1, Thiết lập án lệ Fox Varian đã có một tuổi thơ đầy sóng gió. Cha mẹ cô ly thân khi cô mới 7 tuổi, châm ngòi cho một cuộc chiến giành quyền nuôi con kéo dài ba năm, và điều này khiến cô trở nên xa cách với cha mình. Cô dần lún sâu vào các vấn đề tâm lý/hội chứng khác như trầm cảm, lo âu, ám ảnh sợ xã hội cho đến rối loạn ăn uống và mặc cảm ngoại hình.
Fox Varian trong vai diễn Claudia trong phim The Great God Pan
Fox Varian trong vai diễn Claudia trong phim The Great God Pan
Lúc 15 tuổi, cô bắt đầu đặt câu hỏi về giới tính của mình trong các phiên trị liệu với nhà tham vấn tâm lý K. Einhorn. Sau đó, cô đổi tên sang thành Gabriel vì cô cho rằng cái tên ấy là phi giới tính. Trong hai tháng tiếp theo, cô bắt đầu quá trình chuyển giới xã hội: cắt tóc ngắn, dùng băng bịt ngực, đổi tên một lần nữa thành Rowan và bắt đầu nói với mọi người rằng mình là người chuyển giới. Rồi chỉ sau 9 tháng, nhà tham vấn của cô đã cấp thư giới thiệu phẫu thuật chuyển giới, bỏ qua mọi bước sàng lọc cốt yếu về sức khỏe tâm thần. Lá thư giới thiệu này chỉ vỏn vẹn 3 đoạn văn với nhiều sai sót, trong khi bác sĩ phẫu thuật Simon Chin chỉ gặp Fox tổng cộng 2 lần, mỗi lần 30 phút trước khi cắt bỏ tuyến vú (double mastectomy) vào tháng 12 năm 2019 — một đại phẫu vốn chỉ dành cho bệnh nhân ung thư vú. Đó là chăm sóc định giới (gender affirming care) đấy các bạn ạ. Liệu có quá quắt nếu gọi những kẻ giới thiệu "lỘ tRìnH ChăM sÓc sứC kHỏE" tâm thần cũng như thể xác, những kẻ trục lợi hàng triệu đô mỗi tháng từ việc mổ xẻ cơ thể của trẻ vị thành niên là lang băm? Tại phiên tòa, cô thẳng thắn thừa nhận về tình trạng của bản thân khi đó: "Lúc đó tôi mới chỉ 16 tuổi và rõ ràng là đã bị bệnh tâm lý rất, rất nặng. Tôi rõ ràng chưa đủ chín chắn để đưa ra quyết định phẫu thuật, và chắc chắn là không đủ chín chắn để đối mặt những hệ quả sau đó."
Sự cẩu thả chuyên môn còn nằm ở cách Einhorn sử dụng rủi ro tự tử để cưỡng ép mẹ của Fox. Mẹ của Fox khai tại tòa rằng Einhorn từng quát bà: "Bà có đang sống trong thực tế không thế?" khi bà bày tỏ sự do dự. Bà chia sẻ: "Nếu không có việc Einhorn liên tục, nhấn mạnh và kiên quyết thúc ép tôi, nói rằng điều này sẽ 'chữa khỏi' cho con gái tôi, tôi sẽ không bao giờ đưa ra quyết định đó." Ngay cả nhà tham vấn Einhorn cũng thừa nhận tại tòa rằng ông không thực sự tin Varian có nguy cơ tự tử nghiêm trọng; vì trong ghi chú cá nhân, ông chỉ ghi nhận ý định tự tử của cô sau khi cuộc phẫu thuật đã hoàn tất.
Thậm chí, đội ngũ y tế còn ngó lơ các ghi chú từ Trung tâm Pride Center — nơi Fox từng thú nhận cảm thấy "lạc lối" và chịu áp lực phải chọn bản dạng nam giới chỉ 4 tháng trước mổ. Mẹ của Fox nhớ lại rằng cuộc phẫu thuật không hề giúp ích: "Nó vẫn gặp phải tất cả những vấn đề cũ như trước", nhưng giờ đây, Fox còn xuất hiện thêm các hành vi tự hại. Suốt 3 năm sau đó, vì sự xấu hổ và mâu thuẫn nhận thức, Fox đã giữ kín sự hối hận cho đến khi quyết định quay lại với giới tính sinh học (detransition). Varian cay đắng nói: "Thật khó để đối mặt với việc bản thân bị biến dạng suốt đời. Không có bất kỳ cách thức có thể mang lại những gì tôi đã mất". Cô phải đối mặt với tổn thương dây thần kinh vĩnh viễn, tình trạng mất cảm giác và sự thật rằng mình sẽ không bao giờ có thể nuôi con bằng sữa mẹ. Sau 3 tuần xét xử, ngày 30 tháng 1 năm 2026, bồi thẩm đoàn tại New York đã tuyên Fox Varian thắng kiện với tổng số tiền bồi thường 2 triệu USD. Phán quyết được phân định cụ thể: 1,6 triệu USD bồi thường cho những đau đớn về thể xác và tinh thần trong quá khứ lẫn tương lai; 400.000 USD còn lại dành cho các chi phí y tế và phẫu thuật tái tạo sau này. Bồi thẩm đoàn xác định nhà tham vấn Einhorn chịu 70% lỗi và bác sĩ Chin chịu 30% lỗi. Phán quyết này không chỉ là sự đền bù cho những biến dạng cơ thể, mà còn là lời khẳng định rằng hệ thống y tế đã thất bại trong trách nhiệm bảo vệ và điều trị đúng đắn cho những trẻ em dễ bị tổn thương nhất.
Phán quyết thắng kiện của Fox Varian thắp lên hy vọng cho gần 30 vụ kiện dân sự tương tự tại Mỹ và trên toàn thế giới. Trong số đó, Chloe Cole, một người giải chuyển giới tại Mỹ đang đâm kiện hệ thống y tế Kaiser Permanente tại California, chia sẻ rằng: "Điều này mang lại cho tôi thêm hy vọng rằng tôi sẽ đòi lại được công lý cho chính mình".
Những chia sẻ (kèm theo phụ đề Việt) về quá trình giải chuyển giới từ youtuber "The Monologue"
Đáng chú ý nhất, ta có thể kể đến: - Vụ kiện của Jay Langadinos tại Úc VS nhà tham vấn tâm lý Patrick Toohey. Cô cáo buộc ông đã sai sót chuyên môn khi đồng ý cho cô cắt bỏ tử cung và dùng hormone chỉ sau vài buổi tư vấn ngắn ngủi, phớt lờ các vấn đề tâm lý sẵn có. - Vụ kiện của Michelle Zacchigna tại Canada VS một đội ngũ gồm 8 bác sĩ và nhà tâm lý. Cô cáo buộc họ đã để cô "tự chẩn đoán" và vội vã can thiệp y khoa mà không sàng lọc kỹ các hội chứng ADHD, trầm cảm và rối loạn nhân cách ranh giới (BPD). - Vụ kiện lịch sử của Keira Bell tại Anh Quốc VS phòng khám Tavistock. Đây là phát súng đầu tiên chấn động châu Âu, dẫn đến bản báo cáo Cass Review và quyết định đóng cửa phòng khám giới tính nhi khoa lớn nhất thế giới này vào năm 2024.
2. Tài liệu WPATH và tài liệu pháp lý (Exhibit 190)
WPATH (Hiệp hội Chuyên gia Thế giới về Sức khỏe Chuyển giới) hiện là tổ chức nắm quyền thiết lập các tiêu chuẩn điều trị y tế cho người chuyển giới trên toàn cầu, trong đó phiên bản Tiêu chuẩn chăm sóc SOC8 là văn bản nền tảng đang thúc đẩy mô hình "chăm sóc khẳng định giới" tại nhiều quốc gia. Thế nhưng, vào năm 2024, Tài liệu WPATH (WPATH Files) – một tập hồ sơ rò rỉ gồm hàng loạt email và ghi chép thảo luận nội bộ của tổ chức này – đã bị phanh phui, bóc trần sự mâu thuẫn tàn nhẫn giữa những tuyên bố khoa học công khai và những lo ngại thực tế về rủi ro y tế mà các chuyên gia này thừa nhận với nhau sau cánh cửa đóng kín.
Một trích đoạn phụ đề Việt phỏng vấn Michael Shellenberger về tài liệu WPATH
2A. Vận động thay vì Chẩn đoán:
Các hồ sơ nội bộ cho thấy WPATH thường xuyên tham vấn các luật sư và các tổ chức vận động (như ACLU hay HRC) để điều chỉnh ngôn ngữ trong SOC8 sao cho có lợi nhất trong các cuộc tranh tụng tại tòa án, thay vì tập trung vào an toàn cho bệnh nhân. Bằng chứng rõ ràng nhất cho sự tha hóa này là việc WPATH Files tiết lộ rằng các quan chức chính trị (như đô đốc Rachel Levine từ HHS) đã can thiệp trực tiếp vào việc xóa bỏ giới hạn độ tuổi trong SOC8. Việc một tổ chức y khoa sẵn sàng sửa đổi tiêu chuẩn khoa học để làm hài lòng các nhà tài trợ và chính trị gia đã biến WPATH từ một "hội đồng khoa học" thành một "cỗ máy tuyên truyền".
Nhân viên của Đô đốc Rachel Levine, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Mỹ, đã thúc giục WPATH loại bỏ các giới hạn độ tuổi được đề xuất khỏi hướng dẫn của tổ chức này.
Nhân viên của Đô đốc Rachel Levine, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Mỹ, đã thúc giục WPATH loại bỏ các giới hạn độ tuổi được đề xuất khỏi hướng dẫn của tổ chức này.
Dựa trên tài liệu pháp lý 190 (Exhibit 190) và các bằng chứng đã được công khai từ vụ kiện Boe v. Marshall, ta thấy được biết rằng: SOC8 và chiến lược đánh giá bằng chứng làm nền tảng cho các khuyến nghị của SOC8, đã được soạn thảo và diễn đạt nhằm mục đích sử dụng chủ yếu như một công cụ trước tòa án. Mục tiêu: Các văn kiện nội bộ đã đã chỉ ra rằng Nhóm Phát triển Hướng dẫn (GDG) của WPATH muốn thực hiện một đánh giá hệ thống sao cho đánh giá ấy sẽ "chỉ ra rất ít hoặc không có bằng chứng sẽ đặt chúng ta vào một vị thế bất lợi. Chúng ta cần một công cụ để các luật sư của mình (các vị luật sư công lý xã hội) có thể sử dụng trong việc bảo vệ quyền tiếp cận dịch vụ chăm sóc (các liệu pháp hóc-môn và phẫu thuật định giới) tại đây. Tôi đã mong muốn điều này (và nhiều tuyên bố chính sách khác của chúng ta) trở thành một phần của SOC từ lâu vì điều đó mang lại cho chúng hiệu lực lớn hơn."
2B. Chúng tôi nói dối vì muốn tốt cho cộng đồng LGBTIQIA+
Tài liệu pháp lý 190 (Exhibit 190) cũng chỉ ra rằng WPATH đã thiết lập một chính sách phê duyệt hai bước để sao cho: "bất kỳ ấn phẩm nào dựa trên dữ liệu WPATH SOC8 đều được xem xét và rà soát kỹ lưỡng để đảm bảo việc xuất bản không ảnh hưởng tiêu cực đến việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe chuyển giới theo nghĩa rộng nhất." Mục tiêu của chính sách phê duyệt này là:
A. Tập trung vào việc công bố các đánh giá/nghiên cứu mà họ mong đợi các kết luận ít nhất là có phần thuận lợi B. Không công bố các đánh giá có thể dẫn đến những câu hỏi về việc liệu các can thiệp nội tiết và phẫu thuật có nên được cung cấp rộng rãi hay không. C. ngăn chặn việc công bố kết quả khi các đánh giá bằng chứng do WPATH ủy nhiệm đưa ra những kết luận bất lợi về các phương pháp điều trị mà WPATH thúc đẩy.
Một ví dụ điển hình là một bài đánh giá hệ thống về bằng chứng được xuất bản sau khi chính sách phê duyệt hai bước mới của WPATH được áp dụng. Bài đánh giá hệ thống Baker et al., 2021 mang tất cả các dấu hiệu của sự can thiệp từ WPATH khẳng định lợi ích của các can thiệp nội tiết, nhưng kết luận này không được hỗ trợ bởi các phát hiện thực tế của bài đánh giá. Baker nêu rằng: "Mặc dù bằng chứng sẵn vẫn còn hạn chế, nhưng đánh giá của chúng tôi chỉ ra rằng liệu pháp hormone khẳng định giới có khả năng liên quan đến sự cải thiện về chất lượng cuộc sống, trầm cảm và lo âu. Không có nghiên cứu nào cho thấy liệu pháp hóc-môn gây hại cho sức khỏe tâm thần hoặc chất lượng cuộc sống của người chuyển giới. Những lợi ích này làm cho liệu pháp hóc-môn trở thành một thành phần thiết yếu của việc chăm sóc nhằm thúc đẩy sức khỏe và sự an lạc của người chuyển giới." Tuy nhiên, phần nội dung chính của bài đánh giá chỉ tìm thấy bằng chứng "chất lượng thấp" và "không chắc chắn", do đó kết luận được đưa ra là hoàn toàn không có căn cứ.
Các tài liệu này cũng tiết lộ rằng tất cả 13 câu hỏi nghiên cứu liên quan đến việc đánh giá các can thiệp nội tiết cho SOC8 của nhóm Đại học Johns Hopkins (JHU) đã được hoàn thiện. Bằng chứng là trong phản hồi gửi tới bộ phận AHRQ thuộc Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ, nhóm JHU đã nói rằng: "chúng tôi đã giải quyết 13 câu hỏi liên quan đến liệu pháp hormone." Và cũng trong chuỗi trao đổi email này, nhóm JHU cũng đã bày tỏ sự thất vọng khi bị chính "nhà tài trợ" WPATH ngăn cản JHU công bố các phát hiện từ những nghiên cứu ấy. Những trao đổi này gợi ý mạnh mẽ rằng các bài đánh giá bằng chứng này có tồn tại, nhưng kết luận của chúng có thể không tương thích với sứ mệnh của WPATH trong việc thúc đẩy quyền tiếp cận rộng rãi với liệu pháp hormone. Trước những tiết lộ đáng lo ngại này, tiến sĩ Coleman - tác giả chính của WPATH SOC8 đã tuyên bố rằng áp lực mà WPATH gây ra cho JHU "không phải vì WPATH có bất kỳ lợi ích nào trong việc ngăn chặn nghiên cứu của John Hopkins", mà chỉ đơn thuần là "để đảm bảo rằng việc phát hành SOC8 sẽ là ấn phẩm đầu tiên công bố nghiên cứu này."
Bốn năm sau khi nghiên cứu hoàn thành (và hơn hai năm sau khi SOC8 được công bố), chỉ có hai bài đánh giá do WPATH ủy nhiệm được xuất bản: Danh sách các câu hỏi nghiên cứu liên quan đến can thiệp hormone được đăng ký bởi nhóm JHU cho SOC8 sẽ được đặt ở cuối bài viết.
2C. Diễn ngôn "Chuyển giới để ngăn tự tử": Một lựa chọn đầy sức ép
Trong buổi phỏng vấn trên đài ABC News, bác sĩ Johanna Olson-Kennedy từ Bệnh viện Nhi Los Angeles chia sẻ cách thức đặt câu hỏi để gây sức ép trong vấn đề chăm sóc định giới: “Chúng tôi thường hỏi các phụ huynh rằng: ‘Ông bà thà có một đứa con trai đã chết hay một đứa con gái đang sống?" . Cách lập luận này xuất hiện thường xuyên trên truyền thông, từ các bài viết của những người có sức ảnh hưởng đến các tổ chức hoạt động xã hội. Nó thậm chí còn được đưa vào các tranh luận pháp lý cấp cao; tiêu biểu là khi Elizabeth Prelogar, Tổng luật sư của chính quyền Biden, khẳng định trước Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ rằng việc cấm các can thiệp y tế cho trẻ vị thành niên sẽ làm tăng nguy cơ tự tử. Tương tự, Đô đốc Rachel Levine cũng từng đưa ra quan điểm: “Chăm sóc khẳng định giới là chăm sóc y tế... Đó là chăm sóc ngăn ngừa tự tử. Nó cải thiện chất lượng cuộc sống và nó cứu mạng con người.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy cách diễn đạt đầy cảm xúc này lại không đi kèm với các bằng chứng y khoa xác thực. Trong phiên điều trần tại Tối cao Pháp viện, khi đối mặt với sự chất vấn của Thẩm phán Samuel Alito, Chase Strangio – luật sư của (Liên đoàn Tự do Dân sự Mỹ) ACLU và là đại diện pháp lý hàng đầu của phong trào chuyển giới – đã phải thừa nhận rằng: Không có bằng chứng nào trong một số nghiên cứu hiện nay cho thấy phương pháp chăm sóc khẳng định giới làm giảm hoàn toàn các vụ tự tử.Hơn nữa, mặc dù làm việc làm việc cho tổ chức bảo vệ tự do ngôn luận nổi tiếng nhất quốc gia (ACLU), thế nhưng ông đã từng đăng tải trên Twitter rằng ông muốn ngăn chặn cuốn sách phê bình cách tiếp cận y học giới tính trẻ em có tên là Irreversible Damage (Tổn thương không thể đảo ngược) của Abigail Shrier. Strangio tuyên bố: 'Tôi sẵn sàng làm mọi cách ngăn chặn sự lưu hành của cuốn sách này và những ý tưởng của nó đến cùng."
2D. Tài liệu pháp lý (Exhibit 190) và Bằng chứng thép từ các nghiên cứu dài hạn Vào năm 2022, bang Alabama đã thông qua một đạo luật hình sự hóa việc kê đơn hormone và thuốc chặn dậy thì cho các bệnh nhân dưới 19 tuổi. Sau khi chính quyền Biden đệ đơn kiện nhằm ngăn chặn đạo luật này, Tổng chưởng lý thuộc Đảng Cộng hòa của bang đã tống đạt trát yêu cầu cung cấp các tài liệu cho thấy WPATH vốn đã biết từ lâu rằng cơ sở bằng chứng cho việc chuyển giới ở tuổi vị thành niên là rất mong manh. Chính nhờ vậy mà chúng ta đã biết được rằng trong tài liệu pháp lý 190, Eli Coleman, nhà tâm lý học từng chủ trì nhóm sửa đổi SOC, đã viết cho các đồng nghiệp vào năm 2023 rằng: Tất cả chúng ta đều nhận thức một cách đau xót rằng đang có rất nhiều lỗ hổng trong nghiên cứu để có thể củng cố cho các khuyến nghị [chăm sóc khẳng định giới] của chúng ta.
Ảnh trong tài liệu 190.
Ảnh trong tài liệu 190.
Việc sử dụng rủi ro tự tử để tác động đến cha mẹ không chỉ vi phạm đạo đức nghề nghiệp mà còn bị coi là sai sót chuyên môn. Nó đưa ra một lời hứa giả tạo rằng các can thiệp thực nghiệm sẽ loại bỏ nguy cơ tự tử, trong khi số liệu thực tế từ những quốc gia có hệ thống theo dõi lâu đời nhất lại cho thấy một bức tranh hoàn toàn khác:
Nghiên cứu Thụy Điển (1973–2003): Theo dõi 324 cá nhân đã trải qua phẫu thuật bộ phận sinh dục, kết quả cho thấy tỷ lệ tự tử thành công sau phẫu thuật cao hơn rất nhiều so với dân số chung. Trong đó, những người nữ sinh học chuyển giới sang nam (natal females) có nguy cơ tử vong do tự tử cao gấp 40 lần, và nam sinh học chuyển giới sang nữ cao gấp 19 lần.
Nghiên cứu Amsterdam (1972–2017): Nghiên cứu trên hơn 8.000 bệnh nhân kết luận: nguy cơ tự tử ở người chuyển giới cao hơn so với dân số chung và dường như xảy ra ở mọi giai đoạn của quá trình chuyển giới.
Nghiên cứu dài hạn tại Đan Mạch và Hà Lan: Những người thực hiện các can thiệp thay đổi đặc điểm giới tính có tỷ lệ tự tử thành công cao gấp 3,5 đến 6 lần so với dân số bình thường.
Các dữ liệu này khẳng định rằng mô hình can thiệp do WPATH thúc đẩy không phải là biện pháp "giảm thiểu tác hại" hay "cứu mạng". Việc cung cấp các can thiệp y tế không thể đảo ngược cho trẻ vị thành niên cũng như người lớn mắc bệnh tâm thần nghiêm trọng mà không ưu tiên giải quyết các vấn đề tâm lý của họ bằng những biện pháp ít xâm lấn hơn là một sự thiếu sót nghiêm trọng về đạo đức nghề nghiệp.
2E. Cuộc thí nghiệm của những tên đồ tể
Tài liệu WPATH không chỉ tiết lộ sự thiếu hụt bằng chứng khoa học mà còn phơi bày một thực tế đạo đức đáng báo động: Y sĩ/đồ tể đang cho phép những bệnh nhân không có năng lực hành vi đầy đủ (do bệnh tâm thần nặng) được "đồng thuận" phẫu thuật cắt bỏ bộ phận cơ thể và sử dụng hormone vĩnh viễn.
Nền tảng cho sự liều lĩnh này xuất phát từ tư tưởng của những người đứng đầu. Khi một y tá bày tỏ sự hoang mang và mâu thuẫn nội tâm về việc một bệnh nhân mắc đa rối loạn nghiêm trọng—bao gồm PTSD, trầm cảm nặng, rối loạn phân ly và tâm thần phân liệt—đang nóng lòng muốn dùng hormone, thì Tiến sĩ Karasic, tác giả chính của chương Sức khỏe Tâm thần SOC8, đã trả lời: "Tôi không hiểu tại sao bạn lại thấy hoang mang. Sự hiện diện đơn thuần của bệnh tâm thần không nên ngăn cản khả năng bắt đầu điều trị hóc-môn..."
Mặc dù Tiến sĩ Karasic không hề sai khi nói rằng sự hiện diện của bệnh tâm thần không đồng nghĩa với việc bệnh nhân mất khả năng đồng thuận với một thủ tục y tế, nhưng việc liệu một bệnh nhân trong tình trạng như vậy có thể cân nhắc một cách lý trí về những tác động lâu dài của hormone chuyển giới không thể đảo ngược hay không? Hơn nữa, nếu xét đến những tác động tiêu cực đã nêu của các hormone này lên chức năng tình dục của bệnh nhân, thì liệu lợi ích mang lại có vượt trội hơn so với rủi ro hay không, ngay cả đối với một người khỏe mạnh?
Một ví dụ điển hình mà tài liệu WPATH phanh phui ra đó là một bài đăng được lập ra để hỏi ý kiến mọi người về cách điều trị một bệnh nhân thiểu năng trí tuệ 13 tuôi muốn được tiêm Testosterone:


Một ví dụ điển hình mà tài liệu WPATH phanh phui ra đó là một bài đăng được lập ra để hỏi ý kiến mọi người về cách điều trị một bệnh nhân phi nhị nguyên 13 tuôi muốn được tiêm Testosterone:

Tên của bài đăng Câu hỏi đạo đức về điều trị cho trẻ vị thành niên

[Người đăng bài gốc]
Đối với một trẻ vị thành niên 13 tuổi bị chậm phát triển, hiện đang sử dụng liệu pháp ức chế dậy thì, và có thể sẽ không đạt được (hoặc không bao giờ đạt được) ngưỡng phát triển 6.12.c về cảm xúc và nhận thức do SOC* đặt ra trong khung thời gian thông thường của tuổi vị thành niên [để đưa ra quyết định về lộ trình chuyển giới], thì cách tiếp cận đạo đức để chăm sóc là gì? Khi nào thì tôi có thể chỉ định GAHT (Liệu pháp hormone khẳng định giới)?

[Bình luận 1]
Chào [Đã ẩn tên]
Bạn ấy chậm phát triển ở mức độ nào và năng lực nhận thức để đưa ra sự đồng thuận của trẻ được đo lường và đánh giá ra sao? Mức độ đồng thuận và hợp tác từ cha mẹ hoặc người giám hộ là như thế nào? Tôi từng gặp vài bạn trẻ 14 và 15 tuổi mắc PDD (Rối loạn phát triển lan tỏa), đều là chuyển giới nữ (MtF); một trong số đó được coi là có khả năng đồng thuận và đã được khẳng định giới, trong khi bạn còn lại thì không, theo đánh giá của các chuyên gia. Quyết định đó dường như dựa trên sự ổn định tâm thần của họ. Bởi vì SoC8 không đi sâu vào chi tiết đối với các bệnh nhân nhỏ tuổi như thế này, tôi nghĩ phán quyết được để lại cho các nhóm điều trị cá nhân, dựa trên chuyên môn của họ về các vấn đề phát triển, xã hội... <i>Đọc thêm
</i>[Bình luận 2]
Nếu được yêu cầu tư vấn, tôi sẽ tiếp cận vấn đề này như sau:
Nguyên tắc chỉ đạo sẽ là cân nhắc giữa tác hại của việc hành động so với việc không hành động. Nếu bản dạng giới của trẻ vẫn tiếp tục không thay đổi và việc ức chế dậy thì đang ngăn chặn các thay đổi dậy thì không mong muốn hoặc ức chế các tác động, thì việc tiếp tục ức chế dậy thì vẫn là điều quan trọng để ngăn ngừa tác hại do việc ngừng thuốc gây ra. Như bạn đã biết, leuprolide không thể được sử dụng vô thời hạn (quá 1-2 năm) mà không bổ sung hormone steroid sinh dục, nhằm ngăn ngừa tình trạng mất mật độ và khoáng chất xương. Rủi ro này... <i>Đọc thêm</i>
Một ví dụ điển hình mà tài liệu WPATH phanh phui ra đó là một bài đăng được lập ra để hỏi ý kiến mọi người về cách điều trị một bệnh nhân phi nhị nguyên 13 tuôi muốn được tiêm Testosterone: Tên của bài đăng Câu hỏi đạo đức về điều trị cho trẻ vị thành niên [Người đăng bài gốc] Đối với một trẻ vị thành niên 13 tuổi bị chậm phát triển, hiện đang sử dụng liệu pháp ức chế dậy thì, và có thể sẽ không đạt được (hoặc không bao giờ đạt được) ngưỡng phát triển 6.12.c về cảm xúc và nhận thức do SOC* đặt ra trong khung thời gian thông thường của tuổi vị thành niên [để đưa ra quyết định về lộ trình chuyển giới], thì cách tiếp cận đạo đức để chăm sóc là gì? Khi nào thì tôi có thể chỉ định GAHT (Liệu pháp hormone khẳng định giới)? [Bình luận 1] Chào [Đã ẩn tên] Bạn ấy chậm phát triển ở mức độ nào và năng lực nhận thức để đưa ra sự đồng thuận của trẻ được đo lường và đánh giá ra sao? Mức độ đồng thuận và hợp tác từ cha mẹ hoặc người giám hộ là như thế nào? Tôi từng gặp vài bạn trẻ 14 và 15 tuổi mắc PDD (Rối loạn phát triển lan tỏa), đều là chuyển giới nữ (MtF); một trong số đó được coi là có khả năng đồng thuận và đã được khẳng định giới, trong khi bạn còn lại thì không, theo đánh giá của các chuyên gia. Quyết định đó dường như dựa trên sự ổn định tâm thần của họ. Bởi vì SoC8 không đi sâu vào chi tiết đối với các bệnh nhân nhỏ tuổi như thế này, tôi nghĩ phán quyết được để lại cho các nhóm điều trị cá nhân, dựa trên chuyên môn của họ về các vấn đề phát triển, xã hội... Đọc thêm [Bình luận 2] Nếu được yêu cầu tư vấn, tôi sẽ tiếp cận vấn đề này như sau: Nguyên tắc chỉ đạo sẽ là cân nhắc giữa tác hại của việc hành động so với việc không hành động. Nếu bản dạng giới của trẻ vẫn tiếp tục không thay đổi và việc ức chế dậy thì đang ngăn chặn các thay đổi dậy thì không mong muốn hoặc ức chế các tác động, thì việc tiếp tục ức chế dậy thì vẫn là điều quan trọng để ngăn ngừa tác hại do việc ngừng thuốc gây ra. Như bạn đã biết, leuprolide không thể được sử dụng vô thời hạn (quá 1-2 năm) mà không bổ sung hormone steroid sinh dục, nhằm ngăn ngừa tình trạng mất mật độ và khoáng chất xương. Rủi ro này... Đọc thêm
[Bình luận 3]
SOC quy định khá rõ ràng rằng cách tiếp cận nhóm đa ngành (interdisciplinary team) có thể được ưu tiên trong một số trường hợp, hoặc tìm cách truyền đạt các ý tưởng quan trọng theo một phương thức khác (có thể liên quan đến cha mẹ của trẻ hoặc các nhà cung cấp dịch vụ khác, để hiểu rõ hơn về những gì đã hiệu quả trong quá khứ?), và trong những trường hợp khác, chúng ta bắt buộc phải dành thời gian để đảm bảo mọi người hiểu rõ rủi ro và lợi ích của việc điều trị. Trẻ khuyết tật trí tuệ vẫn có khả năng đồng thuận cho các phẫu thuật khác. Tôi tự hỏi liệu câu hỏi của bạn có đang thiếu bối cảnh quan trọng nào không? Hay bạn đang tìm kiếm một loại hình tiếp cận cụ thể nào đó? Nhưng phần lớn phụ thuộc vào từng đứa trẻ cụ thể... Cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi này! Rất mong chờ xem những người khác sẽ đưa ra ý kiến gì... <i>Đọc thêm
</i>[Bình luận 4]
Tôi nghĩ chìa khóa ở đây là sự đánh giá cẩn trọng bởi toàn bộ nhóm điều trị, và sau đó là sự phối hợp chặt chẽ. Cha mẹ có hoàn toàn ủng hộ không? Có lý do gì để tin rằng sự chậm trễ phát triển này đủ lớn để làm thay đổi lộ trình chuyển đổi giới tính hay không? Tôi sẽ xem xét việc yêu cầu đánh giá từ một chuyên gia đời sống trẻ em, cũng như một nhà cung cấp dịch vụ khác.

Tôi ngờ rằng sẽ không có một câu trả lời hoàn hảo nào, nhưng chắc chắn là hợp lý khi đạt được sự đồng thuận với đứa trẻ đang phát triển đó. Tôi cũng sẽ xác định rất chắc chắn về quan điểm của cha mẹ đối với các đánh giá, mong muốn của trẻ, và kế hoạch GAHT hiện có. Nếu còn nghi ngờ, thì đừng gây hại (do not harm)... <i>Đọc thêm</i>
<i></i>
[Bình luận 3] SOC quy định khá rõ ràng rằng cách tiếp cận nhóm đa ngành (interdisciplinary team) có thể được ưu tiên trong một số trường hợp, hoặc tìm cách truyền đạt các ý tưởng quan trọng theo một phương thức khác (có thể liên quan đến cha mẹ của trẻ hoặc các nhà cung cấp dịch vụ khác, để hiểu rõ hơn về những gì đã hiệu quả trong quá khứ?), và trong những trường hợp khác, chúng ta bắt buộc phải dành thời gian để đảm bảo mọi người hiểu rõ rủi ro và lợi ích của việc điều trị. Trẻ khuyết tật trí tuệ vẫn có khả năng đồng thuận cho các phẫu thuật khác. Tôi tự hỏi liệu câu hỏi của bạn có đang thiếu bối cảnh quan trọng nào không? Hay bạn đang tìm kiếm một loại hình tiếp cận cụ thể nào đó? Nhưng phần lớn phụ thuộc vào từng đứa trẻ cụ thể... Cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi này! Rất mong chờ xem những người khác sẽ đưa ra ý kiến gì... Đọc thêm [Bình luận 4] Tôi nghĩ chìa khóa ở đây là sự đánh giá cẩn trọng bởi toàn bộ nhóm điều trị, và sau đó là sự phối hợp chặt chẽ. Cha mẹ có hoàn toàn ủng hộ không? Có lý do gì để tin rằng sự chậm trễ phát triển này đủ lớn để làm thay đổi lộ trình chuyển đổi giới tính hay không? Tôi sẽ xem xét việc yêu cầu đánh giá từ một chuyên gia đời sống trẻ em, cũng như một nhà cung cấp dịch vụ khác. Tôi ngờ rằng sẽ không có một câu trả lời hoàn hảo nào, nhưng chắc chắn là hợp lý khi đạt được sự đồng thuận với đứa trẻ đang phát triển đó. Tôi cũng sẽ xác định rất chắc chắn về quan điểm của cha mẹ đối với các đánh giá, mong muốn của trẻ, và kế hoạch GAHT hiện có. Nếu còn nghi ngờ, thì đừng gây hại (do not harm)... Đọc thêm
3. Tái thiểt tiêu chuẩn. Ngay trong tuần đầu tiên của nhiệm kỳ, Tổng thống Donald Trump đã ký Sắc lệnh hành pháp 14187 (ngày 28/01/2025). Sắc lệnh này yêu cầu Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh (HHS) tiến hành rà soát lại toàn bộ các quy trình chăm sóc sức khỏe giới tính hiện hành. Mục tiêu của chỉ đạo này là đánh giá lại tính an toàn và hiệu quả của các can thiệp y tế, đồng thời xem xét lại việc sử dụng ngân sách liên bang cho các cơ sở cung cấp dịch vụ này, dựa trên quan điểm thận trọng hơn đối với việc bảo vệ trẻ em. Báo cáo"Điều trị Bức bối giới tính Nhi khoa: Rà soát Bằng chứng và Thực hành Tốt nhất" ("Treatment for Pediatric Gender Dysphoria: Review of Evidence and Best Practices"), công bố ngày 01/05/2025, đã đưa ra những đánh giá khác biệt đáng kể so với các đồng thuận y khoa trước đó tại Mỹ, tập trung vào ba điểm cốt lõi: 1. Đánh giá lại tính chất điều trị: Báo cáo phân loại các can thiệp khẳng định giới (như thuốc chặn dậy thì và hormone) là các phương pháp mang tính thực nghiệm. Báo cáo lập luận rằng cơ sở bằng chứng hiện tại chưa đủ vững chắc để khẳng định tính an toàn và hiệu quả lâu dài cho trẻ vị thành niên. 2. Thay đổi cách tiếp cận trị liệu: Thay vì mô hình "khẳng định" (affirmation), báo cáo khuyến nghị ưu tiên "Trị liệu Thăm dò". Phương pháp này tập trung vào việc hỗ trợ tâm lý để tìm hiểu các nguyên nhân gốc rễ của sự đau khổ về giới, thay vì can thiệp y tế ngay lập tức. 3. Ghi nhận các yếu tố liên quan: Báo cáo nhấn mạnh mối liên hệ giữa bức bối giới tính với các tình trạng đi kèm như tự kỷ và đề cập đến giả thuyết về lây lan xã hội như những yếu tố cần được xem xét kỹ lưỡng trong chẩn đoán—những yếu tố mà báo cáo cho rằng đã không được chú trọng đúng mức trong các hướng dẫn trước đây của WPATH. Tuy nhiên, những kết luận mang tính bước ngoặt này của HHS đã vấp phải sự phản đối quyết liệt và ngay lập tức từ cộng đồng tâm lý học dòng chính, dẫn đầu là Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA). Trong một loạt các tuyên bố phản hồi và cập nhật chính sách xuyên suốt năm 2025, APA đã bác bỏ tính chính danh của báo cáo HHS, coi đây là một văn bản bị chi phối bởi động cơ chính trị hơn là sự liêm chính khoa học. APA chỉ trích gay gắt sự thiếu minh bạch của HHS, tuyên bố nguyên văn: "Sự thiếu minh bạch về quyền tác giả, chuyên môn và phương pháp luận trong báo cáo gần đây của HHS làm suy yếu tính nghiêm ngặt của khoa học và mâu thuẫn với các tiêu chuẩn cho việc hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng." Giữ vững lập trường rằng mô hình khẳng định giới là "dựa trên bằng chứng" (evidence-based) và cần thiết về mặt y tế, APA cảnh báo rằng việc thay đổi chính sách theo hướng hạn chế của HHS sẽ gây nguy hiểm trực tiếp đến an mạng của thanh thiếu niên. Tổ chức này viện dẫn các nghiên cứu tâm lý để khẳng định: "Việc không thể tiếp cận liệu pháp chăm sóc khẳng định giới phù hợp cho thanh thiếu niên chuyển giới có liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ trầm cảm, lo âu và ý định tự tử, trong khi việc tiếp cận sự chăm sóc khẳng định giới hỗ trợ cải thiện các kết quả sức khỏe tâm thần." Báo cáo của HHS đã tạo ra một cơ sở tham chiếu quan trọng cấp liên bang, tác động đến các quyết định của các tổ chức chuyên môn. Điển hình là vào tháng 02/2026, Hiệp hội Phẫu thuật Thẩm mỹ Hoa Kỳ (ASPS) đã ban hành tuyên bố khuyến nghị hoãn phẫu thuật giới tính cho đến khi bệnh nhân đạt 19 tuổi: "ASPS kết luận rằng không có đủ bằng chứng để chứng minh tỷ lệ rủi ro so với lợi ích của lộ trình can thiệp nội tiết và phẫu thuật liên quan đến giới tính ở trẻ em và thanh thiếu niên. ASPS khuyến nghị các bác sĩ phẫu thuật trì hoãn phẫu thuật ngực, bộ phận sinh dục và khuôn mặt liên quan đến giới tính cho đến khi bệnh nhân đạt ít nhất 19 tuổi." Trong văn bản của mình, ASPS đã trích dẫn báo cáo của HHS như một nguồn tài liệu tham khảo chính yếu bên cạnh Báo cáo Cass (Anh). Cú đòn mạnh nhất của bản tuyên bố này không chỉ nằm ở việc khuyến nghị không phẫu thuật, mà là việc ASPS công khai bác bỏ uy tín của các hướng dẫn điều trị hiện hành từ Hiệp hội Chuyên gia Thế giới về Sức khỏe Chuyển giới (WPATH) và Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP). ASPS khẳng định rằng các tài liệu này không đáng tin cậy: "Các đánh giá bằng chứng độc lập gần đây đã dấy lên lo ngại về độ tin cậy phương pháp luận của các hướng dẫn thực hành lâm sàng phổ biến tại Hoa Kỳ... bao gồm SOC8 của WPATH... và Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP).Thậm chí, ASPS còn đi xa hơn khi chỉ ra rằng các tổ chức này thiếu minh bạch và quản lý kém về xung đột lợi ích, dẫn đến việc các hướng dẫn của họ không đủ tiêu chuẩn để áp dụng: "Các đánh giá đó cho thấy những tài liệu này không đáp ứng các tiêu chí được chấp nhận cho các hướng dẫn thực hành lâm sàng chất lượng cao, đáng tin cậy, viện dẫn những hạn chế về sự chặt chẽ trong phát triển, tính minh bạch, quản lý xung đột lợi ích... Không có hướng dẫn nào trong số ba hướng dẫn hàng đầu của Hoa Kỳ... được khuyến nghị để áp dụng lâm sàng."
Tuyên bố này của ASPS không chỉ là một sự thay đổi về quy trình, mà là một bản cáo trạng đanh thép đối với sự thất bại về mặt khoa học và đạo đức của mô hình "khẳng định giới" trong suốt thập kỷ qua.
4. Tương lai của cách mạng màu
Có lẽ câu "Bạn xứng đáng với những gì bạn dung thứ" là phù hợp nhất để miêu tả điều đã và sẽ xảy ra với phòng trào LGBTQIA+ tại Việt Nam và trên toàn thế giới. Tại thời điểm hiện tại, những nhóm hoạt động ở VN vẫn trích dẫn những nghiên cứu hủ bại, cố chấp mà bênh vực những lập luận sai lệch, thực hiện những nghiên cứu không đạt chuẩn và gây chia rẽ rồi dung thứ những thành phần cực đoan. Khi những nguồn tài trợ của các tổ chức phi chính phủ ngày càng cạn kiệt, dưới sự theo dõi của chính quyền theo lý huyết "an ninh phi truyền thống", sự ủng hộ của cộng đồng ngày ngàng thuyên giảm... thì những người chịu thiệt đầu tiên sẽ là những người trong cộng đồng muốn sống yên bình và được chấp nhận.
https://www.facebook.com/share/p/1ABrhAkRDa/
https://www.facebook.com/share/p/1ABrhAkRDa/