CÚNG VIỆC LỀ LÀ GÌ?
Cúng Việc lề hay còn được gọi là cúng Vật lề, là nghi thức cúng tổ tiên của người dân ở một số tỉnh Nam Bộ. Nghi thức này là một nét đặc trưng chỉ có thể thấy ở khu vực miền Nam Việt Nam. Lễ cúng này là một đám giỗ hội cũng như dịp đặc biệt để con cháu gần xa tụ họp về và tưởng nhớ tổ tiên, dòng họ - những người đã kiến thiết nên mảnh đất cho thế hệ sau. 
Chữ “lề” ở đây, giống như trong câu tục ngữ “Đất có lề, quê có thói”, đều chỉ những thói quen đã thành nếp, thành lệ. Cúng Việc Lề là một nghi lễ truyền thống đã trở thành nét văn hóa đặc trưng của các dòng họ ở Nam Bộ. Lễ cúng này bắt nguồn từ thời kỳ khai phá vùng đất phương Nam, khi tổ tiên ta vừa đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng cuộc sống mới. Tuy vậy, không phải dòng họ hay gia đình nào cũng thực hiện cúng Việc lề, bởi nguồn gốc của nghi thức này có mối liên hệ sâu sắc tới thời kỳ khai hoang lập ấp ở khu vực đồng bằng Nam bộ.
NGUỒN GỐC CỦA CÚNG VIỆC LỀ
Chỉ có những dòng họ mà xưa kia tổ tiên là người từ vùng Ngũ Quảng (gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Quảng Đức (Huế ngày nay)) đi khẩn hoang miền Nam mới có tục cúng Việc lề. Trong số những người đi khai khẩn miền Nam ngày ấy, ngoài quan lại triều đình được chúa Nguyễn cử đi thì còn có cả những người lao động nghèo, do không chịu được cảnh cơ cực của chiến tranh và chế độ phong kiến triều Nguyễn, họ buộc lòng phải rời bỏ quê hương, lưu lạc đến vùng đất phía Nam xa xôi để tìm con đường sống. Bên cạnh đó, những người tù tội phải chịu cảnh lưu đày hay những người trốn sưu thuế cũng đã tìm cách để lưu vong. Chính vì vậy, nhiều dòng họ trong khu vực Nam Bộ đã quyết định không viết gia phả (trừ những gia đình quan lại). Ngoài ra, nhiều người ngày ấy khi di cư về phía Nam cũng đã thay tên đổi họ, có cả trường hợp gia đình đông anh em nhưng khi di cư mỗi người lại lấy một họ khác nhau rồi sinh sống ở những khu vực khác nhau. Tuy con cháu đời sau vẫn được nhắc về nguồn cội gốc gác của dòng họ, nhưng việc không có ghi chép gia phả khiến người cùng dòng họ khi xưa khó có cơ hội để nhìn nhận lại nhau. Bởi vậy, cúng Việc lề đóng vai trò như một “gia phả sống” của cả một dòng họ, một “mật mã” mà chỉ những người có cùng gốc gác mới có thể nhận ra. 
NGHI THỨC CÚNG VIỆC LỀ
Có thể nói cúng Việc lề là một hoạt động tín ngưỡng rất riêng tư và đặc trưng cho từng dòng họ như một hình thức ghi “gia phả sống”, bởi mỗi họ sẽ có những quy ước về ngày cúng và thức cúng khác nhau. Ngày cúng ở mỗi họ sẽ không giống nhau, nhưng thường sẽ đều diễn ra sau mùng Một tết Nguyên đán và có thể kéo dài đến mùng Mười. Con cháu trong dòng họ sau này có thể linh hoạt điều chỉnh thời gian để tránh trùng với các lễ cúng khác, miễn là vẫn giữ trong khoảng 10 ngày Tết, đảm bảo sự thuận tiện và phù hợp với truyền thống.
Tuy vậy, ngày cúng vẫn có thể trùng giữa các họ do số lượng dòng họ có thực hiện cúng Việc lề tại Nam Bộ khá nhiều. Vậy nên bên cạnh ngày cúng đặc trưng thì sự khác biệt trong thức cúng cũng là yếu tố để phân biệt gốc gác giữa các dòng họ. Một số dòng họ cúng 3 con cua, 3 con ốc, hoặc cúng rắn nướng.  Các món ăn không phải là thức cúng duy nhất được sử dụng trong lễ cúng Vật lề. Một số dòng họ còn cúng da voi, da trâu hoặc hình nhân. Những vật cúng này đều mang một ý nghĩa riêng, thường tượng trưng cho truyền thống về nghề nghiệp từ thuở sơ khai hoặc gốc gác của dòng họ đó. Chính vì những đặc trưng này mà cúng Việc lề như là một “mật ngữ” để những người có cùng gốc gác có thể nhận ra nhau dù mang họ khác nhau. Bởi lẽ này mà người ta còn gọi cúng Việc lề là cúng Vật lề (Vật ở đây đang chỉ vật cúng).
Bên cạnh những thức cúng đặc trưng cho từng dòng họ thì cũng có những món mà mâm cúng Việc lề nào cũng đều sẽ có. Ví dụ điển hình gồm cháo cá ám và cá lóc nướng trui, với phần cá lóc được sử dụng phải đảm bảo chỉ đánh vảy và cạo nhớt, không chặt bỏ vi, kỳ và đuôi. Điều này nhằm tưởng nhớ đến những tháng ngày gian khổ của cha ông thuở đầu khai hoang, khi họ phải bắt đầu từ hai bàn tay trắng, không có lấy một dụng cụ sinh hoạt nào để hỗ trợ. Luật bất thành văn trong lễ cúng Việc lề là con cháu trong nhà đều phải ăn món cháo này, bất kể vị có ra sao, để có thể hiểu được phần nào đời sống của cha ông xưa cũng như là một hình thức để tưởng nhớ đến tổ tiên. 
Một đặc trưng khác mà chỉ có thể thấy ở lễ cúng Việc lề đó chính là mâm cúng sẽ được đặt ở sân nhà chứ không để ở trong nhà. Nguyên nhân xuất phát từ thuở đi khẩn hoang, tổ tiên bấy giờ chỉ mới dựng lán, lều để sinh sống chứ chưa lợp nhà, vậy nên mọi hoạt động sinh hoạt kể cả những bữa cơm hàng ngày đều diễn ra ở ngoài trời. Việc đặt mâm cúng ngoài sân cũng nhằm tái hiện lại những bữa cơm của tổ tiên xưa.
Sau lễ cúng, gia đình sẽ thả bè chuối với ý nghĩa để tiễn đưa tổ tiên về quê cũ. Họ dùng thân cây chuối kết thành chiếc ghe nhỏ, trên ghe bày những thức cúng tượng trưng cho những vật cần thiết trong quá trình ông bà di cư vào Nam bằng đường biển như muối, gạo và nước ngọt. Ghe sẽ được thả ra sông, rạch gần nhà, nếu không có thì có thể thả ở ngã ba đường nhằm tưởng nhớ tổ tiên năm xưa đã trải qua nhiều khó khăn, nguy hiểm để vượt biển vào Nam khai hoang lập nghiệp. 
Cúng Việc lề qua thời gian cũng đã có nhiều sự thay đổi để phù hợp với hoàn cảnh gia đình và thời đại, song truyền thống này vẫn được nhiều gia đình ở Nam Bộ gìn giữ đến tận bây giờ. Chính nhờ những nét đặc trưng ấy mà cúng Việc lề được xem như là một “mật ngữ” nhằm giúp người cùng gốc gác nhận diện lẫn nhau. Không chỉ vậy, tục cúng Việc lề còn là một trong những minh chứng rất rõ ràng cho truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của con người Việt Nam. Với những giá trị vô cùng to lớn về mặt văn hóa ấy, năm 2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã quyết định đưa tục cúng Việc lề vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
NGUỒN THAM KHẢO:
Cục Di sản văn hóa (n.d.). Tục cúng Việc lề ở Long An. Truy cập ngày 26/01/2025, từ https://s.net.vn/hXkq