trong khúc ca của các thi nhân còn hơn sống thêm trăm năm trong mờ nhạt rồi bị thế gian quên lãng."
Ít ngày sau, Achilles dẫn theo các chiến binh Myrmidon xuống thuyền. Đến đây, những nhân tố quan trọng nhất của liên minh Hy Lạp cuối cùng cũng đã quy tụ đầy đủ, còn cỗ xe chiến tranh một khi đã lăn bánh thì không một ai có thể ngăn nó quay trở lại nữa.

3, Bỏ lại Philoctetes

Khi liên quân Hy Lạp tập hợp lực lượng chuẩn bị xuất chinh, Philoctetes là một trong những thủ lĩnh quan trọng nhất. Ông là tay xạ thủ lừng danh, sở hữu cây cung báu và những mũi tên tẩm nọc độc Hydra do chính sư phụ là đại anh hùng Heracles trao lại trước khi nhắm mắt xuôi tay để bay về cõi Olympus. Thế nhưng, khi đoàn thuyền ghé vào một hòn đảo để nghỉ ngơi, tai họa bất ngờ giáng xuống: Philoctetes vô tình bị một con rắn thiêng cắn vào chân. Lý do là bởi vì ông ta đã vô tình mạo phạm miếu thờ của nàng tiên nữ trấn giữ hòn đảo.
Vết thương không những không lành mà ngày càng hoại tử đáng sợ, rỉ máu mủ và bốc mùi hôi thối nồng nặc. Ban đầu, các chiến binh còn tỏ lòng thương cảm, nhưng ngày này qua ngày khác, tâm lý họ dần biến dịch, thậm chí có lời đồn căn bệnh quái ác ấy sẽ lây lan.
Chứng kiến tình cảnh đó, Odysseus biết mình phải hành động. Là người thấu hiểu lòng quân nhất, chàng thừa biết một đạo quân chuẩn bị bước vào trận chiến sinh tử không thể mang một tinh thần bạc nhược, lung lay. Hơn nữa lưu lại quá lâu thì chẳng khác nào để thời gian cho quân Troy chuẩn bị nghênh đón.
Trong cuộc họp các thủ lĩnh tại đại trướng, chính Odysseus đứng dậy đề nghị bỏ lại Philoctetes trên đảo. Agamemnon đồng ý ngay lập tức.
Khi đoàn thuyền rời bến đảo hoang Lemnos, liên quân âm thầm bỏ Philoctetes lại khi ông đang mê mệt. Tuy nhiên, Odysseus vẫn đích thân sắp xếp mọi thứ cho người đồng đội tội nghiệp. Chàng để lại đủ lương thực, nước uống, dụng cụ sinh tồn, và tuyệt đối không tước đi cây cung thần cùng những mũi tên báu, thứ vũ khí và cũng là niềm kiêu hãnh cuối cùng của một anh hùng.

4, Odysseus thách thức cả lời tiên tri

Đại quân Hy Lạp vượt biển nhiều ngày đêm, cuối cùng họ cũng nhìn thấy thành Troy hiện ra ở phía chân trời. Tường thành cao lớn nguy nga đứng sừng sững bên bờ biển. Bấy giờ trong doanh trại liên quân vốn đã lưu truyền một lời sấm truyền của thần linh rằng, người đầu tiên đặt chân lên đất Troy nhất định sẽ phải bỏ mạng dưới tay Hector, hoàng tử thành Troy. 
Thế là một cảnh tượng chưa từng có xuất hiện trước bờ biển Troy. Hàng vạn chiến binh đứng ken đặc trên các boong tàu, giáo mác sáng lòa dưới ánh mặt trời, khoảng cách từ mũi thuyền đến bờ cát chỉ còn vài bước chân, vậy mà không một ai chịu tiến lên trước. 
Chính vào lúc ấy, Odysseus từ trong đám đông bước ra. Chàng đứng ở mũi thuyền nhìn về phía bờ biển hồi lâu, rồi bất giác bật cười. Odysseus lập tức nhảy xuống đứng hiên ngang trên bờ biển. Hàng vạn ánh mắt đồng thời hướng về một chỗ, bởi ai cũng nghĩ rằng vị quốc vương xứ Ithaca đã quyết định hy sinh thân mình để gánh chịu lời nguyền cho toàn quân.
Nghĩ rằng lời nguyền của thần linh đã mất linh nghiệm, Protesilaus, một anh hùng trẻ tuổi và can trường xứ Phylace, liền không chút chần chừ mà lao mình khỏi boong tàu. Anh là người tiếp theo nhảy xuống, đôi chân đạp mạnh lên bờ cát Troy, vung gươm gầm vang định mở đường máu cho binh sĩ.
Thế nhưng, ngay khi bước chân của Protesilaus vừa chạm đất, từ trong bóng tối của chiến lũy Troy, một ngọn giáo dũng mãnh lao ra với tốc độ xé gió. Kẻ phóng lao không ai khác chính là Hector, hoàng tử xứ Troy. Lưỡi giáo sắc lẹm của Hector xuyên thẳng qua giáp ngực Protesilaus, kết liễu người anh hùng trẻ tuổi ngay tại chỗ.
Chứng kiến cái chết chớp nhoáng của Protesilaus, liên quân Hy Lạp mới ngỡ ngàng nhìn lại phía Odysseus. Lúc này, họ mới nhận ra một sự thật kinh ngạc: Đôi chân của Odysseus từ nãy đến giờ không hề chạm vào một hạt cát nào của thành Troy, mà chàng đang đứng vững vàng trên chính chiếc khiên bằng đồng được ném ra trước đó.

5. Tranh chấp bộ áo giáp của Achilles

Tua qua một số sự kiện quan trọng trong trận chiến thành Troy kéo dài mười năm trời, bao gồm một số lượng khổng lồ các trận chiến, sự việc Hector giết chết Patroclus. Achilles giết chết Hector, rồi cuối cùng Achilles chết dưới mũi tên găm vào gót chân được bắn ra từ tay Paris.
Sau tang lễ Achilles, nữ thần Thetis bước lên trước linh cữu, tay cầm bộ giáp vàng rực như ánh mặt trời. Bà nói:
“Trong hai người đã dũng cảm đưa thi thể Achilles trở về, một là chiến tướng Ajax, một là mưu sĩ Odysseus. Giờ ta muốn trao bộ giáp này cho người xứng đáng nhất.”
Các tướng Hy Lạp bắt đầu bàn bạc. Có người cho rằng Ajax là người mạnh mẽ, dũng cảm, đã cõng xác Achilles vượt qua chiến trường, công lao không nhỏ. Nhưng cũng có người lên tiếng bênh vực Odysseus, tuy không mạnh bằng Ajax, nhưng khi bị truy kích, chàng đã đánh chặn hậu, bảo vệ đường rút cho Ajax. Ai cũng có lý.
Cuối cùng, họ tổ chức bỏ phiếu. Kết quả: phần lớn đồng ý trao giáp cho Odysseus. Ajax nghe xong, mặt lạnh như băng, không nói gì, lặng lẽ quay về lều.
Tối hôm đó, Ajax ngồi một mình uống rượu. Trong lòng hắn đầy tức giận, không ngừng lẩm bẩm:
“Ta, Ajax, người từng dùng thân chắn giáo bảo vệ đồng đội, lại thua một kẻ chỉ giỏi dùng miệng. Thế gian đúng là đảo điên...”
Men rượu ngấm sâu, đầu óc choáng váng, mắt đỏ ngầu. Trong cơn tức giận, Ajax vung kiếm xông thẳng đến lều của Odysseus. Thấy một bóng trắng bên trong, hắn tưởng là đối thủ nên lập tức lao vào, túm lấy, trói chặt tứ chi, treo ngược lên cột trại. Rồi hắn đấm, đá, cuối cùng rút kiếm chém đầu kẻ đó.
Đến khoảng gần sáng, rượu dần tan, Ajax tỉnh lại. Khi nhìn kỹ, hắn chết sững. Thứ mà hắn tưởng là Odysseus, thực ra chỉ là một con cừu lớn, đầy máu me, đầu lìa khỏi cổ. Bộ lông trắng vương vãi khắp nơi.
Ajax hiểu ra tất cả: thần Athena đã khiến hắn hoang tưởng, nhìn cừu thành người. Cảm thấy nhục nhã, giận chính mình, Ajax không còn mặt mũi nào đối diện với mọi người.
Hắn quay lại lều, rửa tay và mặt sạch sẽ, rồi lấy thanh kiếm bạc được Hector tặng ngày xưa, đâm thẳng vào ngực. Máu trào ra, nhuộm đỏ mặt đất. Hắn gục xuống, tay vẫn nắm chặt chuôi kiếm.
Khi Odysseus nghe tin, chàng lập tức chạy đến. Đứng nhìn xác Ajax rất lâu, chàng than thở:
“Ajax à… Giá như ta biết được ngươi sẽ hành động như vậy, có lẽ ta đã nhường bộ giáp ấy cho ngươi.”

6. Odysseus cướp tượng Palladium

Cuộc vây hãm thành Troy kéo dài đã mười năm. Quân Hy Lạp nhiều lần xông lên đánh phá, bày đủ mưu kế, nhưng tường thành Troy vẫn đứng vững như chưa từng hề bị lay chuyển. Lính tráng mệt mỏi, tướng lĩnh bạc đầu, thế trận dường như rơi vào bế tắc.
Một ngày nọ, các tướng họp bàn trong trướng lớn. Odysseus đứng dậy và nói:
“Troy không sụp là vì trong thành còn bức tượng Palladium, một linh vật thiêng liêng mà dân thành tin rằng sẽ bảo vệ họ. Họ cho rằng chừng nào tượng còn, thành còn. Tôi đề nghị lẻn vào thành trộm lấy tượng ấy, làm lung lay tinh thần địch. ”
Tất cả im lặng, nhưng đều gật đầu đồng tình. Không đợi chậm trễ, Odysseus cải trang thành ăn mày, bôi tro lên mặt, khoác áo rách, chống gậy gỗ, rồi lén lút chui vào thành trong đêm tối.
Odysseus đang lặng lẽ đi qua quảng trường thì bỗng có giọng nói từ trên cao vọng xuống: “Là Odysseus phải không?”
Người đứng trên hành lang chính là Helen. Nàng khoác váy trắng tinh khôi, tóc đen mềm. Nhìn rõ người bên dưới, nàng nhẹ giọng nói:
“Không cần trốn. Em không báo lính gác đâu. Mọi người cứ nghĩ em chạy theo Paris vì mê tình, nhưng thực ra là bị Aphrodite mê hoặc. Bao nhiêu năm sống bên Paris, em chưa từng quên Menelaus. Cũng chưa từng quên con gái mình. Lòng em chưa bao giờ thuộc về Troy.”
Nàng nhìn lên phía đền Athena, nằm trên cao nhất của thành Troy, rồi nói khẽ:
“Tượng Palladium ở trong đó. Nếu anh định lấy, thì làm ngay đêm nay. Nhưng nhớ đừng đổ máu trong đền. Đừng chọc giận thần linh.”
Odysseus khẽ cúi đầu cảm ơn, rồi rời đi không nói một lời.
Nửa đêm, khi sương mù dày đặc, Odysseus lẻn vào đền thờ Athena. Giữa chính điện, tượng thần đứng sừng sững, ánh mắt lạnh như sương, tay cầm giáo, khoác áo giáp. Odysseus quỳ lạy, sau đó nâng bức tượng, giấu kỹ trong áo và âm thầm trèo qua tường thành trốn ra ngoài.
Sáng hôm sau, tượng đã về đến doanh trại Hy Lạp.

7. Tái chiêu mộ Philoctetes

Vào mùa đông của năm thứ mười, chiến dịch kéo dài trước cổng thành Troy đã khiến tinh thần quân Hy Lạp dần rệu rã. Trong doanh trại, một lời sấm được truyền ra:
“Thành Troy sẽ không thể bị đánh sập nếu không có cây cung của Heracles.”
Cây cung ấy từng là vũ khí theo Hercules đi khắp thiên hạ, sau đó được trao lại cho Philoctetes, người hiện đang bị bỏ rơi trên đảo Lemnos suốt hơn mười năm trời. Ngày xưa, chính vì một vết thương bị nhiễm độc nặng nơi chân, hắn đã bị cả đội quân đồng lòng bỏ lại. Mà người khuyên quân Hy Lạp bỏ rơi hắn lại chính là Odysseus.
Sau khi bàn bạc, các tướng quyết định cử Odysseus và chiến tướng Diomedes đi tìm Philoctetes. Thuyền họ ra khơi, thuận gió, nhanh chóng cập bến đảo hoang.
Odysseus là người đầu tiên lên bờ. Chàng tìm đến hang đá nơi Philoctetes sinh sống. Không khí ở đó lạnh buốt và nặng mùi hôi thối. Vết thương của Philoctetes vẫn chưa lành.
Khi thấy Odysseus, Philoctetes nhìn với ánh mắt đầy giễu cợt: “Mười năm trước, chính ngươi là kẻ đầu tiên lên tiếng đòi bỏ ta lại đây. Giờ lại có mặt mũi đến gặp ta à?”
Odysseus giữ bình tĩnh, cố gắng giải thích. Nhưng Philoctetes không buồn nghe. Hắn quay lưng lết vào trong hang, không cho ai bước vào.
Odysseus đành trở lại thuyền với vẻ mặt khó chịu, rồi thì thầm bàn bạc với Diomedes một kế sách. Ban đầu Diomedes còn do dự, nhưng sau khi suy nghĩ đến đại cuộc, anh đồng ý.
Lần này Diomedes lên bờ một mình. Chàng gõ nhẹ vào vách đá trước hang, xin được gặp. Philoctetes bước ra. Vốn nể Diomedes, hắn không bỏ vào ngay mà hỏi: "Ngươi tới đây làm gì?"
Diomedes cúi người, chậm rãi nói: “Quân Hy Lạp đã phản bội ta. Ta dốc hết lòng vì họ, vậy mà bị Odysseus chèn ép, cướp hết công của ta. Nếu ngươi còn oán hận họ, xin hãy trao cây cung ấy cho ta. Ta sẽ dùng nó để đòi lại công bằng”
Philoctetes lặng lẽ nhìn người trẻ trước mặt hồi lâu. Rồi hắn quay vào trong, đem ra cây cung ra và trao cho Diomedes.
Diomedes nhận lấy, bước ra khỏi hang. Nhưng vừa đi được một đoạn, lòng chàng bắt đầu rối bời. Chàng đặt cây cung xuống đất, thở dài: “Mượn lời giả dối để lừa một người đã chịu khổ sở mười năm. Lương tâm mình sao chịu được chuyện này.”
Không chần chừ, chàng quay lại hang, quỳ xuống, thành thật trả lại cây cung và kể hết sự thật.
Philoctetes không nói gì. Đêm hôm đó, trong giấc ngủ, hắn mơ thấy Hercules hiện về, khoác da sư tử, tay cầm chùy lớn, đứng giữa không trung mà trách:
“Ngươi là người ta chọn để giữ cung thần. Vậy mà khi đại nghĩa còn dang dở, ngươi lại toan chôn vùi nó sao? Mau theo Odysseus quay về. Vết thương của ngươi sẽ có người chữa khỏi.”
Sáng hôm sau, Philoctetes tỉnh dậy, nét mặt nhẹ nhõm. Hắn gật đầu đồng ý trở về chiến trường, nhưng vết thương nơi chân vẫn chưa lành, không thể bước đi.
Odysseus lập tức cho người mời hậu duệ của thần y Asclepius, hai anh em Machaon và Podalirius tới chữa bệnh. Sau một tuần điều trị bằng thảo dược, vết thương lành hẳn. Philoctetes có thể đứng dậy, dáng đi vững vàng, sẵn sàng ra trận. Cũng từ cây cung này mà hoàng tử Paris hèn nhát đã bỏ mạng.

8, Kế ngựa gỗ, thành Troy thất thủ

Ngựa gỗ thành Troy
Ngựa gỗ thành Troy
Lại nói sau mười năm chinh chiến dưới chân thành Troy, thế giới Hy Lạp và cả vùng Tiểu Á đã đến lúc mỏi mệt rệu rã. Biết bao vương tôn rời quê hương từ thuở thanh xuân, nay tóc đã điểm bạc mà vẫn chưa nhìn thấy ngày chiến thắng. Biết bao người lên đường với khát vọng lập chiến công lẫy lừng, cuối cùng chỉ còn lại những nấm mồ vô danh nằm rải rác trên bờ biển xa lạ.
Chính trong thời khắc bế tắc ấy, Odysseus nhìn thấy điều mà nhiều người khác chưa nhìn thấy. Chàng hiểu rằng những bức tường thành kiên cố của Troy sẽ không bị phá vỡ bởi thêm một cuộc công thành đẫm máu nào nữa, cũng sẽ không sụp đổ bởi một vị anh hùng nào đó lao lên phía trước. Mười năm qua đã chứng minh điều đó quá rõ ràng. Achilles đã chết. Ajax đã chết. Vô số dũng sĩ lừng danh đã ngã xuống. Nếu sức mạnh cơ bắp có thể hạ được Troy, thành phố ấy đã phải sụp đổ từ nhiều năm trước. Điều còn thiếu không phải một cánh tay mạnh hơn, mà là một bộ óc đủ sức nhìn ra con đường mà không ai khác nhìn thấy.
Thế là Odysseus bắt đầu suy tính.
Ngày ấy chàng thường đứng rất lâu bên bờ biển, nhìn những con sóng không ngừng vỗ vào chân thành Troy rồi lại tan biến. Trong đầu chàng đang hình thành một kế hoạch sẽ thay đổi vận mệnh của cả cuộc chiến. Một kế hoạch táo bạo đến mức nếu thất bại, tất cả những người tham gia đều sẽ bỏ mạng, nhưng nếu thành công, nó sẽ kết thúc cuộc chiến kéo dài mười năm chỉ trong một đêm duy nhất.
Một ngày, bầu trời trong xanh, gió lặng, thám báo thành Troy báo tin: quân Hy Lạp đã thu dọn trại, giương buồm rút thuyền ra khơi.
Dân thành và vua Priam đều ngạc nhiên. Có người cho rằng địch mệt mỏi nên rút, người khác thì nghi ngờ có mưu kế nào đó. Nhưng rõ ràng trại địch bỏ không, lửa tàn tro lạnh, không một bóng lính canh.
Giữa bãi cát rộng lớn ngoài thành bất ngờ xuất hiện một vật kỳ lạ: con ngựa gỗ khổng lồ, cao gần bằng ba chiếc xe ngựa chồng lên nhau, chạm khắc tinh xảo, bánh xe gắn dưới vó ngựa, đầu ngẩng cao hướng về phía Đông với thần thái uy nghi, như một mãnh thú trên trời.
Dân thành kéo nhau ra xem đông như hội, vua Priam và các tướng lĩnh cũng ra tận nơi, tranh luận sôi nổi. Có người muốn đốt ngựa gỗ, người khác đề nghị phá bỏ, lại có người sợ đó là vật thiêng, không dám đụng đến.
Lúc này, lính tuần tra bắt được một tên lính Hy Lạp đào ngũ. Hắn bị bắt tra hỏi và thừa nhận:
“Thống soái Agamemnon của chúng tôi đã vô tình làm phật lòng nữ thần Athena, bị giáng cho bệnh nặng, tay chân run rẩy, thở không ra hơi. Vì vậy chúng tôi làm con ngựa gỗ lớn này để tạ tội nữ thần Athena. Sau đó, lệnh rút quân được ban ra.”
Vua Priam nghe vậy mừng rỡ, liền truyền lệnh kéo ngựa gỗ vào thành, đặt ở quảng trường trung tâm. 
Đêm hôm đó, thành Troy rộn ràng tiếng nhạc, tiếng cười, khói hương lan tỏa khắp nơi. Ai nấy đều mở hội ăn mừng. Lễ vật hòa bình được cúng dâng, hương hoa khắp nơi, trống chiêng vang lên chúc mừng. Dân thành phấn khởi vì cuối cùng cũng được giải thoát khỏi cảnh chiến tranh khốc liệt, từ nay có thể yên tâm mà làm ăn sinh sống.
Thế nhưng, đúng nửa đêm trăng lên, từ bụng ngựa gỗ phát ra tiếng cọt kẹt. Một tấm ván mở ra, Odysseus cùng ba mươi chiến binh trồi lên, lặng lẽ chia nhau hành động: mở cổng thành, giết lính canh, rồi đốt hiệu đuốc báo hiệu cho quân Hy Lạp đang mai phục ngoài rừng.
Quân Hy Lạp theo đó ào vào thành, trống trận vang dậy, ngựa phi như sóng biển. Quân Troy bất ngờ không kịp phòng bị. Thành bị đốt phá, người dân bị giết không thương tiếc, xác chết chất đống, máu chảy đỏ đường.

9. Bảo vệ Helen khỏi Menelaus

Đêm thành Troy thất thủ, lửa chiến tranh đã thiêu đốt bầu trời đỏ rực như máu. Mười năm oán hận, mười năm tang tóc, mười năm những người đàn ông Hy Lạp phải bỏ lại quê hương, cha mẹ, vợ con để ngã xuống dưới chân những bức tường thành kiêu ngạo, tất cả đều bùng nổ trong một đêm duy nhất. Khi cổng thành bị mở tung, quân Hy Lạp như nước lũ vỡ đê tràn vào khắp các đường phố. Tiếng gào khóc, tiếng kim loại va chạm, tiếng nhà cửa sụp đổ hòa lẫn thành một bản nhạc tang thương của ngày tàn. Có kẻ xông vào điện thờ tìm vàng bạc của cải, có kẻ lôi phụ nữ khỏi nơi ẩn náu để thỏa mãn dục vọng, lại có kẻ nhân danh báo thù mà vung gươm tiêu diệt bất cứ ai xuất hiện trước mặt. 
Thế nhưng giữa biển máu và lửa ấy, vẫn có một người giữ được cái đầu tỉnh táo. Đó chính là Odysseus. Giữa cảnh hỗn loạn, Odysseus đi khắp nơi ra lệnh không giết dân thường.
Menelaus, chồng cũ của Helen, bắt được nàng trong cung điện. Phẫn nộ, hắn định giết nàng. May thay Odysseus vội vã ngăn lại:
“Helen bị Aphrodite mê hoặc, không tự nguyện theo phe địch. Nàng từng giúp ta lấy cắp tượng Palladium, trong lòng vẫn còn thương nhớ chồng cũ và con gái. Xin tha cho người phụ nữ bạc phận này.”
Menelaus nghe vậy rơi lệ, buông kiếm ôm lấy Helen mà khóc.
Nhờ lời thuyết phục dựa trên sự thật ấy của Odysseus, Helen giữ được mạng sống.

III, HẬU TRẬN CHIẾN THÀNH TROY - SỬ THI ODYSSEUS

1, Hòn đảo của những kẻ ăn hoa sen

Odysseus cứu những thuỷ thủ ăn hoa sen
Odysseus cứu những thuỷ thủ ăn hoa sen
Nguyên văn trong sử thi, Odysseus được tác giả Homer đặt cho một biệt danh là Polytropos, được ghép bởi tiền tố "poly" - có nghĩa là rất nhiều và hậu tố "tropos" - vừa có nghĩa là mưu mẹo, vừa có nghĩa con đường hoặc khúc quanh. Đây là một cách chơi chữ rất hay của cụ Homer. Vì nó có thể được dịch là Odysseus đa mưu túc trí, nhưng nó cũng đồng thời có thể diễn giải nghĩa là cuộc đời lênh đênh lận đận, ba chìm bảy nổi.
Quả thực vậy, con đường trở về quê nhà của Odysseus thật là lắm gian truân, đến nỗi nó được Homer viết hẳn thành một bộ sử thi độc lập lấy chàng làm trung tâm, đó chính là Sử thi Odyssey.
Khi những đốm lửa cuối cùng thiêu rụi kinh thành Troy kiêu hãnh chỉ còn là một đống tro tàn hoang phế, liên minh Hy Lạp bắt đầu tan rã theo những hướng đi của định mệnh. Giữa bầu không khí hỗn độn của khúc khải hoàn lẫn tiếng khóc than, Odysseus lầm lũi sửa soạn những cánh buồm, hướng mũi thuyền về phía Hy Lạp, nơi có hòn đảo Ithaca nghèo khó, nơi người vợ thủy chung Penelope đang ngày đêm dệt áo đợi chồng, và đứa con trai Telemachus giờ chắc đã trưởng thành mà chưa một lần rõ mặt cha.
Quân đội xứ Ithaca lúc này chỉ còn vỏn vẹn 12 chiến thuyền cùng 600 chiến binh rệu rã. Bấy giờ ai nấy đều cho rằng những năm tháng gian khổ nhất đã ở lại phía sau cùng những bức tường đổ nát của Troy, nào ngờ cuộc chiến thật sự của Odysseus lại chỉ vừa mới bắt đầu.
Khi đoàn thuyền vừa rời khỏi tầm mắt của bờ biển Troy chưa được bao lâu, bầu trời bỗng chốc sụp xuống một màu đen kịt như mực. Những trận cuồng phong dữ dội nổi lên, sóng biển cao như những ngọn núi sừng sững chực chờ nuốt chửng những mạn thuyền mỏng manh. Suốt nhiều ngày đêm ròng rã, những người lính Ithaca phải căng mình vật lộn với tử thần.
Sau chuỗi ngày dài kiệt quệ giữa lằn ranh sinh tử, khi lương thực đã cạn, dòng hải lưu cuối cùng cũng đẩy họ chạm bờ một vùng đất kỳ lạ. Nơi đây có những bãi cát dài phẳng lặng, không khí đặc quánh một mùi hương dịu ngọt, mờ mịt như sương sớm. Đó là xứ sở của Bộ tộc Ăn Hoa Sen. Khác với những quái vật ăn thịt người hay những bộ tộc khát máu mà người Hy Lạp thường khiếp sợ, cư dân ở đây hiền lành đến mức kỳ lạ. Họ không mang vũ khí, không xây dựng thành quách bảo vệ. Họ đón tiếp quân đội của Odysseus bằng những nụ cười thuần hậu và dâng tặng cho họ thứ sản vật quý giá nhất của hòn đảo: những đóa hoa sen thần bí.
Thế nhưng, chính tại nơi bình yên vắng bóng binh đao này, Odysseus đã phải đối mặt với một loại vũ khí còn hiểm độc và đáng sợ hơn tất cả gươm giáo, tên tẩm độc của thành Troy cộng lại. Thứ hoa sen ấy mang một thứ quyền năng ma mị ma quái. Bất kỳ người lính nào, dù có can trường, sắt đá đến đâu, chỉ cần nếm thử một cánh hoa liền cảm thấy một luồng sinh khí êm dịu chạy dọc cơ thể. Mọi mệt mỏi của mười năm chiến tranh lập tức tan biến. Mọi vết thương trên da thịt như được xoa dịu. Và đáng sợ hơn cả, mọi phiền não, mọi gánh nặng nghĩa vụ, cùng ký ức về quê hương Ithaca... tất cả cứ thế nhạt nhòa dần rồi tan biến vào hư không.
Một vài thủy thủ được Odysseus phái đi do thám, sau khi ăn thứ hoa ấy, đôi mắt họ trở nên vô hồn nhưng tràn ngập một thứ hạnh phúc mê muội. Họ buông thõng vũ khí, ngồi bệt xuống cát, ca hát và nhảy múa cùng dân bản địa. Họ quên mất mình là ai, quên mất chiếc thuyền chiến đang đợi ngoài khơi, quên luôn cả mục đích của chuyến hành trình vạn dặm. Đối với họ lúc này, Ithaca không còn tồn tại. Họ chỉ khát khao một điều duy nhất: được ở lại hòn đảo này suốt đời, gặm nhấm những cánh hoa sen và sống một cuộc đời bình yên, vô định, không quá khứ, không tương lai.
Đứng trước cảnh tượng ấy, Odysseus cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Không thể để mặc cho các chiến binh của mình tự chôn vùi đời mình trong nấm mồ của sự sung sướng giả tạo, Odysseus lập tức hành động. Mặc cho những người lính đã ăn hoa sen gào khóc, van xin, thậm chí buông lời nguyền rủa, vị vua xứ Ithaca vẫn lạnh lùng ra lệnh cho những binh sĩ còn tỉnh táo lao vào khống chế, dùng dây thừng trói chặt những kẻ say hoa, rồi cưỡng ép, kéo lê họ trở lại thuyền. Tiếng khóc than của những người lính vang vọng cả một vùng biển, họ oán trách vị chủ tướng của mình là một kẻ bạo chúa tàn nhẫn, kẻ đã tước đoạt đi thiên đường bình yên duy nhất mà họ tìm thấy sau mười năm địa ngục.

Đoàn thuyền Ithaca lại nhổ neo, bỏ lại sau lưng hòn đảo hoa sen ma mị, tiếp tục lao vào giông bão của đại dương, mang theo những con người đang bị trói chặt – những kẻ vừa được cứu sống khỏi cái chết của linh hồn.

2, Đánh bại tên khổng lồ một mắt Polyphemus

Odysseus chọc mù mắt Polyphemus
Odysseus chọc mù mắt Polyphemus
Đoàn thuyền tiếp tục lên đường và chẳng bao lâu sau cập vào một hòn đảo hoang vắng có những đàn dê béo tốt đi lại khắp nơi. Từ xa có thể nhìn thấy khói bốc lên từ một hang động khổng lồ. Một số người đề nghị cướp lấy đàn dê rồi rời đi, nhưng Odysseus vốn luôn tò mò về những vùng đất xa lạ nên quyết định dẫn một nhóm nhỏ tiến vào khám phá. Chính quyết định ấy đã mở đầu cho một trong những cuộc đối đầu nổi tiếng nhất đời chàng.
Chủ nhân của hang động là Polyphemus, một tên Cyclops khổng lồ chỉ có một mắt. Thân hình hắn cao lớn như một tòa tháp, sức mạnh đủ để nhấc bổng những tảng đá mà người thường phải dùng hàng chục con bò mới kéo nổi. Khi phát hiện những vị khách không mời mà đến, hắn lập tức dùng một khối đá khổng lồ bịt kín cửa hang rồi bắt đầu hỏi họ là ai. Odysseus vẫn giữ lễ nghĩa, giới thiệu mình là khách lữ hành đang trên đường trở về quê hương và cầu xin quyền được thần linh bảo hộ. Thế nhưng Polyphemus chỉ bật cười. Đối với một sinh vật như hắn, luật lệ của thần linh chẳng có ý nghĩa gì cả. Hắn túm lấy hai người lính rồi đập chết ngay trước mặt mọi người, sau đó ăn thịt họ như một con thú đói.
Những ngày tiếp theo là chuỗi thời gian kinh hoàng. Mỗi sáng và mỗi tối, Polyphemus lại bắt vài người trong số họ làm bữa ăn. Nhiều chiến binh tuyệt vọng cho rằng số phận đã an bài. Thế nhưng Odysseus vẫn giữ được sự bình tĩnh đáng kinh ngạc. Chàng hiểu rằng sức mạnh không thể giúp họ thắng được một quái vật như thế, chỉ có trí tuệ mới mở ra con đường sống. Vì vậy khi Polyphemus hỏi tên mình, Odysseus không dùng tên thật mà đáp rằng mình tên là Outis, nghĩa là "Không Ai Cả".
Sau đó chàng lấy ra thứ rượu mạnh mang từ chiến trường Troy. Polyphemus chưa từng uống loại rượu nào ngon đến vậy nên tham lam uống cạn từng vò một. Chẳng bao lâu sau, hắn say đến mức nằm vật xuống đất và chìm vào giấc ngủ. Odysseus lập tức chỉ huy những người còn sống lấy một thân gỗ lớn, vót nhọn đầu. Khi thời cơ đến, tất cả cùng dồn sức đâm cây cọc vào con mắt duy nhất của tên Cyclops. Tiếng gào thét của Polyphemus vang động cả hòn đảo. Hắn đau đớn lăn lộn rồi gọi những Cyclops khác tới cứu. Từ bên ngoài, họ hỏi ai đang hại hắn. Polyphemus liền hét lên rằng "Không Ai Cả đang giết ta!" Nghe vậy, những Cyclops khác tưởng hắn phát điên nên bỏ đi hết.
Nhờ mưu kế ấy, Odysseus và những người còn lại cuối cùng cũng trốn thoát được khỏi hang động. Đó lẽ ra phải là một chiến thắng hoàn hảo. Thế nhưng chính lúc ấy, khuyết điểm lớn nhất của Odysseus lại xuất hiện. Nếu sự khôn ngoan là phẩm chất vĩ đại nhất của chàng thì lòng kiêu hãnh cũng là điểm yếu nguy hiểm nhất. Khi thuyền đã ra xa và biết Polyphemus không thể bắt kịp, Odysseus không kiềm chế được mong muốn được ghi nhận công lao. Chàng đứng trên boong tàu lớn tiếng nói vọng lại: 
“Hãy nhớ lấy, hỡi tên khổng lồ: kẻ đã chọc mù con mắt duy nhất của ngươi hôm nay là Odysseus, con trai của Laertes, vua xứ Ithaca.”
Nghe thấy cái tên ấy, Polyphemus lập tức ngửa mặt lên trời cầu khẩn Poseidon trả thù cho mình. Hoá ra tên Polyphemus cục mịch là vậy, nhưng lại là con ông cháu cha. Hắn chính là con trai của thần biển Poseidon. Điều này thì đến ông nội của Odysseus cũng lường không nổi.
Sai lầm đó về sau trở thành một trong những nguyên nhân khiến hành trình trở về của Odysseus kéo dài thêm nhiều năm trời. Có thể nói chính trong khoảnh khắc ấy, người anh hùng đánh bại quái vật bằng trí tuệ lại thất bại trước lòng tự phụ của bản thân.

3, Sự giúp đỡ của thần gió Aeolus.

Sau nhiều tháng lênh đênh, đoàn thuyền cuối cùng đến được hòn đảo của thần Aeolus, chúa tể các cơn gió. Vị thần này vốn yêu mến Odysseus nên tiếp đãi đoàn thủy thủ vô cùng trọng hậu. Sau khi nghe kể về hành trình gian khổ của họ, Aeolus quyết định giúp đỡ bằng cách thu toàn bộ những luồng gió nguy hiểm vào trong một chiếc túi da thần kỳ, chỉ để lại ngọn gió thuận lợi nhất đưa họ về Ithaca. Trước khi chia tay, ông còn dặn đi dặn lại rằng chiếc túi ấy tuyệt đối không được mở.
Nhờ món quà thần kỳ ấy, đoàn thuyền tiến rất nhanh trên biển. Ngày qua ngày, khoảng cách với quê hương ngày càng gần. Cuối cùng, sau bao năm lưu lạc, những ngọn núi quen thuộc của Ithaca cũng hiện ra ở phía chân trời. Ngay cả Odysseus, người luôn giữ được sự điềm tĩnh, lúc ấy cũng không giấu nổi niềm xúc động. Chàng đã nhiều ngày đêm không ngủ để điều khiển hải trình, vì vậy khi nhìn thấy quê nhà ở ngay trước mắt, chàng mới lần đầu tiên thả lỏng rồi chìm vào giấc ngủ.
Nào ngờ bi kịch lại xảy ra đúng vào lúc họ gần thành công nhất.
Đám thủy thủ nhìn thấy chiếc túi da mà Aeolus trao cho Odysseus vẫn luôn được cất giữ cẩn thận bên cạnh chủ soái. Họ vốn không biết bí mật bên trong nên bắt đầu sinh lòng nghi ngờ. Có kẻ nói rằng đó chắc chắn là vàng bạc châu báu do vị thần ban tặng. Kẻ khác lại cho rằng Odysseus cố tình giữ riêng phần thưởng cho mình. Lòng đố kỵ và sự ngu dốt hợp lại thành một thứ tai họa còn đáng sợ hơn bão tố.
Trong lúc Odysseus đang ngủ say, họ lén mở chiếc túi.
Chỉ trong khoảnh khắc, toàn bộ những cơn cuồng phong bị giam giữ bên trong lập tức thoát ra ngoài. Biển cả đang yên bình bỗng nổi sóng dữ. Mây đen che kín bầu trời. Những con thuyền vừa nhìn thấy quê hương giờ đây lại bị ném trở lại đại dương như những chiếc lá khô giữa cơn bão.
Khi Odysseus tỉnh dậy, Ithaca đã biến mất khỏi đường chân trời.
Chàng đứng lặng hồi lâu giữa tiếng gió gào thét. Suốt cuộc đời mình, chàng đã nhiều lần chiến thắng quái vật, đánh lừa tiên tri và vượt qua vô số cạm bẫy của thần linh. Thế nhưng vào thời khắc gần quê hương nhất, kẻ đánh bại chàng lại không phải thần thánh hay quái vật, mà chính là sự ngu xuẩn của những người dưới quyền mình.
Odysseus tuy trong lòng tức giận nhưng vẫn cố giữ bình tĩnh, lập tức đưa đoàn thuyền quay lại cầu xin Aeolus cứu giúp lần nữa. Nào ngờ vị chúa tể của gió sau khi biết chuyện chỉ lắc đầu thở dài rồi nói rằng nếu một người đã được thần linh ưu ái đến mức ấy mà vẫn tự tay phá hỏng vận may của mình, thì hẳn phải có một quyền năng lớn hơn đang chống lại hắn. Điều này là đúng, bởi vì cái sự không may này chính là do thần Poseidon đã nguyền rủa mà ra. 
Aeolus tất nhiên có gan to đến mấy cũng chẳng dám làm trái ý một trong 3 vị thần thuộc bộ tam vĩ đại (Zeus, Poseidon và Hades). Nói đoạn liền đuổi cả đoàn đi, không chịu ban thêm bất cứ sự trợ giúp nào nữa. Odysseus hiểu rằng từ giờ trở đi, con đường về nhà chỉ có thể dựa vào bản thân mình.

4, Lạc vào vùng đất của khổng lồ Laestrygonian.

Bị tấn công bởi Laestrygonian
Bị tấn công bởi Laestrygonian
Đoàn thuyền tiếp tục lang bạt trên biển nhiều ngày, cuối cùng tiến vào vùng đất của người Laestrygonian. Ban đầu nơi ấy trông không khác gì một vương quốc bình thường. Các vịnh biển sâu và yên tĩnh, những vách đá dựng đứng bao quanh như bức tường thiên nhiên khổng lồ, khiến nhiều thủy thủ vui mừng vì nghĩ rằng cuối cùng cũng tìm được nơi trú chân an toàn. Chỉ riêng Odysseus là cảm thấy bất an. Chàng không cho tàu mình tiến sâu vào vịnh như những thuyền khác mà neo ở phía ngoài, đồng thời luôn chuẩn bị sẵn sàng để rút lui. Quả nhiên chẳng bao lâu sau, sự thận trọng ấy đã cứu mạng chàng. Người Laestrygonian thực chất là một giống khổng lồ ăn thịt người. Vua của chúng vừa nhìn thấy sứ giả Hy Lạp đã lập tức bắt lấy rồi nuốt sống ngay tại chỗ. Tiếp đó hàng ngàn tên khổng lồ xuất hiện trên các vách núi, nhấc những tảng đá lớn như căn nhà ném xuống vịnh. Thuyền bè vỡ nát, thủy thủ chết la liệt, cả mặt biển nhuộm đỏ máu người.
12 tàu, 600 thuỷ thủ, bị phá nát mất 11 tàu. Chỉ có con tàu của Odysseus, nhờ neo ở ngoài xa, kịp thời cắt dây và thoát khỏi địa ngục ấy. Mười hai chiến thuyền hùng mạnh rời Troy năm nào, đến lúc này chỉ còn lại duy nhất một chiếc.

5, Lạc vào đảo của Circe

Cung điện của Circe
Cung điện của Circe
Lại nói sau tai họa ấy, những người sống sót đi theo Odysseus ngày càng ít đi, nhưng lòng trung thành của họ lại càng thêm bền chặt. Họ tiếp tục lênh đênh trên sóng nước cho đến khi đặt chân lên hòn đảo Aeaea, nơi nữ thần phù thủy Circe ngự trị. Từ xa, họ đã có thể nhìn thấy tòa cung điện nguy nga nằm giữa rừng cây, xung quanh là những con thú dữ nhưng lại ngoan ngoãn như chó nhà. Một nhóm thủy thủ được cử đi thám thính, thế nhưng vừa bước vào cung điện của Circe liền bị nữ thần dùng phép thuật mê hoặc. Bà ta dâng pho mát, bánh mì và rượu ngon cho họ, nhưng trong những món ăn ấy đã được giấu sẵn ma thuật tàn nhẫn. Vừa ăn xong, những chiến binh Hy Lạp lập tức biến thành lợn, tuy vẫn giữ nguyên tâm trí con người nhưng thân xác đã trở thành súc vật.
Khi nghe tin dữ ấy, Odysseus lập tức một mình lên đường cứu người. Chính vào lúc đó, thần Hermes hiện thân trước mặt chàng. Vị sứ giả của các vị thần biết rằng dù Odysseus thông minh đến đâu cũng khó lòng chống lại phép thuật của Circe, vì vậy đã trao cho chàng một loại thảo dược thần bí. Loài cây ấy có rễ màu đen và hoa trắng như tuyết, được mọc lên từ máu của một gã khổng lồ Gigantos xưa kia bị các vị thần đánh bại, ăn nó vào có thể giúp người phàm miễn nhiễm với mọi phép thuật phù thủy.
Nhờ món quà của thần Hermes, Odysseus bước vào cung điện mà không hề e ngại. Quả nhiên Circe cũng dùng đúng thủ đoạn cũ, dâng rượu độc và niệm chú hòng biến chàng thành một con vật. Nào ngờ phép thuật vừa chạm tới thân thể Odysseus liền tan biến như sương khói gặp nắng mai. Circe vô cùng kinh ngạc. Đây là lần đầu tiên trong đời bà gặp một người phàm có thể đứng vững trước quyền năng của mình. Khi Odysseus rút kiếm tiến lên, áp chế nữ thần phù thủy dưới mũi kiếm báu, bà ta không những không tức giận mà ngược lại còn sinh lòng ngưỡng mộ sâu sắc trước sự can trường của vị vua xứ Ithaca.
Thế nhưng, thay vì lập tức đầu hàng, Circe đã nhìn ra điểm yếu của Odysseus chính là lòng thương người. Nữ thần phù thủy liền đưa ra một giao kèo tàn nhẫn: bà ta ép Odysseus phải lên giường ngủ cùng mình, đổi lại, bà ta mới đồng ý giải trừ phép thuật và bảo toàn mạng sống cho các thủy thủ. Để cứu những người đồng đội đang bị giam cầm trong lốt thú và bảo vệ họ khỏi cái chết, Odysseus không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận sự đánh đổi nghiệt ngã này. Chàng hạ vũ khí, đồng ý đáp ứng đòi hỏi của nữ thần để đổi lấy sự tự do cho thuộc hạ. Cuối cùng, Circe giữ lời hứa giải trừ phép thuật cho những thủy thủ bị biến thành lợn rồi hết lòng khoản đãi đoàn người.
Từ đó, Odysseus và đồng đội sống trên hòn đảo của Circe suốt một năm dài. Sau biết bao năm chiến tranh và lưu lạc, đây là khoảng thời gian bình yên hiếm hoi họ được hưởng. Ngày ngày họ ăn những món ngon nhất, uống những vò rượu vang quý nhất, không còn phải đối mặt với quái vật hay bão tố. Đối với nhiều người, cuộc sống đó giống như thiên đường chốn nhân gian.
Thế nhưng Odysseus chưa từng quên quê hương Ithaca. Đêm đêm khi tiệc tàn, chàng vẫn thường đứng một mình nhìn ra biển khơi mịt mù. Chàng biết rằng phía bên kia chân trời còn có một người vợ thủy chung đang chờ đợi và một đứa con trai đang lớn lên từng ngày mà chưa một lần được gặp cha. Cuối cùng, chính các thủy thủ cũng nhận ra rằng họ không thể sống mãi trong sự hưởng lạc ấy, vì vậy đã cùng nhau cầu xin Odysseus tiếp tục hành trình trở về.
Circe thấy ý đã quyết thì không giữ nữa, nhưng trước khi đi lại tiết lộ một bí mật khiến mọi người rùng mình. Muốn tìm được đường về nhà, Odysseus trước hết phải đi tới tận rìa phía tây của thế giới, nơi mặt trời lặn xuống biển mỗi ngày, để gặp linh hồn nhà tiên tri Tiresias trong cõi chết.

6, Hành trình xuống địa ngục

Odysseus dưới địa ngục
Odysseus dưới địa ngục
Thế là đoàn thuyền lại vượt biển. Họ đi xa đến mức không còn nhìn thấy bất kỳ vùng đất nào của người sống. Cuối cùng trước mặt họ hiện ra một bờ biển hoang vu phủ đầy sương mù, nơi ánh sáng dường như cũng trở nên yếu ớt. Tại đó, Odysseus làm theo chỉ dẫn của Circe, đào hố tế lễ rồi dâng máu cho những linh hồn dưới âm phủ. Chẳng bao lâu sau, vô số bóng ma từ cõi chết kéo đến. Giữa đám linh hồn ấy xuất hiện Tiresias, vị tiên tri mù nổi danh nhất thiên hạ. Ông cảnh báo Odysseus rằng con đường phía trước còn đầy hiểm họa, đồng thời nghiêm khắc căn dặn không được động đến đàn gia súc thiêng của thần mặt trời Helios nếu còn muốn sống trở về.
Nhưng điều khiến Odysseus đau lòng hơn cả lại đến sau đó. Trong đám linh hồn, chàng bất ngờ nhìn thấy mẹ mình. Bà không chết bởi chiến tranh hay bệnh tật, mà chết vì quá đau buồn và nhớ thương đứa con biệt tích suốt nhiều năm. Đó là lần đầu tiên Odysseus biết được những gì đang xảy ra tại Ithaca. Chàng biết Penelope vẫn ngày đêm chờ đợi, biết vô số kẻ cầu hôn đang chiếm lấy cung điện của mình, tiêu xài tài sản của mình và âm mưu đoạt ngôi vua. Một vị anh hùng từng đối mặt với quái vật và thần linh lúc ấy cũng không khỏi rơi lệ khi biết gia đình mình đang phải chịu đựng những điều ấy.
Cũng tại đây, Odysseus gặp lại linh hồn của Đại Ajax và nói lời xin lỗi với anh ta. Nhưng linh hồn Ajax không nói gì, chỉ bỏ đi.

7,  Những quái vật trên biển

Lại nói sau khi trở về từ cõi âm u của cõi âm, Odysseus cùng những người đồng đội trung can quay lại hòn đảo Aeaea lần cuối. Tại đây, nữ thần phù thủy Circe đã hiển linh, ban cho vị vua xứ Ithaca những lời chỉ dẫn tối quan trọng về những thử thách tàn khốc đang chực chờ phía trước hành trình vượt biển.
Đầu tiên là vùng biển đầy sương mù của các Siren, những quái điểu mang gương mặt thiếu nữ chuyên dùng giọng ca ma mị để mê hoặc các thủy thủ, khiến họ quên lối về và đâm thuyền vào bãi đá ngầm cho đến khi mục nát. Tiếp sau đó là eo biển tử thần, một khe hẹp kinh hoàng được trấn giữ bởi hai thực thể hủy diệt: một bên là xoáy nước khổng lồ Charybdis, kẻ mỗi ngày ba lần nuốt chửng rồi khạc ra cả một vùng đại dương, có thể nhấn chìm toàn bộ hạm đội vào lòng nước, một bên là vách đá dựng đứng của quái vật Scylla, kẻ sở hữu sáu cái đầu dài ngoằn ngoại như rắn với những hàm răng lởm chởm ba hàng, luôn chực chờ máu thịt của người phàm.
Khi con thuyền độc nhất của Ithaca tiến vào vùng biển lặng gió của các Siren, Odysseus lập tức thực hiện kế sách mà Circe đã truyền dạy. Chàng dùng gươm báu cắt nhỏ các tảng sáp ong, nhào nhuyễn dưới ánh mặt trời thiêu đốt rồi tự tay bịt chặt tai cho từng người thủy thủ, bảo đảm họ hoàn toàn điếc đặc trước mọi âm thanh của trần thế. Thế nhưng, vì khao khát được thấu cảm bí mật của nhân gian, Odysseus đã ra lệnh cho các thuộc hạ phải dùng những sợi dây thừng bện bằng da thú buộc chặt thân mình chàng vào cột buồm trung tâm. Chàng nghiêm lệnh rằng, bất kể chàng có van xin, gào thét hay đe dọa ra sao khi nghe thấy tiếng hát, họ tuyệt đối không được buông lỏng, mà phải siết chặt thêm những nút thắt.
Ngay khi con thuyền lướt qua đảo đá, tiếng hát của các Siren cất lên, trong trẻo, ngọt ngào và mang sức cám dỗ ghê gớm. Chúng hát về vinh quang của thành Troy, về nỗi đau khổ của người anh hùng và hứa hẹn sẽ ban cho chàng tri thức tối cao của thế gian. Thứ âm thanh ma mị ấy xuyên thấu vào tâm can, khiến Odysseus phát điên. Chàng vùng vẫy điên cuồng, đôi mắt đỏ ngầu, liên tục dùng khẩu hình ra lệnh cho thuộc hạ cởi trói để lao mình xuống biển. Nhưng tuân theo lời dặn trước đó, hai chiến binh quả cảm Perimedes và Eurylochus lập tức lao đến, siết chặt thêm những vòng dây vào cột gỗ. Con thuyền cứ thế lướt đi trong câm lặng, vượt qua vùng biển quỷ quyệt cho đến khi tiếng ca chết chóc kia hoàn toàn chìm khuất sau những con sóng.
Nỗi kinh hoàng này chưa kịp qua đi thì một thử thách tột cùng khác lại ập đến khi tiếng gầm rống của bão biển vang lên từ xa. Con thuyền tiến vào khe hẹp nghẹt thở giữa Scylla và Charybdis. Nhìn sang một bên, xoáy nước Charybdis đang điên cuồng cuộn xoáy, để lộ ra lòng vực đen ngòm sâu hoắm nhìn thấu cả đáy biển đầy cát đen và đá nhọn. Để tránh việc con thuyền bị hút vào hố sâu không đáy ấy, Odysseus buộc phải hạ lệnh cho những người chèo thuyền áp sát vào vách đá của quái vật Scylla. Chàng mặc giáp trụ sáng loáng, tay lăm lăm hai ngọn giáo dài, đứng ở mũi thuyền căng mắt nhìn lên những hang đá đen tối trên vách núi hòng tìm kiếm bóng dáng kẻ thù.
Thế nhưng, ngay cả tài trí xuất chúng và sự chuẩn bị của Odysseus cũng không thể cứu được tất cả mọi người trước nanh vuốt của quái vật. Giữa lúc toàn quân đang tập trung cao độ để lèo lái con thuyền tránh xa bờ vực của xoáy nước Charybdis, từ trên vách đá cao, quái vật Scylla bất ngờ hành động với tốc độ xé gió. Sáu cái đầu dài kinh dị của nó thò xuống boong tàu tựa như những chiếc cần câu khổng lồ lao thẳng vào đội hình chiến đấu. Chỉ trong một chớp mắt, nó đã ngoạm chặt lấy sáu chiến binh khỏe mạnh, dũng cảm nhất của đoàn người.

8, Đàn bò của thần mặt trời

Trải qua bao hiểm nguy, đoàn thuyền cuối cùng cập bến đảo Thrinacia. Tại đây chăn thả đàn bò thiêng của thần mặt trời Helios. Odysseus nhớ rõ lời cảnh báo của Tiresias nên nghiêm cấm mọi người động đến chúng. Thế nhưng số phận dường như luôn tìm cách trêu ngươi chàng. Một cơn bão kéo dài nhiều ngày khiến lương thực cạn kiệt. Trong lúc Odysseus đi cầu nguyện, các thủy thủ vì đói khát đã giết bò thần để ăn thịt.
Khi biết chuyện, Odysseus hiểu tai họa đã không thể tránh khỏi.
Quả nhiên Helios nổi giận, lập tức lên Olympus tố cáo họ với Zeus. Vị thần thái dương nói rằng nếu thần vương Zeus không đòi lại công đạo cho mình, thì ông ta sẽ đem mặt trời xuống chiếu sáng dưới âm phủ. Thần Zeus nghe thế đành phải nhượng bộ. Khi đoàn thuyền vừa rời đảo, bầu trời đột nhiên đen kịt. Sấm sét nổ vang như muốn xé đôi thiên địa. Một tia chớp khổng lồ giáng xuống con tàu. Trong nháy mắt, cột buồm gãy đổ, thân tàu vỡ tan, còn những người sống sót lần lượt bị sóng dữ nhấn chìm.

9, 7 năm trên đảo của Calypso

Đến cuối cùng, trong số tất cả những người từng cùng Odysseus rời Troy, chỉ còn duy nhất bản thân chàng sống sót.
Chàng bám vào một mảnh gỗ trôi dạt giữa biển cả nhiều ngày đêm, mặc cho sóng gió đưa đẩy. Cuối cùng định mệnh đưa chàng tới đảo Ogygia, nơi nữ thần Calypso cư ngụ. Vừa nhìn thấy Odysseus, Calypso đã đem lòng say mê người anh hùng từng chịu đựng vô vàn đau khổ mà vẫn không gục ngã. Bà giữ chàng ở lại trên đảo, cho chàng mọi thứ mà người phàm có thể mơ ước, từ cung điện nguy nga, thức ăn bất tận cho đến tình yêu của một nữ thần.
Thế nhưng Odysseus chưa từng xem đó là hạnh phúc. Suốt bảy năm trời, ngày nào chàng cũng ngồi bên bờ biển nhìn về phương đông, nơi quê hương nằm ngoài tầm mắt, và bật khóc. Bởi đối với nhiều người, được yêu bởi một nữ thần là phần thưởng lớn nhất. Nhưng đối với Odysseus, tất cả những điều ấy vẫn không thể sánh bằng một mái nhà nhỏ ở Ithaca, nơi Penelope vẫn đang chờ đợi người chồng lưu lạc trở về. Tối đến, Calypso dùng quyền năng ép chàng phải phục vụ tình dục cho mình. Nhưng khi xong xuôi, Odysseus lại bỏ mặc cho cô ta ngủ một mình. Calypso có được thân thể Odysseus, nhưng không thể có được trái tim chàng. Thậm chí ngay cả khi Calypso hứa hẹn sẽ biến Odysseus thành bất tử, thì cũng không thể đổi lấy được sự phục tùng tự nguyện của chàng.
Lại nói sau bảy năm bị giữ trên đảo Ogygia, cuối cùng nhờ lệnh của Zeus và sự truyền đạt của Hermes, nữ thần Calypso đành phải để Odysseus rời đi. Dẫu trong lòng không nỡ, bà vẫn giúp chàng đóng bè, chuẩn bị lương thực và chỉ dẫn phương hướng. 

10, Được tiếp đón bởi người Phaeacia

Thế nhưng Poseidon, kẻ vẫn chưa nguôi giận vì chuyện con trai mình là Polyphemus bị làm mù, vừa nhìn thấy Odysseus xuất hiện trên biển đã lập tức nổi trận lôi đình. Thần biển khuấy động sóng dữ, gọi bão tố từ bốn phương kéo tới, khiến chiếc bè nhỏ bé bị xé nát giữa đại dương. Odysseus một lần nữa bị ném xuống biển cả, vật lộn với những con sóng cao như núi suốt nhiều ngày đêm. Khi sức cùng lực kiệt, tưởng chừng sắp chết chìm, chàng mới dạt vào bờ biển của người Phaeacia.
Đó là một dân tộc nổi tiếng hiếu khách, được các vị thần đặc biệt yêu mến. Công chúa Nausicaa là người đầu tiên phát hiện Odysseus trong tình trạng kiệt quệ khi nàng cùng các thị nữ ra bờ biển vui chơi. Thân thể chàng lúc này  đầy muối biển, trần truồng vì đã mất hết quần áo, mái tóc bết lại vì gió và nước. Nàng bèn thương tình sai người đem quần áo cho chàng mặc và đón về cung điện. Dưới sự giúp đỡ của công chúa, Odysseus được đưa tới cung điện của vua Alcinous. Nhà vua tiếp đãi vị khách lạ bằng tất cả sự trọng thị mà người Phaeacia dành cho khách phương xa, nhưng khi ấy chưa ai biết thân phận thật của chàng.
Mãi đến trong một buổi yến tiệc, khi người hát rong cất lên khúc ca kể về cuộc chiến thành Troy và những chiến công lừng lẫy của quân Hy Lạp, Odysseus mới không cầm được nước mắt. Vua Alcinous nhìn thấy cảnh ấy liền sinh nghi, bèn hỏi vị khách lạ rốt cuộc là ai. Đến lúc ấy, Odysseus mới kể lại toàn bộ hành trình lưu lạc đầy máu và nước mắt của mình, từ trận chiến với tên khổng lồ một mắt Cyclops, chuyến đi xuống cõi âm, những cơn bão thịnh nộ của thần biển Poseidon cho đến bảy năm bị giam giữ trên hòn đảo của Calypso. Toàn bộ sảnh đường lặng ngắt như tờ. Những người Phaeacia vốn nổi tiếng là những kẻ kiêu hãnh đi biển, nhưng chưa từng nghe thấy cuộc hành trình nào dài đằng đẵng và đầy tai họa đến vậy. Vua Alcinous sau khi nghe xong vô cùng cảm phục vị anh hùng.
Thế nhưng, sau những lời kể đầy oai hùng ấy, công chúa Nausicaa thực ra đã thầm đem lòng yêu Odysseus sâu sắc, bị mê hoặc bởi sự can trường và trí tuệ của chàng, mặc dù xét về độ tuổi thì Odysseus phải cùng lứa với cha nàng. Nàng đã tìm gặp và thiết tha cầu xin vua cha Alcinous hãy tìm mọi cách giữ chàng lại vương quốc để kết duyên cùng nàng, hứa hẹn một cuộc sống vinh hoa và yên bình tại Phaeacia. Thấu hiểu tâm tư của con gái, nhà vua cũng ngỏ ý muốn gả công chúa cho Odysseus. Tuy nhiên, trái tim của Odysseus chưa từng lung lay. Chàng đã thẳng thắn từ chối lời đề nghị ấy, bởi trong tâm trí chàng, không có sự bình yên hay giàu sang nào có thể thay thế được quê hương Ithaca và người vợ Penelope đang mong ngóng. Thấy vị anh hùng kiên quyết không chịu ở lại, vua Alcinous không ép buộc mà càng thêm kính trọng, lập tức hạ lệnh dùng con thuyền nhanh nhất của người Phaeacia để đưa Odysseus trở về quê hương.
Đêm hôm ấy, khi biển lặng như mặt gương, con thuyền Phaeacia lặng lẽ đưa Odysseus đến Ithaca. Bấy giờ người anh hùng đã quá mệt mỏi nên ngủ say từ lúc khởi hành cho đến tận khi cập bến. Những thủy thủ Phaeacia nhẹ nhàng khiêng chàng cùng toàn bộ quà tặng đặt xuống một bến cảng kín đáo rồi lập tức rời đi trước khi bình minh xuất hiện. Khi Odysseus tỉnh lại, nhìn thấy núi non quen thuộc của Ithaca hiện ra trước mắt, chàng gần như không dám tin vào mắt mình. Hai mươi năm xa cách, mười năm chiến tranh và mười năm lưu lạc, cuối cùng quê hương cũng lại hiện diện trước mặt.

11, Trở về quê hương và trả thù

Ở đây cần phải nói qua về những gì đã xảy ra tại quê hương Ithaca trong lúc vị vua của họ, Odysseus đang vắng mặt. Trong suốt hai mươi năm Odysseus lưu lạc, hòn đảo Ithaca đã rơi vào cảnh hỗn loạn chưa từng có. Cho rằng vị vua xứ này đã vùi thây nơi đáy đại dương, hơn một trăm vương tôn quý tộc từ khắp các thành bang đã kéo đến, tự ý chiếm đóng cung điện với danh nghĩa cầu hôn hoàng hậu Penelope. Đám người này đã biến nơi chốn thiêng liêng thành một sào huyệt của sự đồi bại. Ngày ngày, chúng ép buộc người hầu phải giết mổ những đàn gia súc béo tốt nhất trong gia sản của Odysseus để bày tiệc tùng thâu đêm suốt sáng. Chúng ngốn sạch các kho dự trữ, nốc cạn những vò rượu vang quý giá, và biến các sảnh đường thành nơi đập phá, chửi bới, say sưa vô độ. Không dừng lại ở đó, chúng thẳng tay ngược đãi những gia nhân trung thành và lôi kéo các cung nữ vào những trò vui sa đọa.
Đỉnh điểm của sự tàn độc là khi hoàng tử trẻ Telemachus quyết định bí mật lên thuyền rời đảo để dò hỏi tin tức của cha. Cảm thấy vị thế của mình bị đe dọa, đám cầu hôn ngạo mạn đã lập ra một kế hoạch nhuốm máu: chúng bố trí một chiến thuyền cùng những kẻ sát thủ sừng sỏ phục kích sẵn ngoài eo biển, quyết tâm hạ sát Telemachus ngay khi chàng quay trở về để diệt trừ hậu họa, nhằm chia nhau vương quốc và ép Penelope vào đường cùng.
Đối mặt với bầy sói dữ đang vây hãm cung điện, Penelope rơi vào tình cảnh cô độc, không một tấc sắt hay binh lính trong tay để phản kháng. Khi hung tin về âm mưu ám sát con trai lọt đến tai, trái tim người mẹ như thắt lại, nhưng nàng biết mình không được phép gục ngã. Penelope lập tức bước thẳng vào sảnh đường, đứng trước mặt đám thủ lĩnh cầu hôn mà vạch trần âm mưu hèn hạ của chúng, dùng uy danh của thần linh và luật hiếu khách thiêng liêng để ép chúng phải chùn bước trước công luận, đồng thời bí mật cho người báo tin để Telemachus đi đường vòng tránh khỏi cái bẫy chết người ngoài eo biển.
Song song với việc bảo vệ mạng sống cho con, Penelope đã dùng trí tuệ kiệt xuất của mình để nghĩ ra một mưu kế trì hoãn vô cùng tài tình. Nàng tuyên bố trước hội đồng các kẻ cầu hôn rằng, nàng chỉ chấp nhận tái hôn sau khi tự tay dệt xong tấm vải liệm cho cha chồng - vị vua già Laertes, để ông có một tấm áo tử tế khi nhắm mắt xuôi tay. Đám quý tộc thấy lý do hiếu nghĩa ấy hoàn toàn hợp lý nên đã đồng ý chờ đợi.
Thế là suốt mười năm ròng rã, một vở kịch bí mật đã được dựng lên ngay giữa lòng cung điện bị chiếm đóng. Ban ngày, dưới ánh mắt giám sát của đám cầu hôn, Penelope ngồi bên khung cửi, chăm chỉ đưa thoi dệt nên tấm vải lớn với vẻ mặt u sầu, thành kính. Nhưng đến đêm mịt mùng, khi đám người cầu hôn đã say mềm và chìm vào giấc ngủ sau những trận chè chén, Penelope lại lặng lẽ thắp đèn dầu, một mình dùng đôi tay gầy guộc kiên nhẫn tháo rời toàn bộ những sợi vải mà nàng đã dệt được vào ban ngày. Cứ như thế, tấm vải liệm vĩnh viễn không bao giờ hoàn thành, giúp Penelope kéo dài thời gian, bảo vệ sự trong sạch của bản thân và gìn giữ ngai vàng Ithaca cho ngày Odysseus trở về.
Trở về với hành trình của Odysseus, chàng hiểu rằng hai mươi năm là khoảng thời gian đủ để thay đổi mọi thứ. Ai còn trung thành, ai đã phản bội, cung điện hiện giờ ra sao, chàng hoàn toàn không biết. Vì vậy Athena xuất hiện và khuyên chàng tạm thời che giấu thân phận. Nữ thần dùng phép thuật biến vị quốc vương lừng danh thành một lão ăn mày già nua với quần áo rách rưới, mái tóc bạc trắng và thân hình còm cõi. Người từng khiến quân Troy khiếp sợ nay trông chẳng khác nào một kẻ hành khất lang thang đầu đường xó chợ.
Việc đầu tiên Odysseus làm không phải trở về cung điện mà là tìm đến túp lều của Eumaeus, người chăn lợn già từng phục vụ mình từ thuở trẻ. Trong suốt hai mươi năm chủ nhân vắng mặt, Eumaeus vẫn trung thành như cũ, chưa từng ngả theo đám quý tộc đang thao túng triều đình. Tại đây Odysseus gặp lại Telemachus, đứa con trai năm xưa còn nằm trong nôi lúc chàng rời Ithaca. Giờ đây cậu đã trở thành một thanh niên cường tráng. Cuộc đoàn tụ giữa hai cha con diễn ra trong bí mật. 
Odysseus nghe con trai kể hết mọi chuyện chướng tai gai mắt ở quê nhà, nhưng không vội hành động. Một lần nữa, chàng lựa chọn trí tuệ thay vì sự nóng nảy. Trong bộ dạng lão ăn mày, chàng lặng lẽ tiến vào cung điện để quan sát. Không ai nhận ra vị chủ nhân thật sự của nơi này. Không ai ngoại trừ một sinh vật già nua nằm bên cổng.
Đó là Argos.
Con chó săn từng theo Odysseus rong ruổi khắp các cánh rừng ngày nào giờ đã già yếu đến mức không thể đứng dậy. Hai mươi năm chờ đợi khiến bộ lông nó xơ xác, đôi mắt mờ đục và thân thể chỉ còn da bọc xương. Thế nhưng ngay khi nhìn thấy người ăn mày bước qua cổng, Argos lập tức nhận ra chủ nhân của mình. Nó cố vẫy đuôi, cố ngẩng đầu lên lần cuối rồi lặng lẽ nhắm mắt qua đời. Hai mươi năm chờ đợi chỉ để nhìn thấy chủ nhân trở về thêm một lần nữa. Ngay cả Odysseus cũng phải quay mặt đi để giấu những giọt nước mắt.
Trong khi đó Penelope vẫn tiếp tục chống lại đám cầu hôn bằng tất cả sự thông minh và kiên nhẫn của mình. Nhưng bà hiểu rằng tình thế không thể kéo dài mãi. Cuối cùng hoàng hậu tuyên bố một cuộc thi. Bà cho mang ra cây cung của Odysseus, thứ vũ khí nổi tiếng cứng đến mức ngay cả nhiều chiến binh khỏe mạnh cũng không thể mắc nổi dây cung. Penelope nói rằng bất cứ ai có thể mắc được cây cung ấy và bắn một mũi tên xuyên qua mười hai lỗ cán rìu xếp thành hàng sẽ trở thành chồng của bà.
Những kẻ cầu hôn nghe vậy đều vô cùng phấn khích. Chúng lần lượt bước lên thử sức. Kẻ thì đỏ mặt tía tai vì gắng sức, kẻ thì đau nhức cả hai cánh tay, nhưng không ai có thể mắc nổi dây vào cánh cung chứ đừng nói bắn. Thứ vũ khí ấy giống như đang chế nhạo sự bất tài của chúng. Đến khi tất cả đều thất bại, lão ăn mày ngồi ở góc phòng bỗng cất tiếng xin được thử.
Lập tức cả đại sảnh vang lên tiếng cười nhạo.
Một kẻ hành khất mà cũng đòi giương cây cung của Odysseus?
Nhưng Penelope không phản đối. Bà cho phép người hành khất được thử sức.
Trước ánh mắt chế giễu của mọi người, Odysseus cầm lấy cây cung. Động tác của chàng nhẹ nhàng đến mức giống như người nghệ sĩ đang chỉnh dây đàn hơn là chiến binh chuẩn bị chiến đấu. Chỉ trong một nhịp thở, dây cung đã được kéo căng hoàn toàn. Một âm thanh trong trẻo vang lên như tiếng chim én báo hiệu mùa xuân trở lại.
Toàn bộ đại sảnh chết lặng.
Mũi tên rời dây. Nó xuyên qua cả mười hai cán rìu trong một đường thẳng hoàn hảo.
Ngay lúc ấy, Odysseus đứng bật dậy. Lớp vỏ bọc của người ăn mày không còn nữa. Người đang đứng giữa đại sảnh chính là chủ nhân thật sự của Ithaca, chàng đẹp lộng lẫy như một vị thần giáng thế.
Trước khi bất kỳ ai kịp phản ứng, một mũi tên đã ghim thẳng vào cổ họng Antinous, tên ngạo mạn nhất trong đám cầu hôn. Hắn ngã gục xuống bàn tiệc, chén rượu còn chưa kịp rời khỏi tay. Cuộc báo thù kéo dài hai mươi năm chính thức bắt đầu.
Cùng với Telemachus, Odysseus khóa chặt toàn bộ lối ra. Những kẻ cầu hôn hoảng loạn như đàn gia súc bị dồn vào chuồng. Chúng đông hơn rất nhiều, nhưng người đang đối diện chúng chính là vị anh hùng đã sống sót qua Troy, qua Cyclops, qua Scylla và vô số tai họa khác. Cuộc chiến ấy gần như là một cuộc hành quyết. Từng kẻ một ngã xuống dưới những mũi tên và của Odysseus và những mũi giáo của Telemachus. Khung cảnh hoảng loạn, kinh hoàng, máu bắn tung toé, hả hê.
Khi máu đã được rửa sạch khỏi đại sảnh, khi những tiếng la hét cuối cùng đã biến mất, Ithaca cuối cùng cũng trở lại trong tay chủ nhân của nó. Thế nhưng Penelope vẫn chưa hoàn toàn tin vào điều kỳ diệu ấy. Hai mươi năm chờ đợi đã dạy bà phải thận trọng. Vì vậy bà đưa ra một thử thách cuối cùng. Bà ra lệnh cho người hầu di chuyển chiếc giường trong phòng ngủ.
Odysseus nghe thế liền lập tức phản đối. Chàng nói điều đó là không thể. Bởi chính chàng đã tự tay đẽo ra chiếc giường ấy từ gốc một cây ô liu khổng lồ, rồi mới xây cả cung điện xung quanh. Thoạt nhìn bên ngoài nó trông giống một chiếc giường bình thường, nhưng bên dưới là lớp rễ cắm sâu trong lòng đất. Muốn di chuyển nó chỉ có cách đào cả cái gốc cây lên.
Nghe đến đây, Penelope mới bật khóc. Bởi bí mật ấy trên đời chỉ có hai người biết.
Hai mươi năm chia ly cuối cùng kết thúc trong khoảnh khắc ấy.
Ngày hôm sau, Odysseus dẫn Telemachus trở về vùng thôn dã để thăm người cha già Laertes, người mà theo Homer miêu tả, vẫn còn lầm lũi cuốc đất trồng rau phía sau vườn khi con trai và cháu trai đến thăm. Odysseus đứng nhìn dáng vẻ khắc khổ hiu quạnh của cha mình mà không cầm nổi nước mắt.
Thế nhưng việc giết chết đám cầu hôn cũng khiến thân nhân của chúng nổi giận. Người dân Ithaca bắt đầu tụ tập, chuẩn bị báo thù. Một cuộc nội chiến mới tưởng chừng sắp nổ ra thì Athena và Zeus can thiệp. Các vị thần buộc đôi bên hạ vũ khí, chấm dứt vòng xoáy máu và oán hận.
Từ đó về sau, sau hai mươi năm lưu lạc qua biển cả, chiến tranh, quái vật và thần linh, Odysseus cuối cùng cũng được ngồi lại trên ngai vàng của mình, với bên cạnh là người vợ muôn vàn yêu dấu cùng người con trai đã trưởng. Và hành trình của Odysseus kết thúc tại đây.