CUỘC CẢI TẠO CÔNG THƯƠNG NGHIỆP TƯ BẢN TƯ DOANH TẠI VIỆT NAM SAU 1954 QUA GÓC NHÌN CỦA "CHẮP NHẶT DÔNG DÀI" - TẠ ĐÌNH THÍNH
Lời quê chắp nhặt dông dài / Mua vui cũng được một vài trống canh
I, Tác giả
- Tạ Đình Thính (27/06/1943 – 20/11/2024 có tài liệu ghi là 23/11/2024).
-Quê quán: Đại Định, Tam Hưng, Thanh Oai, Hà Đông.
-Bút danh: Đại Định.

Chắp nhặt dông dài tập 2 - cải tạo CTNTBTD
-Là cháu họ của anh hùng huyền thoại Tạ Đình Đề - cận vệ Bác Hồ.
-PTS. Tại Tiệp Khắc (Slôvakia), năm 1980.
-Nơi từng công tác: Tổng cục Thống Kê, Ủy Ban quốc gia Dân số, Phủ Thủ tướng, Chuyên gia tư vấn tại Ban Nghiên cứu của Thủ tướng và Văn phòng Trung ương Đảng.
II, Tác phẩm
-Được xuất bản lần đầu tiên vào năm 2018 bời nhà xuất bản Hội Nhà Văn.
-Nội dung: Tác phẩm là tập hợp những ghi chép, quan sát và suy ngẫm của tác giả về cuộc cải tạo công nghiệp tư bản tư doanh tại miền Bắc và miền Nam.
-Ý nghĩa: Tên gọi “Chắp nhặt dông dài” (lấy cảm hứng từ câu thơ trong truyện Kiều của Nguyễn Du: “Lời quê chắp nhặt dông dài /Mua vui cũng được một vài trống canh”) thể hiện sự khiêm tốn của tác giả khi coi những tư liệu quý giá mình thu thập được chỉ là những nhặt nhạnh đời thường.
III, Nội dung
Phần I: Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Bắc
*)Bối cảnh
Sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ và kí hiệp định Giơ ne vơ, đất nước ta tạm thời chia cắt làm 2 miền, lấy vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời. Chính quyền và quân đội Pháp rút khỏi miền Bắc, tạo điều kiện cho Bắc Việt Nam hoàn toàn giải phóng và bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội.
*) Nội dung:
-Cuối năm 1954, đầu năm 1955, tình hình kinh tế xã hội vẫn lộn xộn. Ngay sau khi tiếp quản, giá hàng hóa bị đẩy lên và tiền Đông Dương đã đi vào chợ đen nhập hàng ở khu vực tập kết Hải Phòng.
-Trước tình hình đó, Chính phủ tiến hành đổi tiền Đông Dương nhằm thống nhất tiền tệ trong nước nhằm vô hiệu hóa quyền lực kinh tế của tầng lớp tư sản cũ và kiểm soát lạm phát.
-Chế độ cung cấp gạo theo thẻ gia đình ở các thành thị được ban hành.
-07/1955: Thi hành biện pháp thống nhất bán muối ở các thành thị.
-Lương thực thực phẩm và hàng tiêu dùng thông thường thiếu nghiêm trọng.
-Ngành buôn vải, hàng bách hóa và các hàng công nghệ khác dù nhu cầu ngày một tăng, giá thị trường trước mắt còn hạ không thể duy trì được, Nhà nước đã chủ trương đánh thuế tồn kho theo những loại hàng chủ yếu và điều chỉnh lại giá, đi đôi với việc ban hành nhiều loại thuế khác.
-Đối với CNTBTD và TCN, để đáp ứng nhu cầu của xã hội, Nhà nước đã giúp một số tư sản mua lại một số xí nghiệp của nước ngoài, khiến sản lượng sản xuất tăng trong 1 thời gian ngắn.
-Theo thống kê cuối năm 1957, toàn miền Bắc có 214.855 hộ CTNTD trong đó số hộ CN, TCN chiếm 19,3%, thương nghiệp 51,5%, ăn uống 15%, dịch vụ 12,3%, còn lại là vận tải. Lực lượng kinh tế này đã đóng góp đáng kể vào việc khôi phục đất nước giai đoạn mới hòa bình, đang bước vào giai đoạn phát triển.
-19/04/1958: Ban Bí thư ra chỉ thị số 79-CT-CW xác định năm 1958 là năm đầu của kế hoạch 3 năm, trong đó cải tạo kinh tế quốc dân theo CNXH là một nội dung quan trọng.
-02/07/1959: Ban Bí thư ra quyết định số 77-NQ-TW chính thức thành lập Ban cải tạo công thương nghiệp tư doanh Trung ương cử đồng chí Phạm Văn Đồng làm trưởng ban và đồng chí Đỗ Mười làm phó trưởng ban.
-13/08/1959: Chính phủ ban hành Nghị định số 299-TTg thành lập Văn phòng Cải tạo CTNTBTD tại Phủ thủ tướng để giúp TTCP (lúc này là đồng chí PVĐ):
+) Ban hành các chính sách thực hiện cải tạo CTNTBTD, thủ công nghiệp, thương nghiệp, tiểu thương, vận tải, ăn uống, phục vụ và các ngành kinh doanh về văn hóa.
+) Hướng dẫn các ngành, các cấp thực hiện đường lối, phương trâm, chính sách và kế hoạch cải tạo.
+) Theo dõi kiểm tra, đôn đốc các ngành, các cấp trong việc thực hiện đường lối, phương trâm, chính sách và kế hoạch cải tạo.
- Thủ tướng phủ yêu cầu các cơ quan thông tin bám sát chỉ đạo của Ban Bí thư, vẫn coi giai cấp tư sản dân tộc là một bộ phận trong nhân dân, một thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, để tranh thủ giai cấp tư sản miền Nam đứng trong mặt trận thống nhất chống Mỹ-Diệm.
-07/03/1960: chỉ thị số 192-CT-TW ban hành một số văn bản để thực hiện chính sách với đảng viên, cán bộ, nhân viên nhà nước và nhân sĩ, trí thức, tư sản xin “hiến” tài sản trong cuộc vận động CTCTNTBTD.
Một số nhà tư sản, các dân trí trí thức hiến nhà, hiến tài sản: Trịnh Văn Bô, Sơn Hà, Đỗ Đình Thiện, Hàn Sóc, Hồng Khê, Ký Thung, Nguyễn Văn Khoát, Đỗ Thúc Phách, Hồ Đắc Điểm,….
-Từ tháng 06/1960, Chính phủ tập trung triển khai việc thực hiện Chỉ thị 213-CT-TW của Bộ Chính trị về chủ trương đối với một số vấn đề cụ thể trong công tác cải tạo CTNTBTD (thái độ với tư sản loại nhỏ, những phần tử ngoan cố, trây y chống đối cải tạo, việc cải tạo quán trọ, ăn uống…..).
-Đến cuối năm 1960, việc cải tạo XHCN ở miền Bắc căn bản đã hoàn thành, kinh tế tư nhân không còn trong đời sống miền Bắc, 100% hộ tư sản công nghiệp, 98% hộ tư sản thương nghiệp, hầu hết các phương tiện vận tải cơ giới đã được công tư hợp doanh hoặc liên doanh hợp tác xã.
*) Các hình thức cải tạo CTNTBTD:
-) Hình thức được áp dụng rộng rãi nhất là công tư hợp doanh (88,7%).
Đối tượng: Các xí nghiệp, cửa hàng tương đối lớn, có nhiều vốn, nhiều công nhân và các cơ sở kinh doanh thuộc ngành, nghề quan trọng, Nhà nước cần tham gia quản lý trực tiếp.
Nội dung: Nhà nước chuộc lại tư liệu sản xuất do người tư sản chiếm hữu, biến thành sở hữu Nhà nước và trực tiếp quản lý xí nghiệp, dưới sự lãnh đạo của cán bộ Nhà nước và công nhân trong xí nghiệp.
+) Đại lý cao cấp:
Đối tượng: Áp dụng cho các cơ sở thương nghiệp tư bản tư doanh nhỏ ở vùng miền núi, xa thị trấn ở đây không có cửa hàng mậu dịch quốc doanh và HTX mua bán, và cũng không có điều kiện đưa cán bộ Nhà nước đến trực tiếp quản lí kinh doanh.
Nội dung: Vốn của người tư sản được Nhà nước chuộc lại và trả tức, người tư sản được giao hàng mậu dịch quốc doanh bán hưởng tỉ lệ hoa hồng.
+) Ngân hàng quản lí vốn, người thì cơ quan Nhà nước sử dụng:
Đối tượng: Áp dụng cho những dược sĩ tư, có hai mặt. Một mặt là kinh doanh tư bản chủ nghĩa cần được xóa bỏ, mặt khác là người trí thức cần được cải tạo sử dụng tốt.
Nội dung: Vốn của họ do ngân hàng quản lí, người tư sản nói chung không được rút ra, chỉ được hưởng lợi tức do ngân hàng trả cho họ theo tỷ xuất gửi tiền tại ngân hàng.
+) Hút vào quốc doanh:
Đối tượng: Áp dụng cho một số ngành kinh doanh quan trọng, nhưng phạm vi kinh doanh nhỏ bé và phân tán không đủ điều kiện mở rộng thành đơn vị kinh doanh độc lập.
Nội dung: Vốn của người tư sản được xí nghiệp quốc doanh chuộc lại, trả tức, công nhân và người tư sản được xếp việc theo tài năng trong xí nghiệp quốc doanh.
-Xí nghiệp hợp tác (3,7%):
Đối tượng: Xí nghiệp công nghiệp của tư sản nhỏ, vốn ít, quy mô hoạt động nhỏ bé, trình độ sản xuất còn thấp kém, Nhà nước trực tiếp tham gia quản lý không lợi.
Nội dung: Tập thể công nhân trong xí nghiêp trực tiếp chuộc lại tư liệu sản xuất do người tư sản chiếm hữu biến thành sở hữu tập thể, và nắm quyền quản lí xí nghiệp, người tư sản được hưởng lãi hàng năm được coi là một thành viên trong tổ chức tập thể và được tham gia vào ban quản trị xí nghiệp.
Chế độ chiếm hữu TBCN về tư liệu sản xuất trong các xí nghiệp TBTD bị xóa bỏ về căn bản, Chế độ xã hội hóa về tư liệu sản xuất được xác lập dưới hai hình thức: Sở hữu nhà nước (sở hữu toàn dân) và sở hữu của tập thể nhân dân lao động.
-02/1961:
• Nghị định số 15-CP Điều lệ về tổ chức xí nghiệp hợp tác nhằm cải tạo XHCN đối với CTNTBTD.
• Chỉ thị số 12-CT-TW của BBT về việc củng cố và đẩy mạnh sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp công tư hợp doanh.
-Năm 1976, ĐHĐBTQ lần thứ IV của Đảng đã hoạch định đường lối chung của cách mạng XHCN ở VN trong giai đoạn mới, nhấn mạnh nhiệm vụ cải tạo CTNTBTD.
Phần II: Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam
*) Bối cảnh
Sau năm 1975, đất nước bước vào kỷ nguyên độc lập, thống nhất nhưng phải đối mặt với những thách thức cực kỳ gay gắt. Di sản chiến tranh nặng nề, sự bao vây cấm vận của Mỹ và các cuộc xung đột biên giới đã đẩy nền kinh tế vào tình trạng kiệt quệ.
*) Nội dung
-Ngay khi giải phóng miền Nam, về kinh tế tiền hành quốc hữu hóa các cơ sở của Mỹ-Ngụy, tiếp theo là đánh tư sản mại bản.
-Cuộc cải tạo ở miền Nam có thể tạm chia thành 4 giai đoạn:
+) Tịch thu quốc hữu hóa các cơ sở kinh tế của Mỹ-Ngụy.
+) Xóa bỏ tư sản mại bản.
+) Đánh gian thương và đầu cơ tích trữ.
+) Cải tạo công thương nghiệp tư nhân.
-Cải tạo giai đoạn này gắn liền với tên tuổi của các đồng chí Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười. 3 đồng chí lần lượt làm Trưởng Ban Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư nhân Trung ương.
2.1. Đồng chí Nguyễn Văn Trân (giai đoạn 25/08/1975 – 13/07/1977)
-Đồng chí Nguyễn Văn Trân là Trưởng ban theo Nghị quyết số 256-NQ-TW ngày 25/08/1975. Giai đoạn này chủ yếu là hình thành chính sách và thực thi đánh tư sản mại bản và vài hoạt động phối hợp khác và cũng có tiến hành cải tạo ở vài ngành.
-Trưởng ban: Nguyễn Văn Trân, Phó trưởng ban: Huỳnh Trí Mạnh, Nguyễn Văn Thao, Vũ Quang, Ủy viên thường trực: Lê Khánh, Nguyễn Minh Đường và Đặng Mai.
-Lê Khánh có tên là Lã Triều Phu, con trai Tri phủ Ninh Bình Lã Vĩnh Quyên. Từng là Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, Phó Ban Kinh tế trung ương. Tác giả (Tạ Đình Thính) quan hệ nhiều với ông trong công việc cũng như tình cảm thông thường.
-Nhiệm vụ của Ban cải tạo trung ương:
+) Giúp TW nghiên cứu ban hành chính sách cần thiết trong quá trình cải tạo CTNTBTD, cải tạo thủ công nghệ và thủ công nghiệp, cải tạo tiểu thương cùng một số ngành kinh doanh khác như vận tải, xây dựng, ăn uống phục vụ, khách sạn, nhà cửa và kinh doanh về văn hóa, y tế.
+) Hướng dẫn các ngành, các tỉnh thành thực hiện đường lối, phương châm, chính sách và kế hoạch cải tạo.
+) Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các ngành, các địa phương.
-Ban Cải tạo Trung ương đặt cạnh Ban đại diện Trung ương đảng và Chính phủ để giúp trung ương theo dõi việc thực hiện chủ trương đường lối, chính sách và để giúp Ban đại diện chỉ đạo và phối hợp các cơ quan đại diện các Bộ, Tổng cục chỉ đạo công tác này.
-Sau 30/04/1975, Nhà nước đã nắm một số ngành kinh tế then chốt như ngân hàng, xuất nhập khẩu, lương thực, xăng dầu, nắm một số cơ sở công nghiệp, vận tải loại lớn và quan trọng… quản lí kho thế chấp, đã phá vỡ một mảng lớn trong hệ thống tổ chức độc quyền lũng đoạn của tư sản mại bản. Kết quả đã làm suy yếu thế lực của tư sản mại bản, đã đánh đổ uy thế của họ, quần chúng nhân dân và cán bộ, bộ đội phấn khởi.
-Sáng 10/09/1975, Ủy ban quân quản TP Hồ Chí Minh công bố chính sách và bắt giữ một số tư sản mại bản như: Mã Hỷ kinh doanh lúa gạo, Lưu Tú Dân vải vóc, Bùi Văn Lự phụ tùng xe máy, Hoàng Kim Quy thầu kẽm gai, Trần Thiện Tứ xuất cảng cà phê…..
-Ngày 21/09/1975 tiền miền Nam phải đổi thành tiền giải phóng với tỉ lệ quy đổi: 1đ giải phóng bằng 500đ miền Nam.
-Năm 1976, tiếp theo là một trận đánh nữa tập trung vào đánh tư sản Hoa kiều như bắt Đào Tắc Kinh, Lý Hơn, Lâm Huy Hồ, Dương Hải, Trang Trinh Nguyên, Mã Tuyền, Trần Thanh Hà, Trần Liệt Hồng, Lý Hân. Tòa án nhân dân đặc biệt đã xét xử và bỏ tù 1 số tư sản mại bản như Hoàng Kim Quy bị xử 20 năm tù và tịch thu toàn bộ tài sản (vị này là một nhà tư sản lớn chạy từ Bắc vào Nam năm 1954). Ngoài ra còn một số bị xử tù như: Lưu Trung, Lý Sen, Trương Dĩ Nhiên…
-15/07/1976, BCT đã có Nghị quyết số 254 về công tác trước mắt ở miền Nam, trong đó có nêu bật lên một nhiệm vụ quan trọng là gấp rút xóa bỏ nốt giai cấp tư sản mại bản và tàn dư của giai cấp địa chủ phong kiến , tiến hành cải tạo XHCN từng bước CTNTBTD và chuẩn bị điều kiện cải tạo toàn bộ nền kinh tế.
-30/10/1976, chỉ thị của TTCP Phạm Văn Đồng số 433/TTg về việc kiên quyết đấu tranh chống bọn tư sản gian thương lớn ở miền Nam.
2.2. Đồng chí Nguyễn Văn Linh (giai đoạn 14/07/1977 – 16/02/1978)
-14/07/1977, TW đã có Quyết định số 208-NQ-NS/TW do TBT Lê Duẩn ký về nhân sự của Ban Cải tạo CTNTB tư nhân TW. Theo đó, BCT quyết định:
+) Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Ủy viên BCT TW làm trưởng Ban Cải tạo CTN tư doanh TW thay đồng chí Nguyễn Văn Trân đi nhận nhiệm vụ khác.
+) Các phó Ban:
• Võ Văn Kiệt, Ủy viên dự khuyết BCT, Bí thư thành ủy TPHCM.
• Phạm Văn Kiết, UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương.
• Trần Phương, UVDKTWĐ, thứ trưởng Bộ Nội thương.
+) Các ủy viên Ban:
• Nguyễn Văn Thao, Chủ nhiệm Ban Liên hiệp hợp tác xã thủ công nghiệp và tiểu công nghiệp Trung ương.
• Vũ Quang, Thứ trưởng Bộ GTVT.
• Huỳnh Thanh Mua, nguyên Bí thư Đảng ủy các cơ quan Trung ương cục miền Nam.
-Trong kì họp tháng 2 năm 1977, BCT chỉ thị phải hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ cải tạo XHCN đối với CTNTBTD trong hai năm 1977 và 1978.
-Thi hành chỉ thị của BBT, Ban Kinh tế TW lại cử 1 đoàn gồm 8 người do Lê Đông, Phó ban làm trưởng đoàn đi kiểm tra công tác cải tạo CTNTBTD tại TPHCM từ 09/05/1977.
-29/07/1977, ông Nguyễn Duy Trinh ký chỉ thị của BCT về tiêu chuẩn hướng dẫn xác định thành phần tư sản công nghiệp.
2.3. Đồng chí Đỗ Mười (giai đoạn 16/02/1978 – 08/1983)
-16/12/1978, TBT Lê Duẩn giao cho đồng chí Đỗ Mười thay đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Trưởng Ban Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư nhân Trung ương, đặt đại bản doanh ở Trường Hành chính quốc gia Thủ Đức.
-Đồng chí Đỗ Mười là Trưởng ban từ 16/02/1978 đến khi ban kết thúc nhiệm vụ (08/1983)
-03/05/1978 lại đổi tiền: 1đ miền Bắc bằng 1đ tiền thống nhất, cũng thời gian đó ở miền Nam 1đ giải phóng bằng 0,8đ tiền thống nhất
-Chính sách công tư hợp doanh, khác với miền Bắc, ở miền Nam, đề nghị áp dụng phổ biến chính sách chia lãi theo vốn tùy theo tình hình phát triển kinh doanh, sản xuất của xí nghiệp công tư hợp doanh. Tuy vậy, mức lãi chia cũng có khống chế, đảm bảo sao cho vốn được hưởng tỷ lệ lãi từ 8-10%, vốn huy động thêm được hưởng tỷ lệ cao hơn vốn góp trước.
-Ở miền Bắc trước đây, áp dụng chính sách chia lãi theo các ngành: công nghiệp: 6-8% trên vốn, chủ yếu là 7%, vận tải 8% trên vốn, thương nghiệp 5-7%, phổ biến ở mức 6%.
-Chính sách hiến, trước đây ở miền Bắc, chấp nhận cho hiến một cách chặt chẽ, chỉ bó hẹp trong một số đối tượng. Nhưng ở miền Nam, trong hoàn cảnh mới của cả nước, có thể chấp nhận cho hiến một cách rộng rãi hơn ở miền Bắc.
-17/06/1980, theo Thông báo của BBT số 14-TB/TW, BBT TWĐ quyết định:
+) Thành lập Ban tổng kết công tác cải tạo CTN tư doanh ở miền Nam do đồng chí Đỗ Mười, UVDKBCTTWD, PTTCP, Trưởng ban Cải tạo CTN tư doanh TW làm trưởng ban.
+) Các đồng chí có tên sau thuộc các ban của TWĐ là thành viên của Ban Tổng kết công thương nghiệp:
• Ban cải tạo CTN tư doanh TW: Lê Trung Toản, Vũ Quang, Nguyễn Văn Thao.
• Ban Kinh tế - Kế hoạch TW: Huỳnh Bá Vân.
• Ban Công nghiệp TW: Hoàng Hữu Nhân.
-BBT yêu cầu Ban Tổng kết gửi báo cáo tổng kết đến BBT trước ngày 25/12/1980.
-29/10/1980, đồng chí Lê Thanh Nghị ký quyết định số 83-QĐ/TW thành lập Ban tổng kết công tác cải tạo CTN tư doanh ở miền Nam.
-Vào đầu những năm 80s của thế kỉ trước tình hình đất nước đứng trước những khó khăn bội phần. Sau năm 1979, bị cấm vận, kinh tế rơi vào khủng hoảng, dự trữ ngoại tệ không có, liên tục bội chi ngân sách, giá cả leo thang hàng ngày… đời sống của hầu hết các tầng lớp dân cư giảm sút.
-Trong cùng khoảng thời gian đó, đồng chí Nguyễn Văn Linh lại được phân trở lại làm Bí thư thành ủy TPHCM để đồng chí Võ Văn Kiệt ra Hà Nội giữ chức Phó chủ tịch HĐBT, kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước.
-Từ đầu năm 1982 đến tháng 08 năm 1983, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ V, TWĐ, Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, Pháp lệnh và Quyết định để uốn nắn các lệch lạc, sửa đổi các chính sách kinh tế và chế độ quản lí đã lỗi thời. Hội đồng Nhà nước đã ban bố pháp lệnh về trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả và kinh doanh trái phép, về thu thuế công thương, thuế nông nghiệp, BCT đã ra Nghị quyết 01 về công tác của TPHCM, số 08 về công tác của thủ đô Hà Nội. Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định 146 bổ sung và sửa đổi Quyết định 25/CP, Quyết định 113 về quản lí xuất nhập khẩu địa phương, Quyết định 151 về ‘quà biếu” của người Việt Nam định cư ở các nước ngoài hệ thống XHCN gửi về cho gia đình, Nghị quyết 187 về hợp đồng kinh tế hai chiều, Nghị quyết 188 về tăng cường thương nghiệp XHCN và quản lí thị trường, Quyết định 172 về công tác ngân hàng, Quyết định 133 về khuyến khích sản xuất tiểu thủ công nghiệp, Quyết định 120 về tổ chức và sắp xếp lại sản xuất công nghiệp….
=> Từ sau Đại hội lần thứ V của Đảng, đất nước ta có những chuyển biến tích cực, những tiến bộ mới theo hướng đi lên ngày càng vững chắc
-Trong hai ngày 12 và 13 tháng 8 năm 1983, đồng chí Đỗ Mười, thay mặt thường vụ Hội đồng Bộ trưởng báo cáo về tình hình và nhiệm vụ tiếp tục cải tạo XHCN đối với công thương nghiệp tư doanh: Đảng đã lãnh đạo công cuộc cải tạo toàn diện, sâu sắc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở miền Nam và đã đạt được những thắng lợi to lớn trên các mặt, trước hết và cơ bản nhất là đất nước hoàn toàn độc lập, tự do, thống nhất; nhân dân trở thành người làm chủ tập thể. Trong những thắng lợi đó, công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư doanh cũng đạt được thành tựu quan trọng, Nhà nước đã nắm và quản lý trực tiếp các ngành kinh tế then chốt, nhiều cơ sở kinh tế quan trọng; nắm độc quyền ngoại thương, quốc hữu hóa ngành vận tải đường sắt, đường biển, đường hàng không; quốc hữu hóa ngân hàng tư nhân; độc quyền phát hành tiền tệ; thống nhất quản lý các mặt hàng thiết yếu; xóa bỏ kinh tế của tư sản mại bản; trừng trị tư sản gian thương lớn; cải tạo một bộ phận quan trọng công thương nghiệp tư bản tư doanh; đưa một bộ phận tiểu thủ công nghiệp vào các hình thức tập thể hóa từ thập đến cao, tổ chức sắp xếp cải tạo và sử dụng một bộ phận những người buôn bán nhỏ trong một số ngành hàng thiết yếu.
-13/09/1983, đồng chí Trường Chinh ký Nghị quyết số 14-NQ của BCT về tình hình và nhiệm vụ cải tạo XHCN với CTN tư doanh giúp Nhà nước siết chặt kỷ cương, giành lại thế chủ động quản lý thị trường và củng cố kinh tế quốc doanh.
-Sau những nỗ lực ổn định đất nước sau năm 1983, trước những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế và sự bao vây cấm vận, Đảng ta đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật để tự đổi mới mình. Đại hội VI (12/1986) đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại khi Đảng quyết định chuyển dịch sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước. Đây là quyết sách mang tính lịch sử, thể hiện bản lĩnh và sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin của Đảng vào thực tiễn Việt Nam, nhằm giải phóng sức sản xuất, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và bước vào kỷ nguyên phát triển rực rỡ theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Quan điểm - Tranh luận
/quan-diem-tranh-luan
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất
