Bia Mộ Cụ Phan Châu Trinh
Cùng đọc lại Bia mộ Phan Châu Trinh để tưởng nhớ công đức của cụ dịp 100 năm ngày mất

Khu lưu niệm Phan Châu Trinh tại số 9 Phan Thúc Duyện, TpHCM
Than ôi! Non sông nặng gánh, son sắt một lòng, trong 20 năm, hết xứ này qua xứ khác, khỏi nạn nọ đến nạn kia, biết bao nhiêu nguy hiểm đắng cay, mà nghị lực hùng tâm, vẫn trước sau như một, đến lúc tóc bạc răng long, còn muốn thiệt hành cái chủ nghĩa dân chủ để cứu vớt đồng bào.Huỳnh Thúc Kháng viết về Phan Châu Trinh
Đầu tháng 11/2025 ngồi trên taxi ra sân bay Tân Sơn Nhứt về Hà Nội, tình cờ nhìn thấy Khu lưu niệm Phan Châu Trinh trên đường Phan Thúc Duyện, tôi tự nhủ lần sau tới sẽ ghé thăm. Lần tới Sài Gòn sau đó vào cuối tháng 12/2025, tôi lần đầu ghé thăm mộ cụ Phan Châu Trinh trên đường Phan Thúc Duyện.
Vào trong ban thờ tình cờ thấy có một bảng ghi tiểu sử Phan Châu Trinh, rất nhiều chữ, tôi nhìn thoáng quá chứ không kịp đọc hết ngay, bèn chụp ảnh lại. Nào ngờ về nhà mở ảnh ra đọc, google kiểu gì cũng không ra được bản điện tử tương đương trên Internet. Tôi bèn đành ngồi phóng to ảnh đọc cho hết. Đọc đến cuối bài mới nhận ra, đây là bài tiểu sử viết để lập bia mộ ngay sau khi cụ Phan mất năm 1926, viết bởi một người cùng thời cụ Phan, một người bạn học từ thời trẻ, một người bạn chiến đấu, một nhân vật lịch sử cùng thời khác, cụ Huỳnh Thúc Kháng…
Nhân 100 năm ngày mất cụ Phan, kẻ hậu sinh này xin đánh máy gõ lại Văn bia tiểu sử cụ Phan Châu Trinh, tiện cho hậu thế tiếp tục đọc và ghi nhớ về công đức của cụ. Bản chụp trong ảnh là một bản sao của văn bia đá 100 năm tuổi bên ngoài khuôn viên khu lưu niệm. Khi đánh mãy lại tôi có tham khảo lại theo bản chép lại của văn bia đăng trên Đông Pháp Thời Báo, số ra ngày 05/01/1927, cũng như tra cứu một số lỗi chính tả. Ngoài đó ra, các cách dùng từ cách viết hoa của thời kỳ đó đều được giữ nguyên hết sức có thể.
Mộ Chí Ông PHAN CHÂU TRINH
Tiên Sanh họ PHAN, tên CHÂU TRINH tên chữ TỬ CÁN, hiệu TÂY HỒ, biệt hiệu HY MÃ, sanh năm 1872 tại làng TÂY LỘC huyện TIÊN PHƯỚC, phủ TAM KỲ tỉnh QUẢNG NAM.
Cha là PHAN VĂN BÌNH, làm quan và mẹ là họ LÊ, con nhà vọng tộc, làng PHÚ LÂM, có 3 người con, Tiên Sanh là con út.
Tiên Sanh vì mẹ mất sớm, 10 tuổi mới đi học năm 1885 kinh thành Huế thất thủ, vua HÀM NGHI chạy hội cần vương dậy khắp cả nước, cha làm Chuyên Vận Sứ trong hội ấy ở đồn A BÁ thuộc hạt TAM KỲ, gặp buổi trong nước rối loạn, Tiên Sanh bỏ học, theo tập nghề võ.
Năm 1887 cha bị hại, vì có nghi kị, rồi hội cần vương cũng tan. Tiên Sanh lúc ấy đã 16 tuổi, nhà cửa tan nát, nhờ vợ chồng người anh cả lo liệu và rước thầy cho Tiên Sanh bắt đầu học lại.
Tiên Sanh thông minh khảng khái, học ở nhà bốn năm mới ra học ngoài, tới đâu nổi tiếng đó, gặp việc không kỳ lớn nhỏ cứ lấy lẽ phải tranh biện, thức giả đều cho là một người phi thường.
Năm 1889, thụ nghiệp cùng cụ đốc TRẦN MÃ SƠN được cụ thưởng thúc bổ vào ngạch học sanh, năm 1900 đỗ cử nhân, năm 1901 đỗ Phó Bảng.
Năm 1902 hậu bổ ở HUẾ, nhân anh cả mất Tiên Sanh về nhà dạy học. Măm 1903, lại được bổ Thừa biên Bộ Lễ.
Tiên Sanh đởm thức khác người, từ lúc đi học, đến khi làm quan tuy ở trong xã hội hủ bại, mà vẫn chứa sẵn một lòng ưu quốc, nên những thi văn Tiên Sanh lúc bấy giờ, đã thổ lộ nhiều câu cảm khái.
Tiên Sanh ở Huế mấy năm, đã nghiên cứu được nhiều cái nguyên nhơn hủ bại và lại giao du những bực tân học như THÂN TRỌNG HUÊ, ĐÀO NGUYÊN PHỔ, nghe thấy được nhiều báo mới sách mới.
Từ ấy về sau, Tiên Sanh quyết chí bỏ quan, tìm bạn đồng chí, đem những học thuyết tư tưởng mới mà truyền bá, để trừ cái độc chuyên chế và cái tệ nho học nước mình, vừa gặp ông PHAN BỘI CHÂU ở Nghệ vào Huế cùng nhau bàn bạc ý kiến tuy có chỗ không hợp mà lòng ưu quốc vẫn đồng.
Năm 1905, Tiên Sanh từ quan về rủ bạn đồng chí đi chơi Nam Kỳ, khi tới tỉnh BÌNH ĐỊNH thấy trường tỉnh đương hạch học trò bài thơ “Chi Thành Thông Thánh” và bài phú “Danh Sơn Lương Ngọc”, bèn cùng nhau mượn cái đề mục ấy để tỏ thời sự mà cảnh tỉnh đồng bào, mà bài thơ chính là tay Tiên Sanh thảo. Đến KHÁNH HÒA nghe chiến hạm NGA đậu tại CAM RANH, giả cách buôn bán, đưa nhau xuống tầu quan sát. Vào đến PHAN THIẾT Tiên Sanh bị bịnh, cuộc Nam du phải đình. Tiên Sanh ở lại đó mấy tháng khi trở về đến nhà, nghe ông PHAN BỘI CHÂU qua NHỰT đã có tin về.
Năm 1906, Tiên Sanh dạo khắp các tỉnh đàng ngoài thẳng tới YÊN THẾ vào đồn ĐỀ THÁM bàn luận thời cuộc, ông ta mời ở lại nhưng Tiên Sanh biết cách cuộc của ĐỀ THÁM không thể nào thi thố gì được không chịu ở bèn lập kế qua Tầu, tới QUẢNG ĐÔNG gặp ông PHAN BỘI CHÂU, cùng nhau qua NHỰT BỔN.
Tiên Sanh ở NHỰT vài tháng lưu lãm nghiên cứu, hiểu rõ nội tình ngoại thế, bèn quyết kế về lo hành động trong nước. Đối với quốc dân, thì Tiên Sanh tuyệt khẩu không nói đến chuyện ngoại, chỉ đề xướng phải liên hiệp nhau mà mở rộng đường giáo dụ và kinh tế, lúc đó trong nước có những trường học hội buôn, phần nhiều là động lực của Tiên Sanh.
Còn đối với Chánh Phủ bảo hộ, thì minh bạch nói những tệ người Pháp bạc đãi dân Annam, dung túng quan Annam, nên quan lại nhơn thế làm hại dân đen cực điểm, rồi yêu cầu Chánh Phủ đổi hẳn chính sách cai trị tức là cái thơ “Đấu Pháp Chính Phủ”. Từ ấy người Pháp biết Tiên Sanh là một người chí sĩ, mà đám quan trường thì xem Tiên Sanh ra một người thù.
Năm 1907 Tiên Sanh ra Hànội diễn thuyết tại trường Đông Kinh Nghĩa Thục, có đăng một đôi bài trong báo “ĐẠI VIỆT” và “ĐĂNG CỔ” cổ động quốc dân chuyên về sự học, không nên bạo động, không nên trông người ngoài.Năm 1908 việc xin thuế khởi đầu từ dân QUẢNG NAM, lan khắp cả Trung Kỳ, quan lại nhân dịp đó, đổ tội cho đám thân sĩ hay nói dân quyền mà Tiên Sanh là người thủ xướng, thương Khâm Sứ điện ra Hànội bắt giải về Huế giam tại Hộ thành. Đặt hội đồng xử án, Tiên Sanh một mực nói thẳng, quan Annam định tội chém, vì các báo Tây có ý binh, nên giảm đẳng, đầy Côn Lôn, trong án có câu “Ngộ xá bất nguyên”. Bạn thiết với Tiên Sanh là ông TRẦN QUÝ CÁP, bị PHẠM NGỌC QUÁT xử án chém ngay, cũng vì khoản ấy.
Tiên Sanh đi Côn Lôn, ban đầu phải ở nhà giam, sau Tiên Sanh lấy lẽ quốc sự phạm chống cãi, được ra ở ngoài làng AN HẢI thuộc đảo Côn Lôn ở đó mấy năm đánh chim câu cá, và làm nghề đồi mồi để nuôi mình.
Năm 1910, hội Bảo trợ nhân quyền “Ligue des Droits de l’homme et du citoyen” xin tha cho Tiên Sanh, Thủ tướng Pháp POINCARÉ nhậm lời, đưa về Saigon, đặt tòa Hội đồng xử lại, ông COUSINEAU tham biện MỸ THO làm chủ tọa đọc bài diễn văn có câu: “Tôi thay mặt cho dân nước Pháp, trả tự do cho ông”, lại hỏi muốn xin điều gì, Tiên Sanh xin ba điều: một là trị tội PHẠM NGỌC QUÁT, hai là xin tha cho bọn quốc sự phạm Côn Lôn, ba là xin đi Tây.
Năm 1911, Tiên Sanh cùng ông COUSINEAU sang Pháp, có đem con là CHÂU DẬT đi học luôn.
Tiên Sanh ở Pháp thường đi lại các chính đảng, phát minh ý kiến về chánh sách thuộc địa, và đem những sự hà hiếp của Chánh Phủ Đông Pháp này tuyên bố ra để cổ động dư luận, vì thế kẻ thù cũng lắm mà người thân cũng nhiều. Ở Pháp máy năm đầu, Chánh Phủ cấp lương, ra ý hậu đãi, sau đảng thực dân thấy không thể lợi dụng được, lại tìm cách triệt lương làm cho túng thiếu phải xin về, nhưng Tiên Sanh vẫn thản nhiên, kiếm nghề vẽ hình làm sinh nhai.
Năm 1914, cuộc Âu Chiến xẩy ra, có người vu cho Tiên Sanh thông với người Đức, bị giam tại ngục quốc sự phạm 11 tháng. Sau nhờ đảng xã hội và đảng xã hội cấp tiến chống cãi sự oan ức cho Tiên Sanh, thủ tướng POINCARÉ lại tha một lần nữa.
Chủ nghĩa Tiên Sanh vẫn phản đối chánh thể chuyên chế, lại ở Pháp là nơi sản xuất dân quyền, Tiên Sanh hô hấp cái không khí tự do đã lâu năm, lại càng chan chứa cái cảm tình vì dân vì nước... Năm 1922, vua KHẢI ĐỊNH qua Pháp, Tiên Sanh gởi thơ, và đăng các báo, kể tội 7 điều.
Năm 1925, Tiên Sanh trở về nước nhà định đi khắp cả ba kỳ xem xét hiện trạng, rồi sẽ đem cái lịch duyệt và cái chủ nghĩa của mình cùng anh em hết sức hành động, để dìu dắt quốc dân lên con đường tiến hóa. Không ngờ về chưa được bao lâu, thì đã thụ bệnh, tuy vậy mà tinh thần Tiên Sanh vẫn còn hăng hái, nghe tin vua KHẢI ĐỊNH mất, điện ngay ra Khâm Sứ HUẾ để bàn việc nước, và đem tâm huyết tỏ với đồng bao trong hai bài diễn thuyết “Luân Lý Đông Tây” và “Dân trị quân trị”.
Bởi tấm lòng lo nước thương dân càng sốt sắng bao nhiêu, thì bệnh thế lại càng trầm trọng bấy nhiêu, ngày 11 tháng hai năm Bính Dần (24 Mars 1926) 9 giờ rưỡi tối, Tiên Sanh mất tại SAIGON, sống được 55 tuổi, đồng bào cả ba kỳ cất lễ táng chung vào ngày 22 tháng 2 (4 Avril 1926), an táng tại nghĩa địa Gòcông, về làng Tân Sơn Nhứt hạt Gia ĐỊnh.
Vợ là NGUYỄN THỊ, và trai là CHÂU DẬT, khi mất cũng đều không gặp mặt Tiên Sanh. Hiện còn 2 gái, lớn là THỊ LIÊN, vợ LÊ ẤM Professeur, nhỏ là THỊ LAN, vợ NGUYỄN ĐỒNG HỘI, Agent Technique.
Than ôi! Non sông nặng gánh, son sắt một lòng, trong 20 năm, hết xứ này qua xứ khác, khỏi nạn nọ đến nạn kia, biết bao nhiêu nguy hiểm đắng cay, mà nghị lực hùng tâm, vẫn trước sau như một, đến lúc tóc bạc răng long, còn muốn thiệt hành cái chủ nghĩa dân chủ để cứu vớt đồng bào.
Thế thì Tiên Sanh không những là một người chí sĩ lo nước quên nhà, mà chính là một nhà thủ xướng cách mạng về đường chính trị nước VIỆT NAM ta vậy. Tiên Sanh mất, ai cũng điếu tang để chế đưa đám rất đông còn nơi xa cũng đều cùng nhau làm lễ truy điệu, việc ấy thật xưa nay nước ta chưa từng thấy vậy.
Saigon, ngày 2 tháng 8, năm 1926
QUỐC DÂN ĐỒNG PHỤNG LẬP
HUỲNH THÚC KHÁNG soạn
HỒ TÁ BANG }
TRẦN ĐÌNH PHIÊN } GIÁM TẠO
HUỲNH ĐỊNH ĐIỂN }

Lịch sử
/lich-su
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

