Những lời thần thánh vang vọng: "MOSCOW sau lưng ta!"
Chúng ta nhớ thời oanh liệt BORODINO!
Мы - армия народа (Chúng ta là quân đội nhân dân)

1. DỪNG LẠI

<i>Mikhail duyệt binh ở Tsarevo-Zamische</i>
Mikhail duyệt binh ở Tsarevo-Zamische
Sau cuộc chiến ác liệt giành Smolensk, quân Nga tiếp tục rút lui về phía Moscow. Ngày 20 tháng 8, kỵ binh Cossack của Platov và một phần lực lượng kỵ binh của Rosen ở ngã tư Solovyova đã chạm trán địch. Quân Nga với sự hỗ trợ của pháo binh đã chặn được đà tiến của kỵ binh Murat và ngăn người Pháp tiếp tục vượt sông, tạo điều kiện thuận lợi cho Tập đoàn quân Tây số 1 của Barclay rút lui an toàn về phía Dorogobuzh. Đến đêm ngày 21 tháng 8, quân đội của Barclay đã ở bên kia sông Uzha gần làng Usvyatye, phía tây Dorogobuzh. Tại đây, Karl Fedorovich Toll và Karl von Clausewitz, chủ nhiệm Tổng cục hậu cần Tập đoàn quân số 1 cho biết đã tìm được vị trí phù hợp có thể giao chiến. Các tướng lĩnh Nga trong đó có Barclay đã cân nhắc điều này, ban đầu ông sẵn sàng giao chiến ở nơi này, tuy nhiên đến tối ngày 22, ông lại bắt đầu phân vân về ý định của mình.
Trong khi đó vào sáng ngày 22, quân Pháp bắt đầu xây dựng cầu ở bến phà Solovyov, Platov lệnh cho 4 trung đoàn bộ binh và 4 trung đoàn kỵ binh với 28 khẩu pháo của Rosen lui về Mikhailovka, chỉ để lại 6 khẩu pháo. Quân Nga tiếp tục ngăn được đà tiến của quân Pháp nhờ hỏa lực pháo binh, tuy vậy đến giữa ngày quân Pháp đã thành công bắt cầu phao qua sông cũng như đẩy lùi lực lượng quân Cossack, buộc họ rút về Mikhailovka. Tại đây, Rosen đã chuẩn bị cho cuộc chiến. Các điểm cao tại Mikhailovka được một khẩu đội pháo gồm 22 khẩu chiếm giữ, các tòa nhà được các lực lượng bộ binh phòng thủ, kỵ binh thì được giữ ở tuyến hai. Đến ngày 16, quân Pháp đến và cố gắng chiếm Mikhailovka nhưng bị đẩy lùi. Trận chiến kéo dài đến tận đêm.
Bagration sau khi nhận được một báo cáo cho thấy quân Pháp đang có ý định đi vòng qua lực lượng Nga, ông đã đề nghị Barclay rút quân qua Dorogobuzh. Barclay đồng ý và yêu cầu Tolya chọn vị trí mới. Ngày 24, họ chiếm Dorogobuzh. Lúc này trên sông Uzhe, quân của Uvarov và Vasilchikov đã chặn đứng kỵ binh của Murat trên sông Uzhe. Tuy nhiên tại Dorogobuzh, Barclay nhận thấy đây không phải là một địa điểm phù hợp cho một cuộc chiến lớn, đồng thời quân Pháp cũng có thể di chuyển vòng qua sườn quân Nga. Vì thế mà ngày 25, cả hai Tập đoàn quân tiếp tục rút lui trong im lặng trong khi hậu quân tiếp tục phải chóng trả các đợt truy kích dữ dội từ phía Pháp. Barclay de Tolly đang tìm một vị trí gần Vyazma, vào ngày 26 tháng 8, quân Nga quyết định tạm thời đóng quân gần Semlevo và Nivka, tại đây Barclay hy vọng quân của Miloradovich sẽ đến chi viện, trong khi ở Slavkov, Platov và quân Cossack hầu như không ngăn chặn được đà tiến công của kẻ thù. Ngày 27 tháng 8 năm 1812 (hay ngày 15 tháng 8 theo lịch cũ), quân đội đã được biết Mikhail Illarionovich Kutuzov đã được bổ nhiệm làm tổng tư lệnh mới của toàn quân. Cuộc rút lui về Vyazma vẫn tiếp tục, được bảo vệ bởi Platov, Kreutz và Sievers. Trên sông Osma gần Vyazma, quân Cossack của Platov một lần nữa giao chiến với kỵ binh địch và giữ chân quân Pháp cho đến tận tối.
Trên đường hành quân đến Vyazma, Toll báo với Barclay rằng không có vị trí thích hợp cho việc giao chiến. Ngày 16 tháng 8 (28), quân đội Nga rút về làng Fedorovsky. Vị trí này đã bị từ chối bởi Bagration, ông cho rằng:
Vị trí này không tốt, tệ hơn nữa là không có nước.
Ngày 29 tháng 8, Tập đoàn quân số 1 và 2 chiếm một vị trí gần Tsarevo-Zamische. Miloradovich đến đây cùng với quân tiếp viện. Tối đó, Mikhail đã đến để tiếp quản quân đội.
Tâm lí chống Barclay lúc này đã dâng cao sau liên tiếp những cuộc rút lui của người Nga, đặc biệt là sau cuộc rút lui khỏi Smolensk. Như Sir Robert Wilson đã nói:
Tinh thần quân đội đã bị ảnh hưởng bởi cái cảm giác đầy tủi nhục và tất cả tướng tá đều lớn tiếng và mạnh dạn thanh phiền; sự bất mãn lan rộng và kỷ luật bị lung lay. Việc cách chức [Barclay de Tolly]… đã trở thành một yêu cầu cấp thiết.
Ngày 17 tháng 8, Bá tước Shuvalov – một trong những cố vấn của Sa hoàng, đã trình một lá thư lên Sa hoàng Alexander với giọng điệu đầy đanh thép:
Quân đội chẳng còn bất kì niềm tin nào vào vị Tư lệnh hiện tại… Một chỉ huy mới là điều cần thiết, một người có đủ thẩm quyền để quản lí toàn quân và Bệ hạ nên bổ nhiệm ngay lập tức; nếu không, nước Nga sẽ mất.
Ngày 17 tháng 8 năm 1812, Sa hoàng Alexander - dù chẳng ưa gì quyết định này, đã triệu Mikhail Kutuzov đến yết kiến ở dinh thự hoàng gia trên đảo Kameny để đích thân đề nghị ông ta tiếp quản vị trí tổng tư lệnh toàn bộ quân đội Nga, và rồi kí sắc lệnh bổ nhiệm vào ngày 20. Gần hai tuần sau, Mikhail đến Tsarevo-Zamische, ở đây Barclay và Bagration đã chuẩn bị xong từ trước. Ban đầu Kutuzov khẳng định với mọi người và báo chí sẽ chiến đấu. Nhiều người thậm chí còn nói những câu đại loại như:"Kutuzov đến để đánh bại quân Pháp!". Khó có thể trách những người lính tội nghiệp đã phải liên tục rút lui này, khi Kutuzov vừa xuống xe ngựa, ông cũng đã có lời nói có phần nâng cao sĩ khí của họ:
Làm sao ta lại có thể mong đợi những người lính nhiệt huyết này rút lui được cơ chứ?
Và khi mọi người đã chuẩn bị cho cuộc chiến, thì trong một diễn biến bất ngờ, Kutuzov – người trước đó còn khẳng định ý chí quyết đánh một trận sống mái với quân Pháp để bảo vệ đất Mẹ Nga, đã ra lệnh rút lui. Vị tổng tư lệnh cho rằng vị trí hiện tại là yếu, ông lệnh quân đội của mình rút khỏi Tsarevo-Zamische vào ngày 31 tháng 8.
Cuộc rút quân bất ngờ khiến nhiều người không tin và thậm chí phẫn nộ. Tuy vậy vào ngày 3 tháng 9, họ dừng lại tại một nơi cách Moscow hơn 70 dặm về phía Tây, bên cạnh dòng sông Kolotscha, dọc theo tuyến đường nối Smolensk đến Moscow tại làng Borodino. Chiến trường mới dường như không phải lí tưởng, nó bị chia cắt bởi những khe núi, chưa kể con sông Kolotscha dù có thành dốc đứng nhưng lại quá nông do hạn hán kéo dài, đến mức có thể tiến hành vượt sông trên hầu khắp khu vực, nhưng với việc chiến trường nằm chắn ngang hai con đường dẫn từ Smolensk đến Moscow khiến nó đặc biệt quan trọng. Sư đoàn 27 của Neverovsky được lệnh tiến quân đến phía Tây và xây dựng công sự gần Shevardino vào ngày 5 tháng 9.
Trong khi đó, cánh phải của Barclay vẫn đang được ông tiếp tục củng cố từ ngày 3 đến ngày 5, từ các vấn đề như xây dựng các tuyến phòng thủ, tiếp tế cho đến sẵn sàng chiến đấu. Cuối ngày 5, gần như Barclay đã hài lòng về vị trí của mình, nhưng khi cưỡi ngựa để xem xét vị trí của Bagration, ông hoảng hốt nhận ra không có ngọn đồi nào ở cánh trái được củng cố, đặc biệt là khu vực trống trải nhìn qua cầu bắc từ Borodino và sông Kolotscha, và may thay Barclay đã báo cáo sai sót nghiêm trọng này cho Kutuzov. Bagration – chỉ huy Tập đoàn quân số 2 và cũng là cánh trái đáng lo ngại theo Barclay, giờ cũng phải đồng tình. Cả hai đã đề nghị Kutuzov điều 4 sư đoàn của Barclay đến củng cố vị trí này, nhưng Bennigsen - Tổng tham mưu trưởng, không đồng tình đối với hiểm họa này. Ông tin rằng quân Pháp thay vì tấn công vào cánh trái quân Nga, họ sẽ di chuyển theo đường mới dẫn từ Smolensk đến Moscow, băng qua Kolotscha và đánh vào cánh quân của Barclay.  
Về phần Napoleon, ông đã ở lại Smolensk gần một tuần. Ông đang chờ đợi thông tin từ các chỉ huy quân đoàn đang bảo vệ sườn tiến quân của mình. Đặc biệt là cánh phải, nơi mà Tormasov và Tập đoàn quân số 3 của mình đã liên tục đụng độ với Reynier, đồng thời có thể kết nối với Tập đoàn quân Danube của Chichagov. Ông hy vọng rằng lực lượng này của Tormasov sẽ được điều về Moscow, từ đó ông sẽ củng có khối quân trung tâm của mình với Quân đoàn VII. Sau khi nhận được tin quân Nga đang không tấn công và các quân đoàn của mình đang giữ vững vị trí, Napoleon đã lệnh cho Quân đoàn IX của tướng Claude Victor-Perrin - vốn là lực lượng dự bị đóng tại Phổ, hành quân đến củng cố Smolensk và cũng như trở thành quân dự bị cho các quân đoàn bên sườn. Thống chế Charles Pierre François Augereau cùng Quân đoàn XI đóng tại Phổ cũng được điều đến áp sát biên giới phía Tây của Nga.
Tối ngày 22 tháng 8 năm 1812, sau kỵ binh của Murat, các quân đoàn của Thống chế Ney, Davout và Junot bắt đầu vượt sông. Ngày 23 tháng 8, quân Pháp tiến hành pháo kích vào các vị trí của hậu quân Nga. Cùng lúc đó, Quân đoàn của Eugene và Quân đoàn kỵ binh III từ Dukhovshchina tiến đến Dorogobuzh. Quân đoàn 5 của Poniatowski và kỵ binh của Latour-Maubourg bắt đầu một cuộc hành quân vòng vèo từ Yelnya. Napoleon cùng khoảng hơn 100.000 quân cùng quân Cận vệ xuất phát từ Smolensk, tuy vậy một số vẫn ở lại để bảo vệ các tuyến đường.
Mikhail Kutuzov
Mikhail Kutuzov
Thông tin về việc thay đổi chỉ huy của người Nga đến tai của Napoleon vào ngày 29, với trực giác của mình Napoleon tin rằng sự thay đổi ở vị trí chỉ huy là tín hiệu cho thấy quân Nga sẽ chuẩn bị cho một cuộc chiến trước thành Moscow. Vì thế mà để tránh mất quyền chủ động, Napoleon cho tập hợp binh sĩ của mình để nhanh chóng tiến về phía Moscow, đồng thời đốc thúc kỵ binh áp sát và gây sức ép liên tục lên hậu quân Nga. Ông cũng không quên tìm hiểu kĩ về kẻ thù mình sắp đối diện. Ông được biết Kutuzov là lão tướng đã có danh tiếng từ rất lâu về trước khi ông có một vết thương bất thường (có thể ám chỉ đến con mắt). Ông cũng là kẻ khéo léo và mưu mẹo khi tận dụng những tình huống. Kể cả thất bại tại Austerlitz – điều mà Kutuzov đã dự đoán từ trước, cũng chỉ làm tăng thêm vị thế của ông trong mắt người dân, chưa kể những chiến thắng trước người Thổ. Nhưng vẫn có người chỉ trích Kutuzov vì hay làm việc dựa vào lợi ích cá nhân, thứ mà ông luôn tính toán. Sự chậm chạp, thù dai lẫn bản chất xảo quyệt của ông là cũng là thứ bản chất của người Tartar, và ông cho thấy mình có thể thực hiện một cuộc chiến tranh không khoan nhượng bằng sự chậm rãi, linh hoạt và kiên nhẫn. Kutuzov còn cho thấy bản thân thông qua vẻ ngoài, ngôn ngữ, trang phục hay niểm tin tôn giáo có phần mê tín gợi nhắc ta về Suvorov, cái nét của dân Moscow lâu đời, khiến người dân vô cùng yêu mến. Khi tin ông trở thành tổng tư lệnh được lan truyền, dân Moscow mang theo sự phấn khích đã ôm hôn nhau trên đường và tin rằng họ đã được cứu rỗi.
Người Pháp đã đến vào chiều ngày 5 tháng 9 với kỵ binh của Murat cùng Sư đoàn 5 Bộ binh thuộc Quân đoàn I của Davout xuất hiện trên đường Smolensk-Moscow. Từ vùng đất cao quanh làng Valuyeva phía bắc bờ sông Kolotscha, quân Pháp có thể nhìn thấy toàn bộ quân đội Nga đang chuẩn bị chiến đấu cách đó khoảng hai dặm về phía đông. Gần hơn, trên đồng bằng về phía nam, họ cũng nhìn thấy hoạt động xung quanh Shevardino, bao gồm cả việc xây dựng pháo đài nhỏ ở đó. Murat nhanh chóng lệnh cho công binh xây cầu vượt sống Kolotscha ở Valuyeva và Fomkina, nhưng kỵ binh và bộ binh của Murat lại dễ dàng vượt sông và bố trí sang bờ bên kia. Khi đến chỗ Murat và quan sát quân Nga bằng ống nhòm, Napoleon nhận định rằng cần phải loại bỏ quân Nga ở Shevardino. Đồng thời Napoleon lẫn Murat cũng nhận thấy cánh trái của Bagration ở giữa sông và làng Semenovskaja rất yếu. Nhưng trước tấn công được cánh trái quân Nga, họ cần phải hạ được Shevardino.
Cũng vào lúc này, Davout – Chỉ huy Quân đoàn I, đã xuất hiện. Các trinh sát đã phát hiện ra toàn bộ cánh trái của quân đội Nga đã lộ ra hoàn toàn trên con đường cũ từ Smolensk đến Moscow và chỉ được bảo vệ bởi số các lực lượng Cossack và những opolchenyie (dân quân). Ông tin rằng mình đã phát hiện cơ hội vàng và đề xuất một kế hoạch đặc biệt táo bạo. Trong đó Napoleon sẽ dùng Quân đoàn IV của Eugene, Quân đoàn III của Ney và Quân đoàn VIII của Junot để giữ chân người Nga ở cánh trái và trung tâm, trong khi Quân đoàn I của ông và Quân đoàn V với quân số gần 40.000 quân của Poniatowski sẽ đánh quét qua cánh rừng trống một cách bất ngờ, đẩy lùi cánh trái quân Nga từ đó bộc hậu lực lượng quân trung tâm địch và tiêu diệt chúng. Chúng là kiểu chiến thuật táo bạo mà đã được Napoleon dùng tại  Arcola , Ulm , Austerlitz, Jena-Auerstadt và Friedland, thứ giúp ông trở nên huy hoàng hơn những người cùng thời. Chiến thuật này cũng đã giúp Frederick Đại Đế - người được ông ngưỡng mộ, giành chiến thắng ở Leuthen, và cũng được Napoleon nghiên cứu nghiêm túc. Nhưng lần này, Napoleon không còn muốn mạo hiểm nữa. Những tổn thất liên tục do bệnh tật, đào ngũ, thời tiết, thiếu lương thực và cũng như những lời đề nghị đàm phán gửi đến Alexander đều không có hồi âm. Ông có lẽ không còn tự tin như trước nữa, hơn nữa bệnh tật cũng đang giày vò Napoleon, nhiều thông tin cho rằng đã có những âm mưu đầu độc ông từ trong cuộc viễn chinh ở Nga. Nhưng dù gì đi nữa, ông đã không còn là chính mình. 
Tuy rằng ông tin kế hoạch của Davout là quá mạo hiểm, ông cũng không đánh thẳng vào làng Borodino như Bennigsen dự tính. Napoleon vẫn sẽ đánh vào cánh trái đầy lỗ hỏng này, nhưng sẽ không rộng khắp như cách của Davout đề xuất. Dù sao thì vào chiều ngày 5, Napoleon cũng đồng ý với Murat và bộ tổng tham mưu của mình rằng phải chiếm được Shevardino và phá hủy cái pháo đài nhỏ bé thảm hại tại đây. Ông nhìn đồng hồ bỏ túi của mình: Năm giờ. Còn hai tiếng rưỡi nữa đến trước hoàng hôn.

2. GAI NHỌN: NGÀY 5 THÁNG 9

Đồn Shevardino đến cuối ngày 5 thực tế chỉ là một pháo đài ngũ giác được đào bởi hấp tấp và sáng hôm đó, chỉ hơn một đám đất vụn được đấp lên một cách vội vàng. Chưa kể các lỗ châu mai được báo cáo có phần bố trí bất hợp lí và quá hẹp đến mức không thể ngắm được chính xác, cũng như phần tường quá thấp và không thể bảo vệ tốt. Việc phòng thủ ở đây được giao cho Sư đoàn bộ binh số 27 của Neverovsky và Trung đoàn Jaeger số 5. Ở tuyến thứ hai là Quân đoàn kỵ binh số 4 của Tướng Sievers. Quyền chỉ huy chung được Tướng Andrei Gorchakov đảm trách, ông sẽ bảo vệ pháo đài dã chiến này với khoảng 12.000 quân (trong đó có 4.000 kỵ binh) cùng 36 khẩu pháo.
Khi hoàng hôn sắp buông xuống, Sư đoàn 5 thuộc Quân đoàn I với khoảng hơn 5000 quân do Jean Dominique Compans dẫn đầu vượt Kolotscha. Hai mươi tiểu đoàn bộ binh được bố trí thành hàng và hai mươi đại đội voltigeur (tạm hiểu là khinh binh) được lệnh tiến lên. Phía Đông Nam Fominko, Compans điều pháo binh của Sư đoàn mình chiếm các gò đất cao từ đó có thể bắn phá hàng ngũ của jaeger Nga (quân bộ binh hạng nhẹ). 5000 kỵ binh của Quân đoàn kỵ binh I của Nansouty cũng bắt đầu tham gia tấn công, buộc quân Nga phải rút lui. Các trung đoàn 49 và 50 Bộ binh hạng nhẹ Nga đã chống cự được một lúc, nhưng rồi dưới sự tấn công phối hợp áp đảo của quân Pháp, các lực lượng này phải rút vào dưới khe núi. Các đơn vị pháo đóng trong pháo đài đã lộ rõ sự khó khăn khi không thể hỗ trợ nhiều do không thể di chuyển tốt trong các lỗ châu mai. Quân của Compans nhanh chóng thay thế vị trí của quân Jaeger bỏ lại quanh Dorodino. Quân kỵ binh Nga sau đó cũng đã tham chiến hòng đẩy lui quân Pháp đang chuẩn bị lỏng lẻo, nhưng rồi họ cũng bị chặn lại bởi hỏa lực từ lính tirailleurs của Pháp và phải rút lui.
Lúc này, các lực lượng pháo binh của Compans và Murat bắt đầu di chuyển đến một sườn đồi nhỏ nằm trong tầm bắn của đồn Shevardino. Ở phía Tây Nam, Quân đoàn Ba Lan của Poniatowski cũng đã tiến đến và cũng tham gia pháo kích pháo đài, các lực lượng bắn tỉa Pháp cũng bắt đầu di chuyển đến các vị trí dễ dàng bắn hạ các đơn vị Nga thò đầu ra khỏi lỗ châu mai. Nhanh chóng tiếng pháo từ pháo đài chấm dứt. Một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn bộ binh 61 tiến vào chiếm giữ pháo đài, nơi mà cảnh tượng bên trong – như lời của Gaspard Gourgaud, một trong những sĩ quan tham mưu của Napoleon, kể lại:
Pháo thủ, ngựa hay bất kì sự sống nào đều đã bị hỏa lực của chúng tôi tiêu diệt.
<i>Người Nga phòng thủ Shevardino</i>
Người Nga phòng thủ Shevardino
Tuy vậy, Neverovsky nhanh chóng mở đợt phản công bằng 4 trung đoàn bộ binh nhắm vào Trung đoàn 61 vừa chỉ mới chiếm được pháo đài. Lực lượng tăng viện của Neverovsky đẩy lui được quân Pháp, đồng thời với sự truy kích của kỵ binh Nga, người Pháp lúc này đã tổn thất nặng buộc phải lùi về rào chắn bao quanh Dorodino. Pháo binh cũng đã được Gortchakov điều đến để hỗ trợ hỏa lực tầm xa cho quân Nga, trong khoảng một giờ hai bên đã đọ súng từ vị trí của mình.
Quân Pháp không từ bỏ, Trung đoàn 57 "le Terrible" bắt đầu tấn công cánh trái của quân Nga. Trong một khoảnh khắc, một tiểu đoàn của Trung đoàn 57 đã tiến lên để khai hỏa một loạt đạn hỏa mai vào quân Nga, sau đó nhanh chóng di chuyển theo hàng dọc về phía bên phải để lộ ra một khẩu đội pháo 4 pound của quân Pháp phía sau, khẩu đội pháo này đã nã một loạt đạn đại bác vào quân Nga đang chen chúc. Bị sốc, quân Nga bắt đầu tháo lui dọc khắp chiến tuyến.
Khi hoàng hôn đang dần buông xuống, Gortchakov quyết phải cố giữ chiến trường cho đến tối khi cuộc chiến có thể sẽ tạm dừng. Do đó, ông tung 6000 quân tinh nhuệ thuộc Sư đoàn Phóng lựu số 2 đang đóng cách đó 1km vào chiến trường. Lực lượng dự bị này nhanh chóng đẩy lui quân Pháp đang mệt mỏi của Compans về lại Dorodino. Trong đợt tấn công, một số pháo và tù binh đã bị quân Nga thu giữ và bắt sống.
Nhưng giờ đây các Sư đoàn của Quân đoàn I đang đến. Sư đoàn của Louis Friant và Charles Antoine Morand đã vượt sông khi mặt trời bắt đầu lặn. Sư đoàn của Friant dẫn đầu bởi Trung đoàn Tây Ban Nha đã đẩy lùi lính ném lựu đạn của Nga, chiếm lại các khẩu pháo bị mất trước đó và cho phép bộ binh của Compans tái bố trí lực lượng. Lúc này người Pháp bắt đầu xuất hiện đông hơn, kỵ binh Pháp dưới quyền quân đoàn của Nansouty bắt đầu xuất hiện và người Nga không còn ưu thế tuyệt đối về kỵ binh như trước, phía Nam các Sư đoàn thuộc Quân đoàn của Poniantowksy cũng bắt đầu tiến sát. Người Nga đang bị áp đảo về quân số và đang bị đẩy lui trên các tuyến phòng thủ.
<i>Kỵ binh nặng Nga tấn công quân Pháp ở Shevardino</i>
Kỵ binh nặng Nga tấn công quân Pháp ở Shevardino
Vào lúc 8 giờ tối, mặt trời thật sự đã lặn, để lại trên chiến trường bóng tối và khói súng, nhưng Bagration - chỉ huy Tập đoàn quân số 2, tin rằng vẫn có thể chiếm lại được pháo đài đổ nát vào lúc này. Vì thế ông tập hợp lại Sư đoàn Phóng lựu số 2 và Sư đoàn Phóng lựu liên hợp số 2 của Vorontsov, đích thân chỉ huy đợt tấn công thứ ba vào pháo đài và chiếm lại được nó. Các Trung đoàn 57, Trung đoàn 61 và Trung đoàn 111 của quân Pháp tham gia phòng thủ đều chịu tổn thất nặng nề. Tuy nhiên Shevardino giờ đã bị phá hủy hoàn toàn và không còn giá trị phòng thủ trước một đợt tấn công mới từ quân Pháp. Khoảng 11 giờ tối hôm đó, các đơn vị của Tập đoàn quân số 2 đã rút khỏi pháo đài, thu hồi pháo và lui về khu vực Semyonovsky. Dọc tuyến đường rút quân, kỵ binh giáp nặng Nga cùng Trung đoàn bộ binh Odessa đã ngăn không cho quân Pháp nhanh chóng truy kích các lực lượng rút lui. Có nguồn ghi chép rằng khi kỵ binh Pháp tham gia truy kích trong đêm, tiểu đoàn duy nhất của trung đoàn Odessa đã đánh trống và hét vang “Ura!”, tạo ra âm thanh như thể có cả một sư đoàn mới đang xung phong, buộc kỵ binh Pháp phải ngưng truy đuổi.
Quân Pháp đã tung vào đầy khoảng từ 30.000 đến 40.000 quân cùng hơn 180 khẩu pháo, trong khi quân Nga đã tập trung tại đây gần hoặc hơn 20.000 người cùng một số pháo các loại. Cả hai bên đều mất khoảng hơn 5.000 quân. Như Neverovsky nhớ lại:
Họ đã chiếm các đơn vị pháo của tôi nhiều lần, nhưng tôi đã giành lại. Trận đánh đã kéo dài suốt 6 tiếng đồng hồ trước toàn quân... Trong trận đánh, tôi đã mất gần như toàn bộ những lữ đoàn trưởng, tham mưu trưởng lẫn sĩ quan cấp cao của mình [...]
Ngày hôm sau, khi duyệt Trung đoàn bộ binh 61 – lực lượng đã đánh chiếm pháo đài trong đợt tấn công đầu tiên và chịu thương vong nặng nề nhất, Napoleon đã hỏi viên chỉ huy trung đoàn rằng một trong hai tiểu đoàn của ông đã đi đâu. Ông đã trả lời: "Thưa Bệ hạ, họ đang nằm bên trong pháo đài."
Tối ngày hôm đó đã xuất hiện một cơn mưa lạnh đổ xuống, hẳn không phải là đêm dễ chịu đối với binh lính. Sĩ quan và binh sĩ đang bận rộn chuẩn bị vũ khí, vá lại quân phục, chống lại cái lạnh lẫn cái đói, như cách mà Philippe Paul, comte de Ségur mô tả:
Cuộc sống của họ là một cuộc đấu tranh liên tục.
Napoleon và các Thống chế đã lo rằng quân Nga, với tổn thất vào buổi sáng, sẽ lại tiếp tục rút lui. Murat đã cảnh báo về khả năng đó với mọi người, trong đó có cả Philippe Paul. Cũng theo Philippe Paul, nhiều lần ông cũng đã nghĩ quân Nga sẽ rút lui:
Murat đã cảnh báo khả năng [sự rút lui của người Nga] ấy với chúng tôi; và nhiều lần chúng tôi cảm thấy như ánh lửa trại của họ đang yếu dần, và tưởng như chúng tôi có thể nghe thấy tiếng của họ đang rời đi. Nhưng chính ánh sáng ban mai đã dặp tắt ánh lửa trại của họ.

3. TRỪNG MẮT NHÌN NHAU: NGÀY 6 THÁNG 9

Mặt trời ngày 6 tháng 8 đã lên cao và bắt đầu soi sáng cho cả hai đạo quân, cả hai đều không thay đổi vị trí mà vẫn giữ những nơi đã chiếm được từ hoàng hôn. Những người lính Pháp – nhiều người, đã bắt đầu ăn mừng, có vẻ vì cuộc chiến trì trệ, rối loạn, bệnh tật này sắp chấm dứt tại một điểm, một nơi kết thúc tất cả.
<i>Napoleon viết kế hoạch tác chiến cho trận Borodino</i>
Napoleon viết kế hoạch tác chiến cho trận Borodino
Hoàng đế đã thị sát chiến trường vào sáng hôm đó, Napoleon sau khi trinh sát đã cảm thấy hài lòng. Theo như Chiến dịch nước Nga của Napoleon (Napoleon’s Russian Campaign), kế hoạch cho ngày 7 đã được lên chi tiết. Theo đó, ba khẩu đội pháo với 60 khẩu pháo mỗi đội sẽ được bố trí trong đêm đối diện các đồn lũy Nga: hai đơn vị bố trí ở cánh trái quân Nga, một còn lại sẽ bố trí ở giữa. Quân của Poniatowski, giờ giảm xuống còn 5.000 quân, sẽ tiến quân trên con đường Somlensk – Moscow cũ và băng vòng qua rừng cây được cả quân Pháp lẫn Nga chiếm giữ, lực lượng này sẽ bảo vệ cánh phải quân Pháp và cản trở sườn trái quân Nga. Khi nghe được loạt đạn đầu tiên, pháo binh sẽ lập tức khai hỏa vào sườn trái quân Nga, sau đó Davout và Ney sẽ xong vào hàng ngũ đã bị xé toạc của người Nga với Junot và kỵ binh Murat hỗ trợ, sau đó là 20.000 quân Cận vệ của Napoleon, từ đây xuyên thủng phòng tuyến, bao vậy trung quân và cánh phải còn lại của Kutuzov. Tuy nhiên với lượng lớn quân Nga tập trung ở cánh trái quân và trung tâm quân Pháp, khiến tuyến đường Moscow dùng để triển khai quân và rút lui của Đại quân bị đe dọa. Do đó Napoleon chọn cách củng cố thêm một phần lực lượng Ý tại đây bằng hai sư đoàn bộ binh của Davout và kỵ binh của Grouchy và tin rằng với 10.000 quân bao gồm Sư đoàn Ý, kỵ binh Bavaria và các tiểu đoàn Ornano là đủ để bảo vệ sườn trái của mình.
Tuy Napoleon phần nào đã tin rằng người Nga sẽ chiến đấu, nhưng ông nhận ra rằng cả hai đạo quân đều đang có quân số dường như đồng đều vào khoảng hơn 120.000 quân và 600 khẩu pháo mỗi bên. Ông đã yêu cầu một bản báo cáo quân số từ các Quân đoàn của mình, cũng như lực lượng thực tế của từng đơn vị trong đó. Khác với những lần kiểm tra quân số khác, phần lớn là để trao thưởng hay khen công, thì lần này con số có vẻ đáng tin cậy và ít bị thổi phồng hơn bởi đây là thước đo cho cuộc chiến sắp đến. Tuy nhiên con số nhận về vẫn là con số lớn, và phần lớn trong con số ấy đều vẫn còn khỏe mạnh và nhanh nhẹn. Cũng vào ngày hôm đó, Napoleon đã nhận thấy một hoạt động khác thường từ phía trại địch.
Ngày hôm đó ở trại quân Nga, Alexander Mikaberidze – người đã viết cuốn sách Trận Borodino: Napoleon chống lại Kutuzov (The Battle of Borodino: Napoleon Against Kutuzov), kể lại như sau:
Đêm trước trận đánh là Chủ nhật, nhiều người đã bàn tán về sự im lặng khác thường đang bao trùm doanh trại hôm đó. Để nâng cao tinh thần binh lính, Kutuzov đã cho rước biểu tượng của Đức Mẹ đồng trinh Smolensk đi khắp quân đội”
<i>Kính rước Đức Mẹ Smolensk trước trận Borodino</i>
Kính rước Đức Mẹ Smolensk trước trận Borodino
Đó là một nghi lễ tôn giáo trọng thể giữa lòng một đội quân hơn 100.000 người. Kutuzov đã được thấy đi cùng với những giáo sĩ Chính thống giáo – những người đã được ông cho mặc những phẩm phục lộng lẫy nhất từ di sản của Hi Lạp cổ. Giáo sĩ đi trước ông, mang theo cờ phướng và đặc biệt là biểu tượng của Đức mẹ Smolensk, mà họ nói đã được cứu thoát một cách nhiệm mầu khỏi sự báng bổ của bọn Pháp phạm thánh. Trước cảnh tượng hùng tráng, Kutuzov đã kêu gọi những nông nô, những người lính của mình hãy đứng dậy, nhân danh tôn giáo và bình đẳng, hãy bảo vệ tài sản của chủ nô, khơi dậy lòng quả cảm và sự phẫn uất của họ, ông cũng đồng thời chỉ trích Napoleon là “một tên bạo chúa, một kẻ chuyên chế khuấy đảo hòa bình thế giới, một con sâu bọ, một kẻ đại phản nghịch đã lật đổ bàn thờ của họ và làm ô uế chúng bằng máu; kẻ đã phơi bày Hòm Chứng Ngôn của Chúa - biểu thị bằng thánh tượng Smolensk - cho người đời báng bổ và cho mưa nắng tàn phá.”. Ông cũng không quên nhắc về những thành phố bị tàn phá, nhắc cho họ nhớ về vợ con, dành ra đôi lời ca ngại cho Sa hoàng, và kết lại bằng lời kêu gọi đức tin và lòng yêu nước. Từ đó ông đã biến sức mạnh của tôn giáo, vốn là trí tuệ và đạo đức, thành một dạng hữu hình và vật chất, bằng với súng và đạn cho sáng hôm sau.
Cũng theo Alexander Mikaberidze, một con đại bàng đã xuất hiện trên chiến trường hôm đó, người Nga và tướng Kutuzov đều xem đây là điềm lành trước trận chiến. Về tình hình chung của binh lính Nga, theo Antony Brett-James trong cuốn sách 1812: Eyewitness Accounts of Napoleon’s Defeat in Russia đã thuật lại lời của một đại úy Nga với những người lính cận vệ của Trung đoàn Fanagoria:
Những người lính ở trong tình trạng khá tốt, và vì họ đã được nghỉ ngơi trong vài ngày qua, nên giờ họ ngồi, quấn mình trong những chiếc áo khoác dài màu xám, quanh đống lửa - và thường cùng nhau hát vang những bài hát quốc ca mà người dân Nga yêu thích. Tiếng hát này trước trận chiến có một tác động kỳ lạ đối với tôi, và tôi đã nghe nó trong vài giờ cho đến khi cuối cùng tôi ngủ thiếp đi vì kiệt sức… Ngày 7 tháng 9 vừa rạng sáng khi tôi bị đánh thức bởi tiếng gầm rú của đại bác từ sườn phải của chúng tôi gần làng Borodino, và trận chiến bắt đầu.
Trong khoảng thời gian này, công tác củng cố chiến trường cũng đang được người Nga thực hiện gấp rút. Biết rằng cánh trái là điểm yếu có thể nhận thấy rõ ràng, những đồn lũy, pháo đài mà sau này sẽ trở nên nổi tiếng – Đại đồn (The Great Redoubt) và những công sự chữ V của Bagration, đang được gấp rút xây dựng và củng cố.
Người Pháp thì khác, họ không duyệt binh, không có màn rước lễ nào trong quân đội và cũng chẳng cầu khấn sức mạnh thánh thần công khai nào. Nhưng sự tẻ nhạt thay đổi khi chân dung của Vua La Mã – con trai Napoleon, đã được đưa đến doanh trại. Bức chân dung mới được François Gérard vẽ, khắc họa Napoleon II, còn được gọi là Vua La Mã, đang nằm nôi chơi trò cup-and-ball với quả bóng tượng trưng bởi địa cầu và vương trượng của Hoàng đế. "Vua La Mã! " - ông nói trong khi chỉ vào bức tranh một cách đầy thanh nhã, "Thật đáng ngưỡng mộ". Ông cho đặt bức tranh trước lều trên một cái ghế, cho gọi các tướng, kể cả những lính Cận vệ già, có vẻ là để chia sẻ phần nào cảm xúc của gia đình mình với các lão binh, và phần nào đó – hy vọng trước con giông tố sắp đến.
<i>Napoleon cho mở hộp đựng chân dung con trai mình</i>
Napoleon cho mở hộp đựng chân dung con trai mình
Philippe-Paul de Ségur viết lại khung cảnh ấy như sau:
Tình cờ đúng ngày hôm ấy, Hoàng đế nhận được từ Paris một bức chân dung Vua La Mã — đứa trẻ mà cả Đế chế chào đón với niềm hân hoan chẳng kém gì chính Hoàng đế. Kể từ ngày con trai chào đời, ngày nào người ta cũng thấy bức chân dung ấy bên cạnh Napoleon trong cung điện, biểu lộ những tình cảm dịu dàng nhất; và nay, nơi cánh đồng xa xôi này, giữa những chuẩn bị đe dọa như thế, khi ông lại nhìn gương mặt hiền từ ấy, trái tim người lính của ông bỗng mềm lại một cách lạ lùng. Ông đặt bức tranh trước lều và gọi các tướng, thậm chí cả binh sĩ Cận vệ già, mong được sẻ chia cảm xúc với những lão binh ấy, cho gia đình riêng của mình gặp gỡ gia đình quân ngũ, và trưng bày biểu tượng hy vọng này ngay giữa cơn nguy biến.
Tối đó, một số vấn đề ở Tây Ban Nha đã được phụ tá của Marmont đã đến Borodino – Tướng Fabvier, trình bày với Hoàng đế. Đến đêm, cái nỗi sợ cũ lại ập đến Napoleon, chúng quấy rầy giấc ngủ của Hoàng đế. Ông lo rằng người Nga có thể lại rút đi trong đêm. Ông cứ đi qua lại, hỏi xem giờ, liệu có ai nghe tiếng động lạ không và mỗi lần lại sai người đi xem liệu địch còn ở đó chăng. Napoleon hoài nghi đến độ tuyên cáo được phát đi cũng phải kèm theo chỉ thị rằng không được đọc cho tới sáng, và chỉ được đọc nếu nếu có giao chiến.
Những bản tuyên cáo này có thể đã được giao và nhận vào tối đó, theo Henri Carle, một cậu lính 14 tuổi, tham gia tháp tùng Đại Quân với anh trai thuộc Trung đoàn 18 Quân đoàn III của Ney. Trong cuốn sách Russian Snows: Coming of Age in Napoleon’s Army ( tạm dịch: “Tuyết Nga: Tuổi đầu nơi Trại lính”), vào đêm trước trận đánh lớn, Henri - người đã từng chạy việc vặt cho Ney ở Smolensk, tình nguyện đi đổ đầy mấy cái bình nước...
Sau khi tôi đã đổ đầy các bình nước và bắt đầu quay trở lại, tôi gặp một nhóm sĩ quan, trong đó có Thống chế Ney, người gọi tôi lại.
“Napoleon sắp ban hành một bản tuyên cáo để đọc cho binh lính, cậu hãy chạy đến tổng hành dinh và mang nó về cho ta,” Ney nói, tay chỉ về một vị trí phía sau tuyến quân.
Dù đang bị đè nặng bởi mấy cái bình nước đầy, tôi vẫn chạy nhanh hết sức có thể. Việc này quan trọng. Tôi được sai đi lấy một thông điệp từ Napoleon. Tôi tìm thấy một chiếc lều lớn, xung quanh là các sĩ quan và binh lính. Cảnh tượng đông đúc ấy cùng với ý nghĩ rằng mình đang ở gần Napoleon khiến tôi khựng lại. Tôi quyết định rằng: nếu anh hành động như thể mình biết mình đang làm gì, thì người khác sẽ tin và nghe theo.
Tôi chỉnh lại những chiếc bình nước rồi bước đi dứt khoát về phía lều. Tôi tìm một nhân viên ghi chép nào đó trong lúc len qua đám đông. Bên cạnh lều, dưới ánh sáng của hai chiếc đèn lồng, có một sĩ quan đang ngồi viết trên một bàn dã chiến.
“Tôi đến để lấy bản tuyên cáo cho quân đoàn của Ney,” tôi nói, giọng hơi lớn hơn cần thiết.
Bên trái tôi, có ai đó nói: “Thằng này trông có vẻ hơi khát đấy,” và những người lính quanh hắn cười ầm lên khi nhìn thấy tất cả những cái bình nước tôi mang. Tôi quay lại nhìn và thấy một người đàn ông thấp, mặc áo choàng xám, với mái tóc đen, thẳng rũ xuống trán. Đó chính là Napoleon. Tôi đã từng thấy tranh vẽ ông, nhưng giờ đây, ông đang đứng ngay trước mắt tôi. Ông đứng cạnh một chiếc ghế, trên đó đặt một bức tranh lớn đóng khung vẽ một đứa trẻ nhỏ. Các binh sĩ Cận Vệ già – những quân lính tinh nhuệ nhất của Napoleon – đang vây quanh ngắm nghía bức tranh.
“Lại đây,” Hoàng đế nói, chìa tay về phía tôi, “Ta muốn cậu xem cái này. Đây là con trai ta, Vua xứ La Mã.”
Những người lính nhường chỗ cho tôi, và tôi bước đến đứng trước bức tranh. “Nó vừa mới được gửi tới hôm nay, trực tiếp từ Paris.”
Ông đặt một tay lên vai tôi và tay kia chỉ vào bức tranh. “Cậu thấy thế nào?”
Tôi thậm chí còn không biết Napoleon có con trai. “Cháu chắc là bức tranh giống hệt cậu bé ngoài đời,” tôi nói.
“À, một nhà ngoại giao đấy chứ,” Napoleon cười lớn. “Một ngày nào đó, nó sẽ vào quân ngũ, giống như cậu, nhưng giờ thì nó còn quá nhỏ để chứng kiến trận đánh đầu tiên của mình.” Rồi quay sang một phụ tá, ông nói: “Đem nó vào lều của ta, để thằng bé không phải chứng kiến.”
Sau đó ông bỏ tay khỏi vai tôi và vội vã bước vào trong lều. Viên sĩ quan ngồi sau bàn kêu lên: “Tôi có bản tuyên cáo cho Quân đoàn III đây."
Tôi tiến đến nhận, và viên sĩ quan nói: “Hoàng đế hơi mệt một chút, đôi khi phải ra ngoài đi vệ sinh,” như một cách giải thích cho việc cuộc gặp gỡ của tôi với Hoàng đế kết thúc quá nhanh.
Khi nỗi sợ này qua đi thì nỗi sợ khác lại đến. Napoleon đã thấy quá đủ cảnh binh lính của mình mang đầy bệnh tật, thiếu thốn, đói khát đến cỡ nào, làm sao họ trụ nổi qua cuộc chiến dữ dội sáng mai? Ông giờ đặt mọi niềm tin vào đội Cận vệ già ưu tú của mình, có vẻ như theo ông đây là câu trả lời cho sự bế tắc kéo dài của hai đạo quân. Ông hay cho thống chế Bessières đi hỏi xem liệu nhu cầu của lính Cận vệ đã được đáp ứng đầy đủ hay chưa. Như cách mà Philippe-Paul de Ségur viết:
Nhiều lần ông gọi Bessières — vị thống chế mà ông tin cậy nhất trong việc chỉ huy đạo quân tinh tuyển — để hỏi xem nhu cầu của cận vệ đã được lo đủ chưa. Ông lấy khẩu phần ba ngày bánh bích quy và gạo từ chính kho dự trữ của họ phát cho những người này. Rồi, sợ rằng lệnh có thể không được chấp hành, ông đích thân bước ra hỏi bọn lính cận vệ (grenadiers) gác trước lều xem họ đã nhận khẩu phần chưa. Hài lòng với câu trả lời, ông quay về chợp mắt, nhưng chỉ ít phút sau lại bật dậy gọi người.
Ông liên tục bị hành hạ bởi mọi thứ, từ những chuyến hành quân dài dặng dặc, từng nỗi lo, hy vọng rồi chờ đợi. Ông đã bị cảm nặng: sốt cao, ho khan và khát bỏng bởi sự hạ nhiệt độ đột ngột, ông đã cố giải quyết cơn khát bỏng này cả đêm. Trong một hai ngày ông đã bị cơn đau dữ dội của căn bệnh hành hạ đã lâu - chứng tiểu khó (drysuresis).
Trong cái đêm trước trận đánh, nếu chỉ xét lời Philippe-Paul de Ségur, thì có vẻ như chỉ những người lính tinh tú Cận vệ mới được chăm lo kĩ lưỡng. Vào thế kỷ 18, Thống chế de Saxe đã viết rằng các tướng lĩnh nên "cho binh lính ăn trước khi dẫn họ ra trận ", nhưng quân đội của Napoleon lại bị hành hạ bởi tình trạng thiếu lương thực -Trung úy Vossler nhận xét rằng bữa tối trước trận chiến của ông chỉ gồm "một bát súp bánh mì thảm hại, được chan thêm chút mỡ từ gốc của một ngọn nến mỡ cừu " như lời ông thuật lại:
…một đĩa súp bánh mì nấu cùng gốc nến mỡ. Nhưng trong tình cảnh đói khát, ngay cả món kinh tởm này cũng trở nên ngon miệng. Tôi nằm xuống và ngủ yên lành, như thể ngày mai sẽ chẳng khác hôm nay, giống nhau như hai quả trứng.
Nhiều người lính Pháp tối đó nhìn nhận cuộc chiến với sự lo lắng lẫn sự lạc quan đáng hoan nghênh, hầu như họ đều tin vào chiến thắng. Như cách Heinrich von Roos, bác sĩ phẫu thuật người Đức nhận xét:
Chúng tôi đã nhìn thấy vị trí của quân Nga, và nó rất kiên cố; chúng tôi thấy công sự của họ, và phía sau là những khối quân đông đảo, vũ khí của họ sáng lấp lánh dưới ánh mặt trời. Chúng tôi biết họ có pháo binh rất nhiều và chắc chắn đã dốc hết sức để tập trung càng nhiều quân càng tốt cho trận đối đầu này. Trận đánh hẳn sẽ rất khốc liệt, cho cả hai phe. Chúng tôi tin chắc rằng quân đội mình đông hơn và quen thuộc với nghệ thuật chiến tranh hơn. Nhưng chúng tôi cũng biết rằng quân Nga rất kiên định, và họ chiến đấu ngoan cường ngay cả khi hứng chịu đạn chùm (canister).
Một số người lính tìm cách phân tâm bằng những công việc thường nhật để quên đi cuộc đụng độ sắp tới. Trung sĩ Adrien Bourgogne thuộc Cận vệ Đế chế ghi lại:
Ngày mồng 6 chúng tôi đã chuẩn bị cho trận đánh lớn vào hôm sau; vài người lau chùi súng và vũ khí, vài người khác làm băng cứu thương cho thương binh, có người viết di chúc, và những người khác thì ca hát hay ngủ với vẻ dửng dưng hoàn toàn. Toàn bộ Cận vệ Đế chế đều nhận lệnh phải xuất hiện trong quân phục chỉnh tề.
Một số chọn cách giải khuây và học thêm cái gì đó mới mẻ, như Đại úy Girod de l’Ain thì học chơi cờ vua vào đêm trước trận đánh:
Sau một quãng đi bộ khá dài để trinh sát vị trí của hai bên, tôi quay lại trại bivouac và dành thời gian cho bài học đầu tiên về cách chơi cờ vua từ thiếu tá Fanfette [một sĩ quan tùy tùng của tướng Dessaix], người say mê trò chơi này và luôn mang theo mình một bộ cờ nhỏ bằng bìa các-tông gấp làm tám mảnh, do chính ông chế tạo rất khéo léo. Tôi buộc phải lên ngựa trước khi ván cờ kết thúc, bỏ lại Fanfette với bàn cờ. Nhưng khi tôi trở về, ông cho tôi xem bản ghi lại nước cờ đến chỗ chúng tôi đã chơi, và ba bốn tháng sau, chúng tôi mới hoàn tất ván ấy ở Berlin.
Đại úy người Westphalia tên von Linsingen viết rằng ông không thể: "…tránh khỏi cảm giác có một điều gì đó to lớn, hủy diệt, treo lơ lửng trên tất cả chúng tôi. Tâm trạng đó khiến tôi nhìn về binh sĩ của mình. Họ nằm ngủ xung quanh tôi trên mảnh đất lạnh và cứng. Tôi biết họ rất rõ, và tôi cũng biết rằng nhiều người trong số những chiến binh dũng cảm này sẽ không sống sót đến tối mai, mà sẽ nằm lại, nát vụn và đẫm máu trên chiến trường. Có lúc, thật quá dễ để mong người Nga lại rút lui trong đêm. Nhưng rồi tôi nhớ lại những khổ sở chúng tôi đã trải qua suốt nhiều tuần qua. Thà một kết thúc kinh hoàng còn hơn một nỗi kinh hoàng không bao giờ kết thúc! Sự cứu rỗi duy nhất của chúng tôi nằm ở trận đánh này - chúng tôi phải giành chiến thắng! "
Về phía người Nga, vấn đề về lương thực có lẽ đã được tiếp tế một cách đầy đủ hơn, với tinh thần binh lính đang cao nhất từ trước tới giờ trong chiến dịch. Tướng St. Priest nhận xét rằng: "Quân đội của chúng ta đang ở trong tinh thần tốt, và tạ ơn Chúa, trong tình trạng cũng tốt." Woldemar Löwenstern, sĩ quan tùy tùng của Barclay, cũng đồng ý: "Tinh thần quân đội thật tuyệt vời," ông viết. "Lính tráng, sĩ quan và cả các tướng lĩnh đều cháy bỏng khát vọng chiến đấu hoặc hy sinh."
Hầu như trong tối hôm ấy, hai đạo quân không có sự chạm trán trực tiếp hay cụ thể nào, nhưng rõ ràng sự gần kề của kẻ thù đã quá hấp dẫn đối với tính tò mò của một số binh sĩ. Ilya Rodojitsky, một sĩ quan pháo binh thuộc Sư đoàn 11 Nga, hồi tưởng lại một cuộc chạm trán vào tối ngày 6:
Chúng tôi lội qua một con suối và đi ngang qua tàn tích của một ngôi làng bị thiêu rụi. Cách chúng tôi chừng năm trăm mét, chúng tôi thấy một hàng long kỵ Pháp, phía sau họ là một số kỵ binh đã xuống ngựa. Chúng tôi tiến lại gần hơn, gần như trong tầm bắn, và thậm chí có thể nhận ra khuôn mặt của những tên lính long kỵ . Chúng đội những chiếc mũ khổng lồ và mặc áo choàng làm bằng loại vải màu sáng. Chúng giống như những pho tượng trên lưng ngựa. Sau khi đã thỏa mãn cơn tò mò khi được nhìn thấy kẻ thù, chúng tôi vội vàng trở lại bên khẩu pháo của mình, may mắn thay, mà không phải trả giá cho sự táo tợn ấy.
Đêm đến và cả hai đạo quân đều đi ngủ. “Một ngày vĩ đại đang hình thành! Đây sẽ là một trận chiến thảm khốc ”. Napoleon hỏi Rapp có trông mong chiến thắng không, Rapp đáp lại: “Không chút nghi ngờ, nhưng sẽ rất đẫm máu.” Napoleon nói tiếp:
Ta biết; nhưng ta có tám mươi nghìn quân. Ta sẽ tiến đến Moscow với sáu mươi nghìn người. Những kẻ tụt lại phía sau sẽ nhập lại với ta ở đó, rồi các tiểu đoàn chắp vá nữa, và chúng ta sẽ còn mạnh hơn trước khi giao chiến.
Trận địa của người Nga ở Borodino sẽ trải dài trên một chiến tuyến cắt qua hai con đường mới và cũ từ Smolensk đến Moscow. Bên phải làng Borodino là lực lượng của Tập đoàn quân số Một của tướng Barclay de Tolly, đóng quân trên một vị trí mà trước mặt ông là con sông tên Kolotscha. Barclay cũng sẽ chỉ huy lực lượng Nga đóng ở trung tâm. Bên trái làng Borodino là một cao nguyên đã được người Nga củng cố và xây dựng một Đại Pháo đài hay Đồn Raevsky (The Great Redoubt). Bên trái cao nguyên là làng Semenovskaja đã bị phá hủy một phần. Xa hơn nữa là các đơn vị của Tập đoàn quân số Hai dưới quyền của Bagration, trống trải hơn nhưng được gia cố bởi nhiều công sự phòng thủ bằng đất hình chữ V có mũi nhọn hướng về phía quân địch và mở ở phía sau, cho nên người Pháp đặt tên cho kiểu công sự này là Flèches (nghĩa là mũi tên), đây cũng là nơi đặc biệt dễ bị tấn công hơn. Rìa trái của Kutuzov được che phủ bởi những cánh rừng bạch dương và cây thông rộng lớn. Trong đó làng Utitza, trên con đường cũ từ Smolensk đến Moscow, nằm trong khoảng đất trống giữa cây cối xung quanh và cũng là giới hạn cho cánh trái của quân Nga. Kutuzov và các sĩ quan tham mưu sẽ đóng ở một vị trí cách Borodino một dặm và gần làng Gorki, nơi sẽ cho ông vị trí tốt để quan sát toàn cục chiến trường.
Các nhà sử học vẫn còn tranh cãi về con số chính xác quân Nga thực tế hiện diện trên chiến trường, với con số thường rơi vào khoảng 120.000 quân đến 150.000 quân. Nhưng dường như Kutuzov đã dồn gần 120.000 quân vào khu vực này, với Barclay – theo Báo cáo về thành phần của Tập đoàn quân phương Tây số 1 vào ngày 6 tháng 9, ông có khoảng 75.000 lính (không kể quân Cossack và dân quân) trong đó có 67.000 binh sĩ và gần 8.000 sĩ quan; Đối với Tập đoàn quân số 2, ước tính Bagration có khoảng gần 40.000 quân. Hơn nữa, 19.000 quân trong số 120.000 quân đó là quân Cossack và dân quân được thành lập một cách vội vàng, dù số này cũng được sáp nhập vào các đơn vị tuyến đầu để tăng cường quân số. Nỗ lực của Kutuzov trong việc điều động lực lượng pháo binh đến chiến trường cũng là một nỗ lực đáng khâm phục. Có khoảng hơn 600 khẩu pháo đã được điều động đến Borodino. Đối với Tập đoàn quân của Barclay, ông báo cáo với Kutuzov lực lượng pháo binh của đơn vị mình gồm 144 khẩu đội, 200 khẩu pháo hạng nhẹ và 76 khẩu pháo ngựa, tổng số pháo là 438 khẩu pháo; trong khi Tập đoàn quân số 2 của Bagration có số lượng pháo ban đầu vào khoảng 200 khẩu pháo, tuy vậy Lữ đoàn pháo binh số 27 đã không ở Borodino mà vẫn còn đóng ở Moscow, ngoài ra ông còn có 122 khẩu pháo thuộc quân dự bị vào ngày 5 tháng 9.
Buổi sáng ngày 7 đang dần đến. Roman Soltyk, thuộc ban tham mưu của Napoleon, nhớ lại cách Hoàng đế bắt đầu ngày mới khi bình minh của trận chiến vừa ló dạng:
Đêm lạnh và Napoleon bị cảm nặng đến nỗi gần như mất giọng. Tuy nhiên, vào lúc ba giờ sáng hôm sau, ông lên ngựa và phi dọc theo chiến tuyến để tự trấn an rằng kẻ thù vẫn có ý định giao chiến và chúng không thay đổi vị trí. Khi tôi gặp lại ông, ông đang ở trên bãi cỏ cạnh đồn lũy. Ban tham mưu của ông cách ông khoảng 30 bước chân. Bên cạnh ông là Berthier, Caulaincourt và Duroc; các thống chế của ông, những người mà ông vừa ra lệnh, đã rời đi.
Các thống chế của ông được lệnh mở một loạt cuộc tấn công trực diện vào các vị trí của địch. Eugene, thiếu một sư đoàn Ý đóng gần Gjatsk nhưng được hai sư đoàn của Davout yểm trợ, sẽ tấn công quân Nga quanh Borodino và chiếm Pháo đài Lớn; Ney và Junot đóng đối diện làng Semenovskaja; Davout sẽ tấn công các pháo đài Fleches; còn Poniatowski được lệnh tấn công Utitza và ngọn đồi ở cực hữu của quân Pháp. Kỵ binh được cho là sẽ hỗ trợ các cuộc tấn công bộ binh này và Cận vệ già sẽ được giữ làm lực lượng dự bị.
Cuối cùng cũng đến năm giờ sáng. Một sĩ quan của Ney vội vào báo tin người Nga vẫn còn đó, và vị thống chế muốn tấn công. Tin này dường như trả lại cho Hoàng đế nghị lực mà cơn sốt đã cướp mất. Ông đứng dậy, gọi tùy tùng, bước ra khỏi lều và hô vang:
Cuối cùng ta cũng tóm được chúng rồi! Tiến lên! Chúng ta sẽ mở toang cánh cửa đến Moscow!

4. XUNG TRẬN: BORODINO NGÀY 7 THÁNG 9

<i>Trận Borodino ngày 7 tháng 9 năm 1812</i>
Trận Borodino ngày 7 tháng 9 năm 1812
Lúc 3 giờ sáng Napoleon cưỡi ngựa đến vị trí chỉ huy gần Shevardino, “các ban nhạc ở cánh phải bắt đầu chơi khúc kèn báo thức để đánh thức bộ binh, và dần dần âm nhạc ấy lan khắp toàn tuyến. Họ chơi những bản hùng tráng nhất. Âm nhạc có tác dụng rất lớn trong việc khích lệ tinh thần trước trận chiến… Ngay khi trời vừa sáng, một bản tuyên cáo ngắn của Hoàng đế được đọc cho từng tiểu đoàn”:
Binh sĩ! Đây là trận đánh mà các ngươi hằng mong đợi. Chiến thắng nằm trong tay các ngươi! Giờ đây, nó là tất yếu đối với chúng ta. Nó sẽ đem lại cho ta nơi trú đông sung túc, và con đường trở về Tổ quốc thật gần. Hãy chiến đấu như tại Austerlitz, như tại Friedland, như tại Vitebsk, như tại Smolensk! Hãy để muôn đời sau nhắc đến các ngươi với niềm tự hào rằng: ‘Anh ấy đã có mặt trong trận đánh dưới chân tường thành Moscow!’
Gửi Toàn quân trước trận Borodino ngày 7 tháng 9 năm 1812
Khi mặt trời lên, Napoleon chỉ cho binh sĩ thấy và kêu: “Kìa, mặt trời Austerlitz!”. Mặt trời này sẽ chiếu sáng chiến trường, nhưng đặc biệt là cho quân Nga – cơ hội nhìn thấy quân thù, cũng như sẽ chiếu thắng vào mắt người Pháp, đó là điều bất lợi. Các đơn vị pháo cũng có một số trục trặc, khi mà những khẩu pháo đã bị đặt ngoài tầm bắn và buộc phải đẩy lên, nhưng pháo binh Nga không nổ súng, không khí im lặng rùng rợn vẫn bao trùm.
Trận chiến bắt đầu vào lúc 6:00 giờ với việc hơn 100 khẩu pháo đồng loạt nã đạn vào tuyến phòng ngự của quân Nga. Tuy nhiên một số ghi chép của phía Nga lại cho thấy rằng quân Nga là bên bắn phát súng mở màn trận đánh. D. Danilov thuộc Lữ đoàn Pháo binh số 2 tuyên bố một trong những khẩu pháo của ông đã khai hỏa trước khi quân Pháp đáp trả:"Vào lúc bình minh, phát súng đại bác đầu tiên của Nga được bắn bởi khẩu đội của chúng tôi và phát súng này do đích thân tôi bắn... Mọi thứ trở nên im lặng, nhưng chỉ vài phút sau, một hàng dài pháo của Pháp, được triển khai trước Shevardino, đã nổ súng đáp trả ". Có nhiều người, bằng chứng là Bennigsen, tin rằng Đại đồn Raevsky và pháo binh đóng tại đây là người đã nổ phát súng đầu tiên. Dù gì đi nữa, đợt pháo kích đầu tiên đã mở màn, và một trong số những viên đạn đại bác đã nhắm đến cao điểm Gorki, nơi Kutuzov đang đóng bộ chỉ huy chiến trường tại đây, thổi bay mái của một căn nhà. Một sĩ quan trong sư đoàn của Neverovsky, Andreev thuộc Trung đoàn Jaeger số 50, nhớ lại trận pháo kích mở màn này với sự kinh ngạc:
Trong đêm, chúng tôi có thể nghe thấy tiếng hát, tiếng trống dồn và nhạc quân hành vang lên từ trại địch. Đến lúc rạng đông, chúng tôi nhìn thấy một dàn pháo hùng hậu đã được bố trí ngay đối diện. Rồi một điều kinh ngạc xảy ra: tiếng đại bác của địch, khi bắt đầu khai hỏa, vang rền đến mức át cả mọi âm thanh bắn súng khác. Cuộc oanh kích ấy kéo dài cho đến giữa trưa, và những đám khói dày đặc che mờ cả bầu trời.
Cuộc tấn công đã bắt đầu với một bất ngờ nhẹ. Napoleon đã dồn sự chú ý về cánh phải của ông, nơi đối diện với cánh trái quân Nga đang được Bagration chỉ huy, nhưng vào khoảng 7 giờ ông nhận tin giao tranh đang nổ ra ở cánh trái của mình. Bộ binh của Eugene là lực lượng đầu tiên xung trận; Sư đoàn của Delzons đã tấn công làng Borodino đang được bảo vệ bởi một Trung đoàn lính Cận vệ Jaeger Nga, quân Pháp tràn vào làng và buộc quân Nga phải rút lui về phía Kolotscha. Chẳng bao lâu ông nhận tin quân của Eugene, Trung đoàn 106, đã chiếm được làng và cây cầu bắc qua sông. Một sĩ quan Nga nhớ lại:
Cuộc rút lui thật gian nan, và việc vượt cầu vô cùng nguy hiểm. Tôi chưa bao giờ phải hứng chịu làn hỏa lực khốc liệt đến thế. Xung quanh chen lấn trên cầu mạnh đến nỗi suýt nữa tôi bị xô ngã xuống sông. Quân ta chịu tổn thất nặng nề, hoàn toàn không tương xứng với khoảng thời gian thực sự tham chiến; chỉ trong vòng mười phút, chúng tôi đã mất phần lớn binh lính và ba mươi sĩ quan.
Nhưng thay vì phá cầu, men say chiến thắng đã khiến quân lính Pháp vượt sông, bất chấp cảnh báo từ tướng lĩnh của họ, và đánh lên cao điểm Gorki. Cuộc phiêu lưu của Tướng Plauzonne và Trung đoàn 106 đã được Người Nga đáp trả bằng tràn hỏa lực tập trung của các khẩu đại bác bắn thẳng, từ cả chính diện lẫn bên sườn, xén phăng và cày nát những ai dám bén mảng lên cao điểm. Tư lệnh Lữ đoàn đã tử trận, Trung đoàn 106 bị quét sạch, còn Trung đoàn 92 đã tự ý chạy đến hỗ trợ thì may mắn hơn, họ còn kéo về được số còn lại của trung đoàn một cách thảm hại về tuyến sau. Eugene sau đó chuyển sự chú ý của mình sang Đại đồn.
<i>Tướng Jean Rapp bị thương ở hông khi đang xung phong chiếm các tiền đồn sườn phải </i>
Tướng Jean Rapp bị thương ở hông khi đang xung phong chiếm các tiền đồn sườn phải
Khoảng 7 giờ quân của Compans chỉ huy đã chiếm được fleche ở phía Nam, nhưng Compans sau đó bị trúng đạn vào vai và đỗ gục xuống đất, phần còn lại của cột quân bắt đầu hoang mang, dừng đà tiến giữa mưa pháo và xả một loạt đạn hỏa mai. Tướng Teste lên thay cho Compans, trong khi đó Davout cũng dẫn đầu Trung đoàn 57 tiến lên nhưng ngựa của ông bị bắn văng ra, ông ngã mạnh đến quân lính tưởng ông đã bị giết và tin đồn thống chế Thép bị giết lan đến tai Napoleon và khiến cả ông phải sửng sốt, nhưng Davout đã từ chối rời chiến trường. Quân Nga sau đó được chỉ huy bởi tướng Vorontzov và Neverovski đã đánh bật họ ra khỏi công sự. Tướng Teste cũng đã bị một mảnh đạn pháo làm gãy tay, trong khi phụ tá của ông cũng bị thương nặng. Ngay lúc đó Rapp phi ngựa đến cùng lệnh từ Napoleon cho điều Sư đoàn 4 của Dessaix lên tuyến đầu và rút quân Compans về tuyến hai, sau đó ông cùng với họ xung phong bằng lưỡi lê vào các đồn tiền tiêu. Vừa tới chân đồn thì Rapp cũng gục, trong lần thứ hai mươi ông bị thương. Rapp sau đó được khiêng về trước mặt Hoàng đế, ông bất ngờ khi lại thấy Rapp bị thương và hỏi tình hình ở đó ra sao, khi một viên tùy tướng nói rằng cần phải tung Quân Cận vệ vào thì cuộc giằng co ở những ụ đất mới kết thúc. "Không", ông đáp, "Ta sẽ lo liệu để đội Cận vệ không phải dùng đến. Ta sẽ không để họ bị đập nát! Ta sẽ thắng trận này mà không cần họ ".
<i>Quân đoàn III của Ney tham chiến</i>
Quân đoàn III của Ney tham chiến
Nhận thấy Quân đoàn I của Thống chế Davout đang gặp khó để chiếm giữu các công sự fleches, Thống chế Ney – Tư lệnh Quân đoàn III, đã điều Sư đoàn 10 của Ledru và Sư đoàn 11 của Razout đến để chi viện từ phía Bắc. Một nửa hỏa lực đã được chuyển hướng sang quân chi viện này, nhưng vẫn không ngăn được họ tiến lên. Tình hình chiến trường đẫm máu tại đây buộc Ney phải điều thêm Sư đoàn 25 gồm quân Württemberger đến trợ chiến. Quân Pháp lại xông lên, Tướng Dessaix dù bị thương, vẫn trèo lên đống xác chết để tiến vào trong ụ đất. Pháo binh Nga được lệnh phải giữ khẩu đội cho đến khi nào đơn vị địch tiến đến quá gần, họ sẽ lấy thương vong của địch từ một khẩu pháo để bù đắp cho tổn thất của việc mất một khẩu pháo, nhưng bất cứ khi nào người Pháp nghĩ đã làm chủ được chiến trường, kỵ binh và bộ binh Nga lại đẩy lùi họ bằng một đợt phản công. Đại úy Bonnet thuộc Quân đoàn III nhớ lại:
Đại đội chúng tôi tiến lên để tấn công ba pháo đài đất trước mặt. Rẽ hơi chếch sang phải, xuyên qua một số bụi rậm, chúng tôi áp sát pháo đài đầu tiên và lập tức hứng chịu hỏa lực pháo binh. Pháo đài đầu tiên đã bị quân phía trước chúng tôi chiếm được, nên chúng tôi tiếp tục tiến về vị trí thứ hai. Bốn tiểu đoàn của chúng tôi được triển khai nối tiếp nhau. Pháo đài cùng bốn khẩu pháo nhanh chóng rơi vào tay quân ta. Chẳng bao lâu sau, một đám đông lính bắn tỉa địch từ phía trái xông tới, trong khi một khối bộ binh dày đặc cũng đang áp sát. Tôi liền triển khai tiểu đoàn của mình và xung phong đánh vào cột quân ấy; chúng phải lùi lại, nhưng qua đó chúng tôi lại bị lộ sườn trước đạn chùm từ pháo binh đặt trong một ngôi làng. Tiểu đoàn gần như bị quét sạch, hàng chục binh lính ngã gục từng lúc một. Chúng tôi cố tiến tiếp về phía khe núi ngăn cách với ngôi làng, nhưng lại thấy một khối quân khác của địch đang đều bước tiến về phía mình. Số ít còn sống sót đành quay gót rút lui, nhưng vẫn giữ nhịp bắn liên tục vào khối quân ấy. Chúng tôi tới được pháo đài nhưng không thể giữ nổi, vì nó mở về phía địch. Quân Nga liền ào lên, buộc chúng tôi phải rời bỏ vị trí. Tôi nhảy khỏi công sự đất và bỏ chạy, suýt nữa bị một tên lính Nga chộp lấy áo choàng dài. Tôi vội nhảy qua hào. Tôi bị bắn ít nhất hai mươi lần, nhưng may mắn thoát nạn, dù chiếc mũ chóp (shako) của tôi đã trúng đạn.
Người Pháp tấn công trực diện vào các fleche, để rồi bị đẩy lùi bởi pháo binh, bộ binh và lẫn kỵ binh Nga
Người Pháp tấn công trực diện vào các fleche, để rồi bị đẩy lùi bởi pháo binh, bộ binh và lẫn kỵ binh Nga
Trong khi đó, quân của Razout đã cố tấn công vào Semenovskaja nhưng rồi bị lính phóng lựu, kỵ binh nhẹ Hussar và long kỵ của Sievers đánh bật lại. Tuy nhiên, Trung đoàn 18 “Quả cảm” thuộc Sư đoàn 11 đã đánh chiếm được một fleche thứ hai phía sau. Trong khi đó 2 tiểu đoàn còn lại của Sư đoàn 10 Ledru được hỗ trợ bởi ba tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 57 đã chiếm được fleche phía Nam, nhưng họ không thể tiếp tục tiến lên bởi hỏa lực dày đặc của pháo binh Nga. Vorontzov và Sư đoàn Phóng lựu Liên hợp số 2 đã cố để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ ụ đất, ông cũng đã mở nhiều cuộc phản công nhằm tái chiếm vị trí, ông sau đó bị thương nặng và sư đoàn gần như bị xóa sổ. “Trong tổng số 4.000 quân, thì chỉ còn chưa đến 300 người còn có mặt vào buổi điểm danh buổi tối ”, ông viết, “và trong số 18 sĩ quan tham mưu thì chỉ còn 3 người sống sót, chỉ duy nhất có một người bị thương”, và đó chỉ là kết quả trong 1 giờ sau khi chiến sự bắt đầu. Sư đoàn Bộ binh 27 của Neverovski tham gia hỗ trợ Sư đoàn phóng lựu sau đó đã giao tranh ác liệt với bộ binh của Ney và Davout, rồi họ bị pháo binh từ phía Pháp đánh cho tan tác, khi họ tập hợp lại, con số chỉ còn là 700 người. Bagration đã cho điều 8 tiểu đoàn từ tuyến hai của quân Raevsky đến để hỗ trợ quân của Neverovski, trong khi đó tại Semenovskaja, Sư đoàn Phóng lựu số 2 với nòng cốt là những Trung đoàn Phóng lựu Moscow và Trung đoàn Phóng lựu Kiev tinh nhuệ, đã tiến đến đóng quân.
Một tiểu đoàn Nga đã đơn thương độc mã tiến lên vị trí ụ đất thứ hai nơi mà Trung đoàn 18 của Quân đoàn III vừa chiếm được, khi Trung đoàn tiến lên về phía quân Nga, người Nga lùi lại. Trung đoàn 18 sau đó truy kích quân Nga cho tới khi họ bị pháo binh của Nga gây thiệt hại nặng và phải rút lui về fleche, sau đó bộ binh Nga nhân đà thắng thế đã bám đuổi Trung đoàn này cho đến khi đẩy lùi họ ra khỏi chiến trường, buộc họ lui về fleche đầu tiên ở phía Bắc.
Hai trung đoàn kỵ binh Nga gồm 4 tiểu đoàn long kỵ và 8 tiểu đoàn khinh kỵ binh đã xông qua làn khói và bộ binh, chiếm lại thành công fleche đầu ở phía Bắc. Nhân cơ hội đó Sư đoàn Phóng lựu Liên hợp số 2 đã xoay sở tái bố trí lực lượng vào hai fleche thứ nhất và thứ hai. Một phần Trung đoàn 18 “Quả cảm” đã bị bắt gặp bởi khinh kỵ và long kỵ Nga dẫn đến việc họ bị chém giết một cách thảm hại, những đơn vị khác đã lập thành các khối vuông chống kỵ binh và đẩy lùi người Nga. Sau đó, 8 đội kỵ binh thuộc khinh kỵ binh Württemberg và 4 đội của Trung đoàn Khinh kỵ binh số 4 Pháp đều thuộc Lữ đoàn kỵ binh của Beurmann đáp trả. Tuy nhiên, khinh kỵ binh Pháp đã bị đạn chùm bắn tan tác và buộc phải rút lui. Khinh kỵ binh Württemberg thì đánh bật được các khinh kỵ binh Nga cùng một số long kỵ binh, đồng thời tái chiếm lại các khẩu pháo. Dẫu vậy, hai trong số các ụ đất vẫn nằm trong tay quân Nga.   
Kỵ binh đánh giao Ba Lan là lực lượng tiếp theo tham chiến, họ bắt đầu xuất hiện từ phía sau hàng bộ binh Pháp. Trung đoàn kỵ binh đánh giáo số 6 đã giao chiến với kỵ binh của Nga, sau đó Trung đoàn kỵ binh đánh giáo số 8 xuất hiện và đánh bọc sườn trái long kỵ Nga, khiến họ phải tháo chạy hỗn loạn. Sau trận đánh đó, các Trung đoàn kỵ binh đánh giáo số 8 và số 6 rút về một vị trí mới phía sau một khu rừng. Tại đây, các trung đoàn được bố trí thành cột dọc, nối tiếp nhau, chỉ có các lữ đoàn triển khai theo đội hình bậc thang. Chẳng bao lâu sau, các lancer phát hiện kỵ binh Nga lại đang xung phong về phía họ. Nhìn từ xa, quân Nga trông giống như bọn long kỵ vừa mới bị đánh tan nát lúc này, những người lính Ba Lan tin rằng họ lại sẽ chiến thắng và thế là họ tràn lên. Nhưng khi cả hai bên tiến lại gần, họ mới nhận ra những “long kỵ binh” kia thực ra là những kỵ binh nặng mặc giáp sắt (họ là một phần của Sư đoàn kỵ binh hạng nặng số 2 của Duka). Trung đoàn số 6 liền quay ngựa chạy về phía Trung đoàn số 8. Trung đoàn số 8 rối loạn, và cả hai trung đoàn cùng tháo chạy, làm tan vỡ luôn cả đội khinh kỵ binh Phổ vốn đứng yểm trợ phía sau. Chỉ có lữ đoàn kỵ binh kế tiếp, vốn cũng triển khai theo đội hình bậc thang, đã phản công và đánh bật được kỵ binh nặng Nga.
Cuộc tấn công của kỵ binh Nga gây ra phần nào hỗn loạn cho bộ binh Pháp lúc này. Trung đoàn Bộ binh 18 vẫn trụ lại ở fleche phía Bắc, họ đứng cố thủ giữa dòng thác kỵ binh Nga tràn qua và bao quanh họ từ hai phía, rồi dần bị đánh gãy khắp cánh đồng, trong số 4 tiểu đoàn thì giờ chỉ còn một. Trung đoàn 108 của Dessaix chịu tổn thất nặng khi kỵ binh của Duka tấn công. Trung đoàn 85 và 108 cũng phải rút vào rừng, người Nga sau đó kéo pháo đến bắn phá dữ dội vào rừng cây nơi quân của Davout đang trú ẩn. Trung đoàn 57 vẫn trụ vững ở phía Nam, như hòn đảo trơ trọi giữ biển kỵ binh. Những khẩu pháo được bảo vệ bởi các đội hình tiểu đoàn ô vuông, Girod de l’Ain của Sư đoàn 4 Dessaix thuật lại:
...chúng tôi thấy một đợt xung phong của thiết kỵ Nga lao đến như một cơn bão. Họ không nhắm trực tiếp vào chúng tôi, mà nhằm vào một khẩu đội gồm 30 khẩu pháo của ta… Mặc dù đợt xung phong ấy hứng chịu hỏa lực của chúng tôi khi vượt qua, nhưng nó không làm họ chậm lại, cũng giống như loạt đạn chùm từ khẩu đội của chúng tôi cũng không ngăn nổi họ, và họ đã xô đổ nó… Nhưng chẳng bao lâu sau, họ bị các phi đội kỵ binh của ta đánh bật trở lại...
Trong đợt tấn công này của kỵ binh nặng Duka, Joachim Murat– Thống chế kỵ binh Pháp, người hay ăn mặc sắc phục lòe loẹt trên chiến trường đã dẫn đầu Sư đoàn 25 của Marchand xung phong. Tuy nhiên khi chưa đến mục tiêu, ông phải ẩn mình trong khối vuông bộ binh Wurttemberg khi bị kỵ binh Nga truy kích trong gang tất.  
<i>Murat bị kỵ binh Nga truy sát</i>
Murat bị kỵ binh Nga truy sát
Kỵ binh nặng của Duka không dừng lại, họ phát hiện một toán kỵ binh Đức đang ẩn mình trong một trong các fleche, họ luồn qua khoảng trống giữa các fleche và xung phong. Trong khi đó một nhóm khác của Duka lao vào toán bộ binh Đức gần đó. Không nổ súng, họ nghĩ rằng đó là kỵ binh Saxon do cả kỵ binh Nga lẫn Saxon đều mặc quân phục trắng, tuy nhiên hiểm lầm tai hại nhanh chóng bị xóa bỏ khi tiếng hét của lính Nga vang lên: “Giết bọn chó Đức đó đi! ”. Quân Wurttemberg  nhận ra và bắt đầu nổ súng. Đối với kỵ binh Đức, bị áp đảo quân số, họ chỉ còn có thể rút lui và để quân Nga truy kích sát nút, sau đó một toán kỵ binh đánh giáo Ba Lan của Rozniecki cũng đã giao chiến nhưng cũng chịu tổn thất nặng nề. Kỵ binh nặng đã có một trận đánh điên rồi khi đánh bại kỵ binh nhẹ Đức lẫn quân kỵ binh đánh giáo Ba Lan, uy hiếp bộ binh Đức lẫn suyết đoạt mạng Thống chế Murat, nhưng niềm vui không kéo dài lâu. Nansouty chỉ huy đơn vị kỵ binh giáp nặng của mình, cùng sự hỗ trợ của 100 người từ Trung đoàn kỵ binh đánh giáo số 6, đã mở đợt phản công quân kỵ binh nặng của Duka, quân Nga bị đánh bật và phải chịu truy kích đến sát hàng bộ binh của Bagration. Lúc này, Quân đoàn VIII Westphalia của Junot cũng bắt đầu được điều đến cánh rừng gần Utisa, đẩy lùi quân Nga tại đây cho đến phía Nam.
<i>Bagration dẫn đầu đợt phản công</i>
Bagration dẫn đầu đợt phản công
Bagration giờ tung cả lực lượng Sư đoàn Phóng lựu số 2 vào tham chiến, băng qua vô số xác chết bên dưới chân mình, tất cả bọn họ đều xung phong bằng lưỡi lê. Người Pháp biết Bagration muốn chiếm lại những fleche đã bị mất, và khi đội hình quân Nga bắt đầu hiện lên trên cánh đồng trống trải, pháo binh Pháp bắt đầu nã đạn vào họ, nhưng cứ người trước hy sinh thì người phía sau tiến lên thế chỗ, quân Nga tiến lên không nao núng. Sau cùng quân Nga chiếm lại được một cho đến hai fleche. Davout phản ứng bằng việc tung quân dự bị của mình - Sư đoàn Bộ binh số 24 của Friant. Sư đoàn 24 sau đó xông thẳng vào các fleche, dù hứng chịu tổn thất nặng nhưng họ cuối cùng cũng chiếm lại được chúng. Tuy vậy đợt phản công của Sư đoàn Phóng lựu số 2 cùng một số ít lực lượng của Sư đoàn 27 của Nga đã đánh bật quân Friant ra khỏi vị trí của họ, nhưng họ nhanh chóng ổn định lại và xung phong một lần nữa, người Pháp chiếm lại được fleche.
<i>Bagration trúng đạn trong trận đánh, ông sau đó không qua khỏi do hoại tử từ vết thương </i>
Bagration trúng đạn trong trận đánh, ông sau đó không qua khỏi do hoại tử từ vết thương
Viện binh của Bagration cuối cùng đã xuất hiện. Sư đoàn 3 dưới quyền Tướng Konovnitsyn đã đến, đây là sư đoàn chiến đấu xuất sắc nhất của quân đội Nga, và cũng là hình mẫu tiêu biểu nhất của toàn quân. Sư đoàn 3 thuộc Quân đoàn Bộ binh số III chỉ huy bởi Nikolay Alexeyevich Tuchkov, thuộc đơn vị của Barclay de Tolly. Tướng Tuchkov-IV (ông là anh em với Nikolay Alexeyevich Tuchkov) rời Sư đoàn phóng lựu số 1 tinh nhuệ đang đối đầu với quân Ba Lan ở Utisa trong khi ông sẽ đi cùng Sư đoàn 3 đến trợ chiến. Khi lực lượng tiếp viện đã đến, Bagration tung đòn đánh cuối cùng của mình, ông cùng Tuchkov-IV và Konovnitsyn dẫn đầu Sư đoàn Bộ binh số 3 và Sư đoàn Phóng lựu số 2 cùng xông lên. Các sư đoàn xung quanh đó gồm Sư đoàn Phóng lựu hỗn hợp số 2 và Sư đoàn Bộ binh 27 cùng nhiều tiểu đoàn thuộc Quân đoàn VII của Raevsky cũng tham gia tấn công. Trước quân số áp đảo, quân Pháp bị đánh khỏi các fleche. Tuy bộ binh Pháp rút lui, nhưng pháo binh Pháp vẫn không ngừng tàn sát quân Nga.
Một cuộc thảm sát thật sự, tướng Tuchkov-IV đã bị đạn chùm xé toạc lồng ngực và chết ngay tại chỗ. Các tiểu đoàn bộ binh bắt đầu hứng chịu hỏa lực khủng khiếp, Sư đoàn Phóng lựu số 2 dù kiên cường đứng trụ nhưng cũng phải trả giá đắt bằng rất nhiều người chết, nhiều hơn số đó là số bị thương, hàng trăm người mất tích. Sư đoàn giờ bị quét sạch chỉ còn lại cỡ một trung đoàn. Nhưng tổn thất lớn nhất chính là từ phía Bagration, khi trận chiến đang đến hồi cao trào vào khoảng 10 giờ sáng, một mảnh đạn pháo đã cắm vào chân trái, làm nát xương ống chân của ông, dù cố gượng để tránh binh lính nhụt chí, máu chảy nhiều khiến ông dần trượt khỏi yên ngựa, các sĩ quan tùy tùng dìu ông ra khỏi chiến trường và đưa ông về trạm phẫu thuật dã chiến gần đó. Konovnitsyn được báo tin rằng Bagration đã bị thương và cho rút quân về làng Semenovskaja, đại bản doanh Nga cũng bàng hoàng trước tin dữ về vết thương của Bagration, Kutuzov lập tức bổ nhiệm Dohturov nắm quyền chỉ huy Tập đoàn quân Tây số 2 của Bagration, Dohturov đến cánh trái trước 11 giờ sáng. Quân của ông bắt đầu chiếm lĩnh một vị trí mới ở phía Nam ngôi làng Semenovskaja. Người Pháp giờ đây, cuối cùng đã làm chủ được các fleche.       
Phía Bắc, cuộc chiến giành đồn Raevsky cũng bắt đầu. Khoảng 10 giờ sáng, pháo binh của Eugene khai hỏa, Sư đoàn 14 của Broussier bắt đầu hành quân tiến đánh Đại đồn. Sư đoàn 14 phải chịu thương vong nặng do bị trúng đạn pháo từ phía người Nga, khi họ tiến vào cánh rừng sát đồn Raevsky, sự xuất hiện của khinh binh Nga buộc họ phải chiến đấu trong hơn một giờ để rồi sau khi chiếm được rừng, họ dừng việc tiến công. Sau đó, Sư đoàn 1 của Morand với 6.000 quân bắt đầu mở cuộc tấn công. Cuộc tấn công này của người Pháp được hỗ trợ bởi pháo binh, nhưng họ cũng phải chịu tổn thất trước hỏa lực dữ dội của người Nga, bất chấp tổn thất, họ vẫn tiếp tục tiến lên. “Không gì có thể cản bước chúng tôi … Chúng tôi nhảy qua những viên đạn đại bác đang lăn lộn trên cỏ ”, Đại úy Francois thuộc Trung đoàn Tuyến số 30 viết, “Cả hàng quân, nửa trung đội lần lượt gục xuống, để lại những khoảng trống lớn. Tướng Bonamy, đang chỉ huy đi đầu cùng Trung đoàn 30, ra lệnh chúng tôi dừng lại giữa làn đạn chùm để tập hợp lại, rồi chúng tôi tiếp tục tiến lên trong nhịp bước tấn công.  
Khi này quân Pháp đang phải tiến thẳng trước mặt nòng pháo, nhưng dần dần họ càng tiến sát, khói súng trên chiến trường càng ngày càng dày đặc, và quân Pháp bất thình lình xuất hiện. Raevsky thuật lại:
… Khói thuốc súng che khuất quân Pháp hoàn toàn, chúng tôi không thể thấy đội hình hay biết họ tiến được đến đâu. Có một sĩ quan tùy tùng của tôi đứng chếch bên trái, sau một loạt đạn nữa ông ta kêu lên: ‘Ngài hãy tự cứu lấy mình đi, thưa ngài!’ Tôi quay lại và cách đó chỉ chừng 15 thước (khoảng 14 mét), tôi thấy lính phóng lựu Pháp ào vào đồn lũy của tôi với lưỡi lê gắn sẵn.
<i>"Chiến công của pháo thủ" - tranh của Aleksandr Yurievich Averyanov</i>
"Chiến công của pháo thủ" - tranh của Aleksandr Yurievich Averyanov
Raevsky sau đó lên ngựa và chạy về hướng quân dự bị. Quân Pháp, lúc này đã tràn vào được bên trong Đại đồn qua các lỗ châu mai, nhưng lính Nga bên trong không những chống cự mà còn chống cự rất quyết liệt, họ chiến đấu giáp lá cà bằng giáo và gậy thông nòng, nhưng cuộc chiến giờ chỉ gần như một chiều. Người Pháp bắt đầu làm chủ Đại đồn, Trung đoàn số 30 bắt đầu truy kích pháo thủ Nga và một số đơn vị bộ binh. Sau khi chiếm được đồn, pháo binh Pháp ngừng bắn để tránh bắn nhầm quân mình, Eugene lúc này vui mừng mà kêu lên:
"TRẬN CHIẾN ĐÃ THẮNG RỒI!"
Tuy nhiên, tướng Yermolov trong lúc đến vị trí của Bagration, nhận thấy Đồn Raevsky đã mất, liền điều Trung đoàn Bộ binh Ufa số 3 đi theo mình rồi xung phong lên dốc bằng lưỡi lê, ông cũng tập hợp lại Trung đoàn Jaeger 18, 19 và 40 tham gia tấn công. Barclay sau khi nhận thông tin trinh sát của Lowenstern về việc Đại đồn đang bị chiếm cũng lập tức phái 2 tiểu đoàn của Trung đoàn Long kỵ Orenburg tấn công sườn quân Pháp, đồng thời Lowenstern cũng nhận thấy Trung đoàn Bộ binh Tomsk gần đó, liền nhân danh Barclay lệnh họ chuyển hướng theo ông đến pháo đài. Quân Pháp nhanh chóng không thể chóng cự trước sức tấn công của quân Nga, Đại đồn đã đổi chủ, người Nga tràn lên và chiếm lấy công sự, tướng Yermolov để khích lệ quân lính còn “… ném [một nắm huân chương của Huân chương Quân công] xuống từng lần, và mỗi lần như thế, đám đông binh lính ta lại lao theo để giành lấy” . Sư đoàn của Morand không được yểm trợ buộc phải rút lui, chính Morand cũng bị thương ở cằm do đạn chùm, Trung đoàn 30 thì mất tận 2/3 quân số trong khi chỉ huy trung đoàn – Tướng Bonnamy, thì bị bắt bởi hạ sĩ Zolotov của Trung đoàn Jaeger số 18 trong tình trạng “bị đánh đập thê thảm, lảo đảo từ bên này sang bên kia... ‘Bác sĩ đâu!’ – đó là tiếng kêu của Kutuzov khi nhìn thấy ông” cùng với 13 vết thương. Trung đoàn long kỵ Siberia, Irkutsk và Orenburg và cả Tiểu đoàn Pháo kỵ số VII tiến hành truy kích, nhưng đơn vị pháo này sau đó bị pháo binh Pháp tiêu diệt khi hòm đạn của họ bị trúng đạn và phát nổ. Đồng thời tướng Alexander Ivanovich Kutaisov – Tư lệnh Pháo binh Nga, đã hi sinh trong khi phản công quân Pháp tại đồn Raevsky; một chỉ huy trẻ tuổi, tài năng, người đã chỉ huy xuất sắc pháo binh Nga trong trận đánh Borodino cho đến lúc này, cái chết của Kutaisov giáng một đòn nặng nề vào sức mạnh pháo binh của quân Nga.
<i>Chiến công của Thiếu tướng Vasily Grigorievich Kostenetsky</i>
Chiến công của Thiếu tướng Vasily Grigorievich Kostenetsky
Sau cái chết của Bá tước Kutaisov, Thiếu tướng Vasily Grigorievich Kostenetsky được Kutuzov tin tưởng trao quyền chỉ huy toàn bộ pháo binh Nga, Kutuzov có lí do khi chọn ông đảm trách vị trí Tư lệnh Pháo binh. Trước đó, tướng Vasily đã chiến đấu anh dũng để bảo vệ một khẩu đội pháo Nga trước đợt tấn công của lính kỵ đánh giáo Ba Lan. Khi thấy khẩu đội bị tấn công, thiếu tướng không nao núng đã chạy đến và giật lấy một cây thông nòng, xông vào giữa lính kỵ binh Ba Lan, liên tiếp quật ngã họ khỏi lưng ngựa. Những người lính pháo thủ Nga sau khi thấy chỉ huy của mình chiến đấu cũng liền xốc lại tinh thần rồi lao vào quân Ba Lan và quét sạch họ khỏi trận địa. Kutuzov đánh giá rất cao hành động dũng cảm này của Kostenetsky, sau trận ông cũng được trao Huân chương Thánh George hạng ba. Tuy nhiên, pháo binh Nga sẽ không còn có thể chiến đấu hiệu quả như trước được nữa.
Bộ binh của Morand lúc này đã được Sư đoàn của Gerard đến ứng cứu. Đáp trả, long kỵ Nga mở đợt tấn công vào lực lượng mới này của quân Pháp, nhưng để rồi bị đẩy lui bởi lưới lửa dày đặc của súng hỏa mai từ bộ binh trong các ô vuông. Quân đoàn II Bộ binh của Tướng Baggovout lúc này đang hành quân tiến xuống phía Nam theo mệnh lệnh của de Tolly để củng cố cánh quân của Bagration. Quân đoàn II gồm 2 sư đoàn là Sư đoàn 4 của Hoàng tử Eugen và Sư đoàn 17 của Olsufiev. Sư đoàn 17 sẽ tiếp tục tiến đến Utisa trong khi quân của Hoàng tử Eugen sẽ di chuyển đến Đại đồn. Quân của Eugen với 8 tiểu đoàn, tiến thẳng vào quân địch. “Thật sự, đó như một bước đi vào địa ngục…” ông viết. Bất chấp tổn thất, quân Nga vẫn thành công đẩy lùi người Pháp, buộc họ phải rút lui. Kỵ binh Pháp sau đó cũng tham chiến, pháo ngựa kéo cũng được dùng hòng đánh vu hồi các khối ô vuông bộ binh Nga đang phòng ngự trước kỵ binh nhưng không thành công, sau đó kỵ binh Pháp của Grouchy cũng xuất hiện cũng như long kỵ của Nga. Một phần Sư đoàn 17 cũng bị kéo vào giao tranh tại đây.
Trong khi quân Pháp ở cánh Bắc và trung tâm đang phải vật lộn để chiếm từng đồn lũy phòng thủ thì ở sườn phải của họ, mọi chuyện cũng chẳng bớt ảm đạm hơn. Thôn Utisa – vị trí được phòng thủ bởi Quân đoàn III của Tuchkov, Quân đoàn Cossack và dân quân, là một nơi được che phủ bởi rừng cây bạch dương xung quanh, riêng chỉ có khu vực gần làng Utisa là đồng bằng trống. Cuộc tấn công ban đầu không suôn sẻ cho Quân đoàn V của Poniatowski khi pháo binh Ba Lan không thể triển khai qua cánh rừng và đồng cỏ chắn ngang họ với Utisa, buộc Poniatowski phải cho quân đi vòng qua rừng về phía Nam hướng Yelnia trước khi quay lại hướng Đông. Khoảng trống mà Quân đoàn V để lại được Quân đoàn VIII của Junot thay thế. Những người lính Westphalia non kinh nghiệm của Junot nhanh chóng được khoảng 30 khẩu pháo của Nga chào mừng, và cứ như thể họ không phải lính, họ nháo nhào nằm rạp xuống đất mỗi khi một quả đạn pháo chạm đất. Quân Junot sau đó tiến vào khu rừng gần Utisa và đẩy lùi quân Jaeger của Nga tại đây. Khi 8 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 3 của Konovnitsyn bị điều đi, 4 tiểu đoàn jaeger còn lại được triển khai vào cánh rừng trong khi Sư đoàn lựu đạn số 1 (là một trong số Sư đoàn tốt nhất của Sa hoàng) được bố trí phía sau thôn Utisa; dân quân trang bị kém dự bị, quân Cossack của Karpov giữ sường Nam của thôn, trước Utisa còn có 2 trung đoàn jaeger trong rừng. Chiến trường giờ là rừng, đồng bằng giờ do người Nga kiểm soát.
Quân Ba Lan bắt đầu tấn công. Sư đoàn 16 với 2/3 số quân chiến đấu theo đội hình bắn tỉa, họ nhanh chóng đẩy lùi quân jaeger trong rừng và mở đầu đợt tấn công vào các vị trí pháo của Nga buộc họ phải rút lui. Sau khi chiếm được rừng, vào khoảng 10 giờ 30 phút sáng, Poniatowski cho kéo hơn 20 khẩu pháo đến một ngọn đồi nhỏ từ đó nhắm thẳng Utisa cùng trận địa pháo bên cạnh làng của người Nga. Làng Utisa sau đó bị Sư đoàn 16 chiếm, nhưng Sư đoàn Lựu đạn số 1 phản công và tái chiếm được làng. Họ lập một tuyến quân gồm bộ binh và pháo binh trên một ngọn đồi gọi là Kurgan, nhưng người Ba Lan cũng thành công chiếm được, dù không thể bắt giữ bất kì khẩu pháo nào từ người Nga. Tuchkov cần được tăng viện và Quân đoàn II của Baggovout đang đến, tuy nhiên mọi thứ khó khăn hơn nhiều.
Quân đoàn II của Baggovout đang bị kìm chân khi Sư đoàn 4 bị tách ra do đang phải tái chiếm Đại đồn Raevsky trong khi đó Sư đoàn 17 dù đang tiến về Utisa, nhưng một phần lực lượng này lại cũng lôi vào vòng chiến khi bị long kỵ binh của Grouchy đánh chặn. Cho nên Baggovout chỉ có phần còn lại của Sư đoàn 17 được điều đến Utisa. Sư đoàn 4 của Hoàng tử Eugen chỉ được điều đến khi đã trưa. Poniatowski đã điều lực lượng củng cố khu vực vừa chiếm được, người Nga sau đó đánh vào đây bằng 14 tiều đoàn trong đó có cả dân quân cùng 6 pháo hạng nặng, đặc biệt có cả Trung đoàn Phóng lựu Life (của riêng Sa hoàng) và Trung đoàn Phóng lựu Pavlovsk tinh nhuệ. Quân Nga nhanh chóng áp đảo và buộc quân Ba Lan phải bỏ vị trí chiếm được, nhưng Poniatowski vẫn giữ được các vị trí trong rừng. Tướng Tuchkov sau đó bị thương nặng do trúng một viên đạn xuyên qua lòng ngực, Baggovout lập tức thay thế quyền chỉ huy. Người Ba Lan bắt đầu tung pháo của họ vào và có cả 2 khẩu đội Pháo binh Cận vệ Già đặc biệt tinh nhuệ, họ đấu pháo với quân Nga trong suốt 3 giờ. Người Cossack ở sườn Nam lại yên tĩnh hơn nhiều, quân Karpov không thách thức kỵ binh của Poniatowski. Đến khi quân của Junot chiếm được quyền kiểm soát phía Bắc đường cũ, buộc Baggovout phải rút trước khi bị cắt đứt khỏi phần còn lại của toàn quân, làng Utisa mới chính thức bị chiếm bởi quân Ba Lan.
<i>Kỵ binh của Uvarov tấn công quân Pháp </i>
Kỵ binh của Uvarov tấn công quân Pháp
Giờ đây chỉ còn rìa phía Bắc là có phần trầm lắng. Lúc này Platov – chỉ huy quân Cossack, nhận thấy quân Pháp đang phòng ngự lỏng lẻo chỉ gồm kỵ binh hạng nhẹ của Ornano và Bavaria, bèn xin chỉ thị từ Kutuzov cho phép tập kích vào vị trí này bằng 5.500 quân của ông. Kutuzov đồng ý, và điều động thêm Quân đoàn Kỵ binh I của Uvarov với hơn 3.000 quân tham gia. Cuộc tấn công bắt đầu khoảng trời đã trưa, ban đầu một số đơn vị Nga bị quân kỵ binh Pháp đánh tan, nhưng sau đó họ - ở đây là quân Ý, bắt đầu tan rã và hoảng loạn khiến thế trận bắt đầu trở nên mất kiểm soát, điển hình là quân kỵ binh Bavaria dù đánh bại được đơn vị khinh kỵ Elisavetgrad Nga nhưng sau đó bị rối loạn do quân Ý tháo chạy xuyên qua đội hình. Pháo binh Bavaria cũng bị khinh kỵ Elisavetgrad và quân Cossack đánh úp khiến cho kỵ binh Ý phải chạy đến cứu pháo thủ. Quân của Uvarov tuy vậy bị chặn lại khi Trung đoàn 84, 92 và Trung đoàn lính Croatia,  Eugene cũng phải ẩn mình trong đội hình ô vuông của Trung đoàn 84. Clausewitz, người đi cùng Uvarov, đã đề nghị ông cho pháo kích các khối bộ binh Pháp trước khi xua quân vào nhưng theo lời Clausewitz thì “các sĩ quan Nga sợ rằng nếu vậy quân địch sẽ rút lui và thoát khỏi vòng vây”, khinh kỵ Cận vệ Nga đã 3 lần tấn công vào đội hình của Trung đoàn 84 nhưng bất thành, hỏa lực từ súng và pháo binh đã đẩy lùi bước tiến của người Nga. “Bộ binh ] vẫn giữ vững hàng ngũ, bình tĩnh nã đạn. Khinh kỵ Cận vệ phải rút lui, như thường xảy ra trong trường hợp này... Sau đó tướng Uvarov ngừng những nỗ lực không mấy vẻ vang này, cho pháo bắn. Ngay loạt đạn đầu tiên, địch lập tức rút lui qua khe hẹp ”.
<i>Napoleon trong trận Borodino</i>
Napoleon trong trận Borodino
Không khí bị đe dọa trở nên nặng nề khi tin đồn “Quân Cossack sau lưng chúng ta” lan đến tận Tổng hành dinh phía Nam của Napoleon ở Shevardino. Lều của Hoàng đế bị dỡ, Cận vệ già phải lập đội hình ô vuông để bảo vệ bộ chỉ huy. Sau khi quan sát tình hình, Napoleon điều Lữ đoàn Bộ binh Vistula và Quân đoàn III Kỵ binh của Grouchy đến tăng cường cho Eugene. Quân của Eugene dần lấy lại trật tự và bắt đầu phản công. Cuộc tập kích dần chấm dứt khi Uvarov được lệnh rút về vị trí tập kết vào lúc 3 giờ. Từ 4 giờ đến 5 giờ, chỉ còn số ít quân Cossack ở lại để làm nhiệm vụ quấy phá. Platov cũng phải rút về vị trí ban đầu theo lệnh của Kutuzov và theo những báo cáo như của Nikolai Muraviev hay Mikhailovski-Danilevski, Platov ngày hôm đó say rượu đến độ chính Kutuzov cũng phải bất ngờ khi chứng kiến một vị tướng lĩnh say như chết giữa chiến trường. Nhưng cuộc tập kích bất ngờ đã khiến con quái vật phân tâm, giờ đây Kutuzov có thêm thời gian vàng để củng cố lực lượng của mình trước những đòn đánh quyết định.
Sau khi quân Pháp chiếm được các fleche của Bagration, Napoleon ra lệnh cho kỵ binh của Murat xông lên. Murat chỉ huy trực tiếp lực lượng kỵ binh của Quân đoàn II Kỵ binh của Montbrun và Quân đoàn IV Kỵ binh, bắt đầu mở cuộc tấn công lớn vào vị trí tại làng Semenovskaja – nơi đang được bảo vệ bởi các sư đoàn phóng lựu, sư đoàn bộ binh và kỵ binh Nga từ đợt phản công trước. Bộ binh Nga lập đội hình ô vuông khi kỵ binh Pháp khổng lồ xông tới cách đó 1km, họ đứng yên và chờ đợi, bất kì sự xáo trộn nào đều sẽ khiến tất cả bị giết dưới kiếm của kỵ binh. Helldorf mô tả cảnh tượng lúc ấy:
Tiếng hô En avant! (Tiến lên!) vang dội bên tai chúng tôi, sức mạnh của đợt xung phong từ khổng lồ này như muốn cướp đi hơi thở của chúng tôi... Kỵ binh Pháp hiện ra từ đám bụi, với ánh sáng lóe trên giáp sắt, tiếng leng keng của vỏ kiếm, và mặt trời phản chiếu rực rỡ trên những chiếc mũ sắt gắn đuôi ngựa của họ. Say sưa trong men chiến thắng, đoàn kỵ binh oai vệ ấy dồn sức công phá vào bức tường thép của chúng tôi...
Sư đoàn kỵ binh của Lorge thuộc Quân đoàn IV với quân tiên phong là kỵ binh Sachsen, dù phải chịu thương vong từ pháo binh Nga, họ vẫn thành công phá vỡ một khối bộ binh Nga phòng ngự và truy kích họ. Kỵ binh Westphalia ngược lại không thể phá vỡ đội hình phòng thủ, sau đó long kỵ Nga có tổ chức phản công nhưng cũng bị kỵ binh Sachsen đẩy lùi. Nhân đà thằng thế, kỵ binh Sachsen vòng qua làng và tấn công 6 khối vuông của quân Cận vệ Nga để rồi phải trả giá bằng tổn thất lớn trước sự kỉ luật và sự gan dạ trong từng loạt đạn của họ. Kỵ binh Ba Lan từ phía sau di chuyển chếch về phía Bắc gần với Đại đồn, nơi họ tham gia cuộc tấn công vào các lực lượng pháo và bộ binh Nga trong đó có quân của Hoàng tử Eugen.
<i>Kỵ binh hạng nặng Pháp dưới quyền chỉ huy của Nansouty tấn công Bộ binh Cận vệ Nga</i>
Kỵ binh hạng nặng Pháp dưới quyền chỉ huy của Nansouty tấn công Bộ binh Cận vệ Nga
Đáp trả, các lực lượng tinh nhuệ nhất của kỵ binh Sa hoàng cũng bắt đầu tấn công. Trung đoàn Kỵ binh giáp nặng của Sa hoàng và Trung đoàn Kỵ binh giáp nặng của Nữ hoàng lâm trận, sau là Kỵ binh giáp nặng Astrahan. Cùng lúc Khinh kỵ Ahtyrka cũng lao thẳng vào sườn quân Pháp, cuộc đụng độ khủng khiếp diễn ra khi kỵ binh hai bên lao vào chém giết điên cuồng không khoan nhượng bất kì kẻ thù nào còn vững trên lưng ngựa, kiếm giáo hỗn loạn khắp nơi, đến những kẻ bị chém chết tức khắc có khi còn may mắn hơn những kẻ ngã phía dưới bị giày xéo thành một bãi thịt nhầy nhụa dưới móng ngựa hỗn loạn phía trên. Kỵ binh Sachsen, Ba Lan và Westphalia sau đó cũng bị đánh vào sườn bởi Sư đoàn 2 Kỵ binh giáp nặng khiến họ phải rút lui sau một lúc chống trả, quân kỵ Wurttemberg và long kỵ Nga cũng bị lôi vào hỗn chiến. “Ai không tận mắt chứng kiến thì không thể hình dung nổi cảnh hỗn loạn này ”, Friedrich von Schubert viết: “Không còn có thể nói đến kỷ luật hay sự chỉ huy nữa. Mỗi trung đoàn, hễ vừa mới tập hợp lại được theo hiệu kèn, thì lập tức lại lao vào xung phong. … Ở giữa cảnh hỗn loạn ấy còn lác đác những tàn quân bộ binh của chúng ta…”.
<i>"Horse Guards in the Battle of Boridino" của Aleksandr Yurievich Averyanov</i>
"Horse Guards in the Battle of Boridino" của Aleksandr Yurievich Averyanov
Cuộc xung phong của các lực lượng kỵ binh Pháp dần đi vào bế tắc khi không thể phá vỡ các khối phòng thủ của bộ binh Nga. Lữ đoàn Bộ binh Cận vệ Nga đã hứng chịu 3 đợt xung phong liên tiếp từ kỵ binh nặng nhưng vẫn thành công đẩy lùi quân địch. Điều tương tự cũng xảy ra khi quân Pháp tìm cách tấn công các tiểu đoàn bộ binh của Quân đoàn V do tướng Lavrov chỉ huy; sự kiên quyết, kỉ luật, cùng với chiến lược phòng thủ căn bản hợp lí đã khiến kỵ binh Pháp yếu thế và phải quay đầu tháo chạy. Pháo binh Pháp sau đó phải thay thế nhiệm vụ của kỵ binh bằng việc nã đạn trực tiếp vào đội hình quân Nga. Riêng đối với kỵ binh Nga của Sư đoàn 1 và 2 Kỵ binh nặng, họ đã làm tốt nhiệm vụ đẩy lùi các lực lượng kỵ binh của Napoleon.
Lúc này nếu làng Semenovskaja bị chiếm, quân Nga sẽ hoàn toàn mất trung tâm. Vì thế, sau khi kỵ binh của Murat rút lui, Tướng Friant – một trong Bộ ba “Thép” của Quân đoàn Davout, chỉ huy Sư đoàn Bộ binh số 2 với ba trung đoàn gồm 15 tiểu đoàn chia làm ba tuyến bắt đầu tấn công ngôi làng. Đợt tấn công thứ nhất gần vào làng gần như đã thành công nếu như lực lượng chịu trách nhiệm bảo vệ Semenovskaja là một phần Sư đoàn Phóng lựu số 2, không kịp thời kéo bốn Tiểu đoàn Phóng lựu đến chống cự quyết liệt khiến cho đợt tấn công thứ nhất của bộ binh Pháp thất bại. Đợt tấn công thứ hai nhanh bắt đầu, quân Nga nhanh chóng rút các khẩu pháo của mình đóng quanh làng lên các điểm bố trí mới trong khi Tolstoy đang dẫn đầu Quân đoàn IV xuống tiếp ứng. Quân Nga phòng thủ kiên quyết trước bộ binh của Friant trong khi pháo binh liên tục tàn sát quân Pháp bằng đạn chùm. Chính tướng Friant cũng suyết chết khi bị một viên đạn chùm ghim vào ngực nhưng ông từ chối rời chiến trường. Thương vong khủng khiếp khiến quân Pháp dần không thể cầm cự, một số tiểu đoàn của Friant tổn thất đến mức binh lính muốn rút lui, khi cuộc tháo lui bắt đầu diễn ra, các chỉ huy của Sư đoàn Friant và chính cả Thống chế Murat bắt đầu xông đến ngăn không cho họ rút lui, một Đại tá thuộc Sư đoàn số 2 của Friant đã hét lên:   
Binh sĩ, quay đầu lại! Hãy đi và để bị giết cho xong!
Bộ binh Friant sau đó lại phải hứng chịu đợt tấn công mới từ long kỵ và khinh kỵ của Sievers, nhiều lần họ cố gắng phá vỡ khối vuông bộ binh của Sư đoàn 2 nhưng bất thành. Vị trí của Friant ở Semenovskaja đang ngàn cân treo sợi tóc, bộ binh của ông đang bị tàn sát, giờ đây tất cả những gì mà Davout, Ney, Murat và cả chính tướng Friant cần đó là một lực lượng tăng viện mới, giàu sức chiến đấu – Đội Cận vệ.
<i>Napoleon duyệt đội Cận vệ Hoàng gia</i>
Napoleon duyệt đội Cận vệ Hoàng gia
Cận vệ Hoàng gia là lực lượng kế thừa một phần từ di sản lực lượng Cận vệ Tổng tài hay trước đó là đội Cận vệ Đốc chính, những người được xưng tụng là “Pháo đài đá Granite” của Marengo hay “Những người bất tử”. Tinh nhuệ, dũng cảm và trung thành – Đội Cận vệ chỉ chịu sự chỉ huy trực tiếp và duy nhất từ chính Napoleon. Là đội dự bị chiến thuật, quân Cận vệ có cả 3 binh chủng gồm bộ binh, kỵ binh lẫn pháo binh, nổi tiếng nhất trong số này là đội Cận vệ già cùng các trung đoàn phóng lựu tinh tuyển đặc trưng với những chiếc mũ da gấu, thân hình cao to và tinh thần thiện chiến của những người đã dạn dày kinh nghiệm trận mạc.
Các yêu cầu hối thúc Napoleon tung đội Cận vệ của mình vào chiến trường chẳng đi về đâu. Ông căn bản không muốn đội Cận vệ phải bị sức mẻ khi tham gia vào cuộc chiến, đồng thời ông không muốn đánh mất lực lượng dự bị cuối cùng của mình. Có lẽ rằng cuộc tấn công của Platov và Uvarov vào sườn trái quân Pháp đã làm củng cố quyết tâm không để bất kì lực lượng Cận vệ nào vào tham chiến. Đội Cận vệ trẻ đã thất vọng khi không được lệnh tấn công, đã lấy lí do điều chỉnh hàng ngũ để nhích lên phía trước, nhưng bị Napoleon phát hiện và ra lệnh dừng lại. Các tướng sẽ không có bất kì đơn vị bộ binh Cận vệ nào để đánh đòn cuối vào Semenovskaja, nhưng họ sẽ có pháo binh. Napoleon đã cho điều khẩu đội của lực lượng Pháo binh Cận vệ với 60 trọng pháo của tướng Sorbier đến hỗ trợ Friant. Pháo binh Cận vệ nhanh chóng bắn phá dữ dội các lực lượng của Tolstoy đang cơ động chi viên từ phía Bắc.
Cuộc đọ pháo lớn khiến chiến trường trở nên mịt mù trong khói súng và mùi cỏ cháy, xác người và ngựa cứ càng ngày càng nhiều hơn. Cả bộ binh hai bên ban đầu còn cố gắng giữ đội hình trước pháo kích giờ cũng phải tìm cách trú ẩn. Quân đoàn của Tolstoy phải rút vào cánh rừng phía sau nơi họ được lệnh phải giữ được “bằng mọi giá”, bộ binh của Friant ban đầu có tấn công nhưng do không có tiếp viện lẫn tổn thất nặng nề từ đầu nên việc đánh chiếm trở nên yếu ớt. Bộ binh Friant phải tiếp tục cố thủ trong làng Semenovskaja. Bộ binh Pháp, Ba Lan, Đức cũng đều tìm những vị trí như rừng cây, khe núi để ẩn mình, có đơn vị được lệnh nằm rạp xuống đất. Kỵ binh thì chẳng khác gì đứng chờ chết do đang phải bảo vệ pháo giữa đồng trống, đến nỗi Quân kỵ binh tinh nhuệ Carabinier phẫn nộ vì phải chịu tổn thất thụ động. “Có lúc, Trung sĩ - Major Ravat tức giận hét lên: ‘Hoặc chúng ta xung phong, hoặc chúng ta rời khỏi bãi chiến!’ Nhưng lập tức bị Đại úy du Barail chặn lại: ‘Thêm một lời nữa là ta sẽ đánh gãy mõm ngươi !’” . Lúc này, Tư lệnh Quân đoàn Kỵ binh II Pháp – Tướng Montbrun đã tử trận, ông bị một viên đạn xuyên qua cơ thể từ bên này sang bên kia, phá hủy thận. “Một phát bắn tuyệt hảo”, Montbrun thì thào trước khi mất ý thức và được đưa về tuyến sau. Tướng Auguste de Caulaincourt – em của nguyên Đại sứ Pháp tại Nga Armand de Caulaincourt (người đã được nhắc tên ở Phần I & II), được Napoleon cử làm chỉ huy lực lượng kỵ binh nặng của Montbrun để lại.
Hãy theo ta, đừng than khóc hắn [Montbrun], mà hãy đến và báo thù cho cái chết của hắn.
Auguste de Caulaincourt
Ngay khi quân Pháp làm chủ được Semenovskaja, khoảng 3 giờ chiều, kỵ binh Pháp chuyển hướng tấn công vào Đại đồn Raevsky. “Đại đồn đã bị hỏa lực đại bác tàn phá đến mức Hoàng đế đã đúng khi đánh giá rằng kỵ binh có khả năng chiếm được nó. Vậy nên chúng tôi đã được chứng kiến ​​cảnh tượng tuyệt đẹp từ đợt xung phong của kỵ binh giáp nặng.”, Chlapowski của Đội Kỵ binh Cận vệ nhớ lại. Tướng Auguste de Caulaincourt, người thay thế cho Montbrun nhanh chóng lên kế hoạch tấn công, ông sẽ dẫn đội kỵ binh của mình vòng qua đồn sau đó tấn công nó từ phía sau. “Các ngươi sẽ sớm thấy ta ở đó, dù sống hay chết ” Auguste nói, rồi khi tiếng kèn trận nổi lên, ông dẫn đội kỵ binh của mình lao lên phía trước. Agathon Fain – thư kí của Hoàng đế nhớ lại, quan sát từ Shevardino, đội kỵ binh xuyên qua tuyến phòng thủ của quân Nga rồi ngoặc sang trái “biến mất trong một đám bụi khói”.
<i>Cái chết của Auguste de Caulaincourt</i>
Cái chết của Auguste de Caulaincourt
Rồi trong đám bụi đó, một đội kỵ binh xông ra, kiếm tuốt trần lao về phía hàng pháo thủ Nga. Pháo binh Nga nhanh chóng đáp trả bằng các đợt pháo liên tiếp nhau, bộ binh bắn hết loạt đạn này đến loạt đạn khác và dần đẩy lùi được họ, Trung đoàn Kỵ binh nặng số 1 cũng đẩy lui khinh kỵ và kỵ binh đánh giáo Ba Lan. Nhưng, nhóm kỵ binh của Trung đoàn 5 và 8 đã nhảy vào được bên trong Đại đồn, họ đã chiếm được Đồn Raevsky. Đại tá Griois quan sát cuộc tấn công: “Thật khó để diễn tả cảm xúc của chúng tôi khi chứng kiến ​​chiến công hiển hách này, có lẽ không có chiến công nào sánh kịp trong biên niên sử quân sự của các quốc gia... chúng tôi thấy kỵ binh nhảy qua hào và leo lên thành lũy dưới làn mưa đạn, và tiếng reo hò vui mừng vang vọng khắp mọi nơi khi họ trở thành chủ nhân của pháo đài”. Quân Nga không từ bỏ, họ tập hợp lại và chuẩn bị cho đợt phản công, Auguste sau đó liền lên ngựa và dẫn đầu đợt xung phong mới vào lực lượng dự bị này của người Nga để rồi ông bị một viên đạn bắn xuyên tim hạ ngay tại chỗ. Heinrich von Brandt – Trung úy, mô tả là:
Người và ngựa – còn sống, bị thương, đã chết – nằm la liệt từng tốp sáu, tám, chất chồng lên nhau, phủ kín các lối tiếp cận, tràn ngập cả hào lẫn bên trong công sự. Trong lúc chúng tôi đang tiến lên, họ khiêng thi thể Tướng Caulaincourt đi. Ông được mấy kỵ binh giáp nặng đưa qua trước mặt chúng tôi, đặt trên một tấm áo choàng trắng của kỵ binh nặng, loang lổ những vết máu lớn.
Người Pháp sau đó không thể bảo vệ được đồn. Dù vậy đến 4:30 chiều, bộ binh của Eugen cùng sự hỗ trợ của các lực lượng kỵ binh dẫn đầu là quân Saxon vẫn chiếm lại được Đại đồn. Kỵ binh Pháp lúc này nhân thắng lợi mở đợt tấn công thọc sâu vào trong phòng tuyến quân Nga, kỵ binh đánh giáo Ba Lan cũng đã áp sát đến gần Bộ Tổng tham mưu của Barclay, nhưng tất cả đều bị chặn đứng trước đợt xung phong gần như là cuối cùng của các lực lượng kỵ binh còn lại của quân Nga.
Mệnh lệnh đã được Kutuzov ban ra cho de Tolly: lùi 1000 bước đến vị trí mới. Các đơn vị lính Cossack vẫn tiếp tục quấy phá quân Nga, đôi khi là chiếm lại một số vị trí trong thời gian ngắn trước khi bị đẩy lùi. Barclay cũng lệnh xây dựng một đồn lũy mới gần Gorki – có vẻ là để chiến đấu vào sáng hôm sau. Tuy nhiên Kutuzov nhận thấy quân Nga đã còn quá ít quân có khả năng chiến đấu tốt vì thế tối hôm đó, ông ra mệnh lệnh rút lui. Mozhaisk – họ sẽ đến đó, bộ binh rã rời sau một ngày đẫm máu kéo theo sau. Đến khi trời sáng, Platov và quân Cossack của ông ta là lực lượng cuối cùng còn lại trên chiến trường.

5. VÒNG NGUYỆT QUẾ CỦA LỬA, MÁU VÀ TUYẾT

<i>Cuộc chiến kết thúc </i>
Cuộc chiến kết thúc
Vậy ai đã giành chiến thắng trong trận đánh này? Người Pháp chẳng thể nào tiêu diệt được chủ lực của Kutuzov như Napoleon mong muốn, người Nga chủ động rút lui có trật tự và ông cũng không thể truy kích quân Nga sau khi họ tiến hành rút lui. Vậy người Nga? Lại càng không! Họ đã đánh mất các vị trí phòng thủ của mình ở Đồn Raevsky, các fleche, làng Utisa, khiến cho cuộc chiến gần như là bất lợi nếu họ tiếp tục chiến đấu, đồng thời họ cũng là lực lượng rút khỏi chiến trường. Trận Borodino có vẻ là một trận hòa, nhưng nếu vậy trận Smolensk hay Lepzig sau này cũng phải nên là một trận hòa, nên trong trận đánh ngày 7 tháng 9 năm ấy, quân Pháp là lực lượng đã thành công phần nào về mục tiêu chiến thuật của mình, tuy phải trả bằng cái giá quá đắt. Quân Nga dù đã bị đánh bại, nhưng họ không bị tan rã hay tiêu diệt, họ vẫn ở đó, tập hợp lại để sẵn sàng cho cuộc chiến tiếp theo.
Tuy nhiên chiến tranh không bao giờ mang lại sự sống trên chiến trường. 43.000 người đã chết, bị thương hay mất tích được báo cáo sau trận chiến mà quân Nga phải chịu, cùng với 20.000 người khác bị thương mà phải 7 tháng sau mới bình phục, tức 1/3 quân số. Chưa kể 23 vị tướng Nga đã bị giết hoặc bị thương chỉ riêng trong trận đánh, đặc biệt là Hoàng tử Bagration – sĩ quan cao cấp nhất trong Tập đoàn quân số 2, cũng qua đời vì hoại tử bảy ngày sau đó. Nhiều đơn vị Nga đã bị tàn phá nặng nề trong trận đánh như Trung đoàn Jaeger 6 mất 920 người bao gồm cả chết lẫn bị thương, tuyến Shirvansk chỉ còn ba sĩ quan và 96 người trong tổng số 1.300 người.
Thương vong của Napoleon được cho là khó phân tích hơn. Ước tính có khoảng 40.000 quân gồm cả quân Pháp và quân đồng minh, thiệt mạng hoặc bị thương, trong đó có 49 tướng lĩnh, 12 trong số họ đã bị giết. Cái chết của các sĩ quan cấp cao đồng nghĩa với việc, dù buồn cười hay không, là sự thăng chức của các sĩ quan cấp dưới, những ai đã may mắn sống sót. Lehucher thuộc Lữ đoàn 57 đã viết trong một bức thư gửi về nhà:
Trận chiến đã cướp đi của bọn anh rất nhiều người, trong đó có nhiều người bạn thân, và anh thực sự tiếc thương cho sự mất mát ấy. Anh may mắn thoát ra mà không hề hấn gì, dù chiếc quần dài và áo choàng lớn của anh đã bị nhiều viên đạn súng trường xé rách. Hoàng đế hiện đang thay thế những sĩ quan đã ngã xuống, và Người đã rộng lòng chấp thuận đề nghị của đại tá anh rằng anh sẽ được bổ nhiệm làm phụ tá. Thế là từ nay anh sẽ bỏ chiếc ba-lô nặng nề, và anh sẽ khoác lên vai đôi cầu vai sĩ quan.
<i>Bản thảo của một lính Đức về hai người lính đã chết trong trận chiến</i>
Bản thảo của một lính Đức về hai người lính đã chết trong trận chiến
Borodino lúc này chả khác gì cái nhà xác, một chín một mười với trận Smolensk. Những đồn lũy là nơi chứng kiến xác chết của cả hai bên nhiều nhất và hiển nhiên chẳng ai muốn ngủ lại trên chiến trường. Riêng đối với người bị thương, họ thường bị bỏ mặc cho đến chết vì vết thương, hoặc bị bỏ rơi sau khi được đưa đến những ngôi làng xung quanh Borodino, hoặc không thể qua khỏi dù đã được cứu chữa. Bellot de Kergorre, một ủy viên quân nhu người Flemish, kể lại những gì ông chứng kiến ở Mojaisk, nơi ông phụ trách việc nuôi dưỡng thương binh:
Được băng bó sơ sài bằng cỏ khô và rên rỉ thảm thiết, họ sống sót trong những ngày đầu chỉ nhờ vài hạt ngũ cốc lẫn trong lớp rơm mà họ nằm lên, và chút ít bột mà tôi có thể phân phát. Khi nấu được chút súp thì cũng phải mang đến tận nơi, nhưng chúng tôi chẳng có gì để đựng cả! Thật may mắn, tôi tình cờ tìm được khá nhiều chiếc bát nhỏ vốn dùng để đặt đèn dầu, nhờ vậy mà chúng tôi có thể cho bệnh nhân uống chút nước. Việc thiếu nến quả là một nỗi khổ sở khôn tả.
Kergorre cũng kiếm vài cỗ xe để di dời tử thi. Ông viết:
Tôi đích thân mang đi 128 cái xác, những người đã bị dùng làm gối cho kẻ hấp hối, và đã chết từ nhiều ngày trước.
Đơn vị của Faber du Faur quay lại băng qua chiến trường vào ngày 17 tháng Chín và ông đã ghi chép cũng như vẽ lại khung cảnh ấy:
Ngay đây, rất gần, trong toàn bộ sự kinh hoàng của nó, là thung lũng Shevardino, gần chỗ sư đoàn Morand từng đóng quân khi trận đánh bắt đầu. Đây là chiến trường, từ lâu sau khi trận kịch chiến đã lắng xuống, lâu sau khi những cơn cuồng nộ tắt đi, lâu sau khi những tiếng hô vang danh dự và bổn phận — những thứ bóp nghẹt cả nhân tính — đã biến mất. Giờ đây, chiến trường mang một bộ mặt như ta thấy trước mắt: những khối quân đội khổng lồ đã bị gọi đi tới một bãi thắng trận khác, và sự tĩnh lặng của nấm mồ ngự trị tuyệt đối. Thân xác nằm ngổn ngang từng đống, kẻ thù và đồng minh cùng hòa chung trong một nền hòa bình thăm thẳm. Lác đác vẫn có con ngựa còn cựa quậy, sống sót sau khi chủ nó đã gục ngã. Càng tiến lại gần, chúng tôi càng thấy rõ các xác chết sau mười một ngày đã bắt đầu rữa nát. Dưới bầu trời u ám, những dải sương mù như thể vì lòng thương xót đã che mắt chúng tôi, để khỏi phải chứng kiến thêm cảnh điêu tàn rộng lớn này. Thế nhưng, vẫn thấy rõ những đường nét đẫm máu của đại redoubt, nơi mà quyền chiếm giữ đã bị tranh giành bằng một cơn cuồng nộ không dứt. Một cột trụ được dựng ngay trong redoubt, khắc dòng chữ rằng nơi đây Montbrun và Caulaincourt an nghỉ, giữa vòng vây những anh hùng đã ngã xuống. Vinh quang của quân ta cũng được khắc ghi nơi các pháo đài ấy, bởi chính ở đây, khi bị áp đảo bởi quân số địch, Murat đã tìm chỗ trú ẩn bên chúng tôi. Tại đây, trên cánh đồng này, chúng tôi đã khắc vào trang sử cái tên Borodino không bao giờ phai nhòa. Chưa từng có cuộc đấu tranh nào giằng co đến thế; chưa từng có trận đánh nào huy động nhiều quân đến vậy, hay gây nên nhiều thương vong đến thế trên một khoảng đất hẹp như vậy.
<i>Những gì còn lại của chiến trường (giầy của tử thi hầu hết bị lấy đi do lúc này giầy đang trở nên khan hiếm)</i>
Những gì còn lại của chiến trường (giầy của tử thi hầu hết bị lấy đi do lúc này giầy đang trở nên khan hiếm)
<i>Cây cầu bắc qua sông Kolotscha</i>
Cây cầu bắc qua sông Kolotscha
Chua chát và bi thương, Fantin des Odoards của Đội Cận vệ cho ta thấy cách cái chết đến với kẻ bị thương là như thế nào:
Bất chấp tốc độ rút lui, người Nga vẫn kịp chôn cất tử sĩ của họ, cũng như những thương binh đã chết dọc đường. Thật đáng suy ngẫm: những con người mà chúng ta từng khinh miệt, cho là kém văn minh, lại tỏ ra quan tâm hơn nhiều đến thương binh và bày tỏ sự kính trọng đối với người đã khuất — hơn cả chúng ta, những kẻ tự hào là người Pháp văn minh. Chúng ta bỏ mặc thương binh cho chết dần vì thiếu thốn, và chỉ chịu chôn cất những xác chết nào chắn lối đi của mình. Còn về sự thờ ơ đối với thương binh địch rơi vào tay ta thì quả thật vượt ngoài mọi sự hiểu nổi. Vô số kẻ bất hạnh ấy đã trút hơi thở cuối cùng trên mảnh đất đẫm máu của họ; những lời kêu van, khẩn thiết của họ chẳng làm lay động được trái tim các binh sĩ chúng ta, những kẻ đi qua một cách vô cảm. Những ai còn sống sót giờ đây chỉ còn biết cắn răng chịu đựng; không thể cựa mình hay bò đi, họ quấn mình trong áo choàng lớn và lặng lẽ chờ đợi định mệnh.
Moscow giờ đã hiện hữu ngay trước con mắt của Napoleon, nhưng Borodino chẳng có giá trị gì lớn lao hay đặc biệt đối với quân Pháp, họ chẳng thu được gì nhiều sau trận chiến, đây đơn giản chỉ là một cuộc thảm sát mà chính người Pháp cũng phải bị bất ngờ trước sự gan dạ của người Nga, kết quả lâu dài của trận đánh do ông nêu lên cũng không có cơ sở. Việc giành chiến thắng ở Borodino để chiếm được thành Moscow chỉ khiến cho lúc ông nhận ra ý chí người Nga không dễ dàng bị khuất phục càng thêm cay đắng. Nhưng trước tiên ông phải đánh chiếm được Moscow, ồ không, cánh cổng thành đang mở!
Shevardino ngày 5 tháng 9 năm 1812
Borodino ngày 7 tháng 9 năm 1812