Toàn cảnh hội nghị Geneve 1954 (ảnh tư liệu)
Toàn cảnh hội nghị Geneve 1954 (ảnh tư liệu)
Liệu rằng, có ai đã từng thắc mắc là làm thế nào mà một dân tộc sau khi giành được một chiến thắng quân sự chấn động địa cầu lại phải chấp nhận một giải pháp chính trị mà kết quả là đất nước tạm thời bị chia cắt. Câu trả lời trớ trêu thay không nằm trên chiến trường mà nó nằm trên một bàn cờ. Hội nghị Genève không đơn thuần là một cuộc đàm phán về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương. Đó là một ván cờ địa chính trị khổng lồ. Nơi Việt Nam dù là nhân vật chính của cuộc chiến này nhưng lại bước vào đàm phán với một vị thế phức tạp và bị bao vây bởi những tính toán chiến lược của các cường quốc.

Bối cảnh bàn cờ thế giới 

Trước khi cái tên Genève được gắn với Đông Dương, nó đã được định sẵn cho một vấn đề khác đó là Triều Tiên. Tháng 2 năm 1954 tại Berlin, bốn cường quốc chiếm đóng nước Đức là Liên Xô, Mỹ, Anh và Pháp đã đồng ý tổ chức một hội nghị quốc tế tại Genève, Thụy Sĩ. Mục đích ban đầu đó là thảo luận về việc thống nhất bán đảo Triều Tiên sau cuộc chiến năm 1950, vấn đề Đông Dương vào thời điểm thậm chí còn không phải là ưu tiên hàng đầu. Thế giới đang trong tình trạng chiến tranh lạnh. Bất kỳ một xung đột địa phương nào dù nhỏ đến đâu cũng đều có nguy cơ trở thành một mồi lửa cho cuộc thế chiến thứ ba - một cuộc chiến tranh hạt nhân tổng lực. Và trong bối cảnh đó, cả hai siêu cường dẫn đầu Liên Xô và Hoa Kỳ đều theo đuổi một mục tiêu kép rất mâu thuẫn. Họ vừa muốn mở rộng ảnh hưởng nhưng cũng vừa sợ hãi một cuộc đối đầu trực diện. Chỉ một năm trước, năm 1953, Joseph Stalin qua đời, Liên Xô dưới sự lãnh đạo mới sau thời đang cần một giai đoạn hòa hoãn để củng cố nội bộ. Họ muốn chung sống hòa bình và không muốn một cuộc chiến tranh nóng ở châu Á làm phức tạp thêm tình hình. Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Eisenhower và ngoại trưởng John Foster Dulles thì lại bị ám ảnh bởi thuyết Domino. Họ tin rằng nếu Việt Nam rơi vào tay của chủ nghĩa cộng sản thì toàn bộ Đông Nam Á từ Thái Lan, Miến Điện đến Indonesia sẽ sụp đổ theo như những quân cờ domino. Và đây chính là bàn cờ thế giới mà Việt Nam đã bước chân vào. Một bàn cờ mà ở đó lợi ích của dân tộc Việt Nam là điều quan trọng. Thế nhưng lợi ích địa chính trị của các cường quốc còn quan trọng hơn. Và trên bàn cờ đó không chỉ có hai người chơi. 

Động cơ của những người chơi

Các nhà đàm phán chủ chốt tại hội nghị Geneve (Báo Nhân Dân)
Các nhà đàm phán chủ chốt tại hội nghị Geneve (Báo Nhân Dân)
Hội nghị Genève  có chín bên tham gia nhưng thực chất chỉ có năm bên nắm giữ chìa khóa của ván cờ và mỗi bên đều mang lên bàn đàm phán này một động cơ đã được tính toán kỹ lưỡng. 

Nước Pháp: Tìm lối thoát trong danh dự

Người chơi đầu tiên và là kẻ đang thua cuộc đó là nước Pháp. Năm 1954, nước Pháp đã kiệt quệ. Họ đã đổ vào cuộc chiến tranh tại Đông Dương hàng tỷ franc, hàng vạn sinh mạng, nền chính trị Pháp bị chia rẽ sâu sắc và các chính phủ thì lên xuống liên tục. Xã hội Pháp thì không còn muốn con em họ phải chết trận cho một cuộc chiến thuộc địa xa xôi mà họ không thể thắng nữa. Thế nhưng nước Pháp không thể rút lui một cách đơn giản, điểm mấu chốt chính là danh dự của một cường quốc và họ cần một lối thoát trong cái thứ “danh dự” vốn đã chẳng còn nữa. Họ đến Genève  không phải để thắng mà là để kết thúc cuộc chiến này mà không bị coi là kẻ bại trận hoàn toàn. Họ cần Mỹ hỗ trợ tài chính nhưng lại sợ Mỹ can thiệp và cướp mất Đông Dương. Họ cần đàm phán với Việt Minh nhưng lại không muốn công nhận sự tồn tại của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Động cơ của Pháp là chấm dứt chiến tranh bằng mọi giá, giữ lại chút thể diện và nếu có thể thì vẫn duy trì được ảnh hưởng kinh tế và văn hóa ở Việt Nam. Họ là người chơi yếu nhất trong số những cường quốc và họ cũng biết điều này. 

Hoa Kỳ: Người chơi không muốn chơi

Người chơi thứ hai là Hoa Kỳ, một thế lực đang lên rất mạnh và là người bảo trợ tài chính cho Pháp. Mỹ trả tới gần 80% chiến phí cho Pháp ở Đông Dương nhưng họ lại khinh thường chủ nghĩa thực dân kiểu cũ như của Pháp. Động cơ của Mỹ thực chất đó là ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản. Ngoại trưởng Foster Dulles là một người chống cộng quyết liệt. Ông ta không tin vào đàm phán, ông ta coi Genève  là một cái bẫy và là một sự đầu hàng được che đậy. Sở dĩ như vậy bởi Mỹ đã liệu định trước rằng nếu có một cuộc hòa đàm chắc chắn sẽ phải dẫn tới hai trường hợp: Một là chính phủ liên hiệp với cộng sản hoặc hai là phải chia cắt Việt Nam. Hoa Kỳ đã phân tích hai trường hợp này như sau: Thứ nhất, hình thành một chính phủ liên hiệp đồng nghĩa với phải tổ chức một cuộc bầu cử. Mỹ cho rằng ngay cả khi cuộc bầu cử ấy diễn ra một cách hoàn toàn dân chủ thì một chiến thắng của Việt Minh gần như là chắc chắn do Việt Minh kiểm soát lãnh thổ, được sự ủng hộ rộng rãi của dân chúng và có những sách lược rất linh hoạt. Thứ hai, Mỹ cho rằng chia cắt đất nước Việt Nam đồng nghĩa với nhượng lại miền Bắc chiến lược cho Việt Minh, dẫn tới chính sách ngăn chặn cộng sản phần nào thất bại. Như vậy, Mỹ đã phản đối hòa đàm tại Genève  ngay từ đầu. Ngoại trưởng Mỹ Dulles đã nói với Đại sứ Pháp Henri Bonnet vào ngày 3 tháng 4 năm 1954, rằng một giải pháp đàm phán sẽ chỉ dẫn đến một công thức vớt vát sĩ diện cho chuyện Pháp đầu hàng. Ông gọi chuyện chia cắt Đông Dương là “không thực tế” và một chính phủ liên minh là “khởi đầu của một thảm họa.” Vì thế, trong khi các nước ráo riết chuẩn bị cho hội nghị Genève  thì Mỹ chỉ lo vận động Anh và Pháp áp dụng biện pháp quân sự thay vì đàm phán hòa bình. Thậm chí Dulles đã vạch ra chiến dịch chim kền kền sử dụng máy bay B29, thậm chí là ném cả bom hạt nhân chiến thuật để cứu quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Thế nhưng Mỹ khi này cũng bị ràng buộc. Mỹ mới bước ra khỏi Chiến tranh Triều Tiên và sợ bị lôi kéo sâu vào 1 cuộc chiến tranh mới, sợ Trung Quốc can thiệp và nguy cơ leo thang chiến tranh thế giới và có thể sử dụng hạt nhân với Liên Xô. Bên cạnh đó, đồng minh của Mỹ là Anh không ủng hộ việc can thiệp quân sự nhằm giải cứu Pháp ở Đông Dương. Mà chính quyền Eisenhower lại không có khả năng dàn xếp để các nhà lãnh đạo Quốc hội hậu thuẫn cho sự can thiệp đơn phương của Hoa Kỳ mà không có sự tham gia của các đồng minh. Vì vậy, Mỹ tới Genève  với một tâm thế vô cùng kỳ lạ. Họ tham gia nhưng họ không muốn hội nghị thành công. Họ ở đó để giám sát và để phá hoại bất kỳ một thỏa thuận nào mà họ cho là có lợi cho cộng sản. Mỹ là người chơi mạnh nhất về vật chất nhưng lại bị trói tay bởi chính nội bộ và đồng minh. 

Vương quốc Anh: Người môi giới hòa bình

Người chơi thứ ba là Anh. Nước Anh thì cũng giống như Pháp, là một đế quốc đang tàn lụi. Họ vừa mất Ấn Độ và họ thì đang phải vật lộn với những cuộc nổi dậy ở Malaysia. Động cơ của anh là sự ổn định. Ngoại trưởng Anthony Eden không muốn chiến tranh lan rộng. Ông ta sợ một cuộc can thiệp của Mỹ ở Việt Nam sẽ kéo Trung Quốc vào y hệt như ở Triều Tiên. Và từ đó thì thế chiến ba rất có thể sẽ nổ ra. Nước Anh không thể chịu đựng thêm một cuộc chiến thế giới nữa. Vì vậy vai trò của Anh tại Genève  là một người môi giới hòa bình. Họ cố gắng kéo Mỹ lại, thúc đẩy Pháp thỏa hiệp và thuyết phục Liên Xô cùng với Trung Quốc gây áp lực lên Việt Nam. Họ muốn một giải pháp thực tế và thực tế theo lăng kính của họ chính là chia cắt. Một đường ranh giới tạm thời giống như ở Triều Tiên hay Đức là một giải pháp chấp nhận được để giữ hòa bình. 

Liên Xô và Trung Quốc: Những người anh em đầy toan tính 

Đây là góc khuất quan trọng nhất của ván cờ. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bước vào hội nghị này với sự hậu thuẫn của hai đồng minh lớn là Liên Xô và Trung Quốc. Thế nhưng cả hai ông bạn đồng minh này đều có những ưu tiên chiến lược riêng của họ và trớ trêu thay những ưu tiên đó thì không hoàn toàn trùng khớp với mục tiêu cuối cùng của Việt Nam là thống nhất đất nước ngay lập tức. 
Đầu tiên, Liên Xô rất lo ngại việc cứ tiếp tục diễn ra chiến tranh nóng bỏng như thế này thì sớm muộn “một đốm lửa cũng thiêu đốt được cả cánh rừng”. Chiến sự mà lan rộng và kéo dài, Mỹ sẽ ép buộc các đồng minh là Anh, Pháp đoàn kết lại và tạo thành 1 liên minh chống cộng khổng lồ, bao vây và cô lập khối xã hội chủ nghĩa tại châu Á. Lúc đó, tình thế của Trung Quốc sẽ vô cùng nguy hiểm. Liên Xô buộc phải thể hiện vị thế là anh cả của khối bằng cách bảo vệ Trung Quốc. Nhưng gánh nặng về quân sự và kinh tế mà Liên Xô phải chịu đựng sẽ vô cùng nặng nề và kinh khủng khi cam kết bảo vệ một đất nước mà “lãnh thổ lớn hơn cả châu Âu cộng lại” như vậy. Liên Xô thì đang trong giai đoạn hậu Stalin, họ cũng vừa trải qua cuộc thế chiến 2 với những hậu quả vô cùng nặng nề. Chính vì thế, họ cần thời gian để củng cố nội bộ, để phục hồi và phát triển đất nước. Một cuộc chiến tổng lực với Mỹ và đồng minh chẳng khác nào Liên Xô tự kết liễu mình lúc này. Bên cạnh đó, động cơ thứ hai của Liên Xô là việc ngăn chặn sự hình thành của cộng đồng phòng thủ châu Âu EDC. Lý do là bởi các nhà lãnh đạo Moscow luôn ám ảnh về một Tây Đức tái vũ trang và có thể trở thành mối đe dọa tiềm tàng với an ninh chiến lược của họ trong tương lai. Do đó, họ cần thuyết phục quốc hội Pháp không thông qua hiệp ước để thành lập cộng đồng phòng thủ châu Âu để kiềm chế Tây Đức. Đổi lại, họ sẵn sàng gây áp lực buộc Việt Nam phải chấp nhận một giải pháp ôn hòa ở Đông Dương. 
Tiếp theo là Trung Quốc. Động cơ của Trung Quốc thì còn phức tạp hơn nữa. Đầu tiên,  Trung Quốc dưới thời thủ tướng Chu Ân Lai rất muốn bước ra vũ đài quốc tế và Genève  là cơ hội đầu tiên để họ được công nhận là một cường quốc, được ngồi chung mâm với Anh, Pháp, Mỹ và Liên Xô. Không chỉ vậy, đây còn là cơ hội ngàn vàng để có thể phá vỡ cái thế bị phong tỏa cấm vận. Tham gia một hội nghị quốc tế lớn như vậy quá có lợi cho một đất nước đang có vị thế yếu trên trường quốc tế như Trung Quốc. Động cơ thứ hai là về an ninh quốc gia. Trung Quốc sợ rằng nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giành thắng lợi hoàn toàn, Mỹ sẽ can thiệp, chiến tranh sẽ lan rộng và Trung Quốc sẽ bị lôi vào. Trung Quốc vừa kết thúc một cuộc chiến tàn khốc với Mỹ ở Triều Tiên. Họ không muốn có một cuộc đối đầu quân sự thứ hai với Mỹ ngay ở sát biên giới phía nam, như thế thì Trung Quốc sẽ chẳng thể nào yên ổn và tập trung phát triển kinh tế được. Một nước Việt Nam bị chia cắt với một miền Bắc nằm trong quỹ đạo của phe xã hội chủ nghĩa sẽ là một vùng đệm an toàn lý tưởng cho biên giới phía nam của Trung Quốc. Hơn nữa, cả trăm năm nay chưa bao giờ Trung Quốc muốn các nước ở khu vực Đông Nam Á thống nhất cả. Đó là chính sách chia để trị của họ. Trung Quốc cũng chưa bao giờ muốn đất nước mình phát triển quá rực rỡ để chúng ta phải luôn phụ thuộc vào họ, lúc đấy họ mới dễ cai trị vì cái ý nghĩ: tôi là người viện trợ, tôi nói gì anh chả phải răm rắp nghe theo. Điều này được thể hiện rõ nét trong cuốn sách “Sự thật quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 30 năm qua” của nhà xuất bản Sự thật.
Bản đồ này đã được in trong cuốn “Sơ lược lịch sử Trung Quốc hiện đại”, xuất bản tại Bắc Kinh năm 1954. Đường về chấm là “biên giới” của Trung Quốc theo quan điểm bành trướng, những vùng đánh số là những lãnh thổ mà nhà cầm quyền Bắc Kinh cho là đã bị nước ngoài chiếm mất, trong đó có Việt Nam.
Bản đồ này đã được in trong cuốn “Sơ lược lịch sử Trung Quốc hiện đại”, xuất bản tại Bắc Kinh năm 1954. Đường về chấm là “biên giới” của Trung Quốc theo quan điểm bành trướng, những vùng đánh số là những lãnh thổ mà nhà cầm quyền Bắc Kinh cho là đã bị nước ngoài chiếm mất, trong đó có Việt Nam.
Trong năm 1936, Chủ tịch Mao Trạch Đông kề chuyện với nhà báo Mỹ Ét-ga Xnâu ở Diên An về thời trẻ của minh, đã bộc lộ ý nghĩ sau khi đọc một cuốn sách nhỏ nói đến việc Nhật chiếm Triều Tiên và Đài Loan, việc mất chủ quyền Trung Hoa ở Đông Dương, Miến Điện và nhiều nơi khác: “Đọc xong, tôi lấy làm thất vọng đối với tương lai đất nước tôi, và tôi bắt đầu nhận thức rằng bổn phận của mọi người là phải đóng góp cứu nước.” Tài liệu của Đảng cộng sản Trung Quốc do Chủ tịch Mao Trạch Đông viết mang tên Cách mạng Trung Quốc và Đảng cộng sản Trung Quốc, xuất bản năm 1939, có viết: “Các nước đế quốc, sau khi đánh bại Trung Quốc, đã chiếm các nước phụ thuộc của Trung Quốc: Nhật chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Lưu Cầu, quần đảo Bành Hồ và Lữ Thuận. Anh chiếm Miến Điện, Butan, Hương Cảng. Pháp chiếm An-nam…”. Qua đó, không khó để thấy tham vọng bành trướng của Bắc Kinh to lớn và khủng khiếp đến nhường nào. Họ thản nhiên khẳng định một quốc gia có lãnh thổ, có chủ quyền, có lịch sử ngàn năm văn hiến là một nước phụ thuộc, là phần lãnh thổ mà họ đã đánh mất. 

Việt Nam: Người chiến thắng bước vào tâm bão

Phó thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến Thụy Sỹ dự Hội nghị Geneva về Đông Dương, tháng 5-1954. Ảnh tư liệu
Phó thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến Thụy Sỹ dự Hội nghị Geneva về Đông Dương, tháng 5-1954. Ảnh tư liệu
Ván cờ đã được sắp đặt, các bên đã ngồi vào bàn với động cơ thì đã rõ ràng. Nước Pháp vẫn hy vọng vào một phép màu quân sự nào đó để họ có thể đàm phán từ thế mạnh. Họ vẫn bám víu vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Hội nghị Genève bắt đầu thảo luận về các vấn đề Triều Tiên trong vô vọng và các bên chỉ đơn giản là lặp lại lập trường của mình trong không khí vô cùng nặng nề. Và rồi thì ngày mùng 7 tháng 5 năm 1954 lịch sử đã tới. Tin tức bay từ Việt Nam đến và nổ tung tại Genève : Điện Biên Phủ đã thất thủ, tướng de Castries đã bước ra khỏi hầm, lá cờ trắng được kéo lên và 16.000 quân viễn chinh tinh nhuệ nhất của Pháp đã trở thành tù binh. Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu tới Genève  không phải vừa tư cách là một thuộc địa đi xin độc lập nữa mà chúng ta tới đây với tư cách của một quốc gia chiến thắng. Mục tiêu cuối cùng của phái đoàn được Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra rõ ràng đó là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không có gì hơn và không có gì kém. Phái đoàn tin rằng chiến thắng quân sự vang dội trên chiến trường phải được chuyển hóa thành một thắng lợi tương xứng trên bản ngoại giao. 
Ngày mùng 8 tháng 5 năm 1954, cung điện các quốc gia Genève. Không khí của phiên họp đầu tiên về Đông Dương không phải là không khí của một cuộc đàm phán nó là không khí của một đám tang. Phái đoàn của Pháp do ngoại trưởng Bidault đã dẫn đầu bước vào phòng họp với tứ cách là đại diện của một đế chế vừa hấp hối. Georges Bidault - người mà chỉ vài ngày trước còn ngạo nghễ tuyên bố rằng: Điện Biên Phủ sẽ là Stalingrad của Việt Minh, giờ đây phải ngồi đối diện với những người chiến thắng. Phái đoàn của Mỹ do ngoại trưởng John Foster Dulles đã sôi sục vì giận dữ. Cái pháo đài bất khả xâm phạm mà họ vừa tài trợ 80% chi phí đã sụp đổ như một lâu đài cát. Liên Xô và Trung Quốc thì mỉm cười và phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu bước vào với một sự điềm tĩnh. Họ không cần phải nói bời vì chiến thắng của họ đã nói thay tất cả. Trong lịch sử ngoại giao hiện đại, hiếm có một phái đoàn nào bước vào đàm phán với một đòn bẩy tuyệt đối và chính nghĩa tới như vậy. Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là một thiên tài về chiến lược quân sự mà nó còn là một nước cờ thiên tài về thời điểm ngoại giao. Nó đảm bảo rằng khi mà phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa bước vào phòng họp, họ sẽ không phải là những người yêu cầu mà chính là những người định đoạt. Ván cờ tưởng chừng như đã kết thúc nhưng hóa ra nó mới chỉ vừa bắt đầu mà thôi. Dù chiến trường quân sự đã kết thúc, nhưng còn một chiến trường khác, trận chiến ngoại giao đầy cam go và thử thách. Chúng ta đã bước vào một bàn cờ thế giới mà chúng ta không hoàn toàn kiểm soát được. Chúng ta phải đối mặt với một nước Pháp đang cố câu giờ, đối mặt với một nước Mỹ đang tìm cách phá hoại và đáng sợ hơn, chúng ta phải đối mặt với chính những người đồng minh đang nói với chúng ta về hòa bình, về lợi ích của phe xã hội chủ nghĩa và về sự cần thiết phải lùi một bước. Đây là một sự thật mang tính cốt lõi, Việt Nam đã phải chiến đấu trên cả hai mặt trận. Một mặt trận quân sự ở quê nhà và một mặt trận ngoại giao đơn độc tại Genève  ngay cả khi ngồi cạnh các đồng minh. 

Nước cờ chiếu tướng: Bản đề xuất tám điểm 

Phiên họp ngày mùng 10 tháng 5 năm 1954, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người phát biểu đầu tiên. Đây không chỉ là một bài phát biểu, đây là một bản tuyên ngôn. Với tư cách là người chiến thắng, ông đặt lên bản đàm phán một bản đề xuất tám điểm. Đó là một nước cờ tất tay, một nước cờ phản ánh chính xác những gì đã đạt được bằng xương máu tại Điện Biên phủ. Những điểm chính yếu nhất là: 
- Thứ nhất đó là phải công nhận tuyệt đối. Pháp phải công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam cùng với cả Lào và Campuchia. 
- Hai, rút quân hoàn toàn. Quân đội Pháp phải rút lui khỏi toàn bộ lãnh thổ Đông Dương không điều kiện. 
- Ba, tổng tiền cử. Phải tổ chức tổng tuyển cử tự do trên cả ba nước để thành lập một chính phủ thống nhất. 
- Bốn, công nhận kháng chiến. Phải thừa nhận vai trò và vị trí của các chính phủ kháng chiến Pathet Lào và Khmer Issarak.
Đây là một đòn chiếu tướng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, họ không yêu cầu mà họ định đoạt. Họ bắt Pháp phải đàm phán với tư cách là một bên bại trận và họ buộc thế giới công nhận không chỉ chiến thắng của Việt Nam mà còn là của cả ba dân tộc tại bán đảo Đông Dương. Phản ứng trong phòng họp là một sự im lặng chết chóc. Người Pháp choáng váng, họ đến đây để tìm một lối thoát trong danh dự chứ không phải là một bản án tử hình cho đế chế của họ. Người Mỹ thì gọi đây là sự trơ trẽn của cộng sản, John Foster Dulles tức giận tới mức từ chối bắt tay Chu Ân Lai và bỏ về Mỹ vài ngày sau đó để lại một cấp dưới với chỉ thị rõ ràng không được ký vào bất cứ thứ gì. Quan trọng nhất, phản ứng của hai đồng minh lớn mới thực sự là điều đáng nói. Ngoại trưởng Liên Xô Molotov và Thủ tướng Trung Quốc Chu vỗ tay tán thưởng bài phát biểu của ông Phạm Văn Đồng. Thế nhưng sau lưng họ bắt đầu suy tính, họ thấy rằng nước cờ tám điểm này nó quá mạnh, nó không phải là một giải pháp để kết thúc chiến tranh mà là một giải pháp để thắng chiến tranh. Cả Liên Xô lẫn Trung Quốc vì những lý do chiến lược toàn cầu riêng đều không muốn Việt Nam thắng một cách tuyệt đối như vậy và họ bắt đầu có những tính toán cho những nước đi tiếp theo, những nước đi mà chúng ta chẳng thể lường trước được. 
Ở các phiên họp kế tiếp, tình thế rõ ràng nhất chỉ là bế tắc vì lập trường của các bên là quá cứng rắn và khác biệt. Pháp thì nhấn mạnh là họ chỉ giải quyết vấn đề quân sự, chứ không đề cập tới vấn đề chính trị. Đồng thời thì cần phải tách riêng 3 vấn đề của Lào, và Campuchia ra khỏi vấn đề Việt Nam. Mỹ thì họ cũng rất ủng hộ quan điểm của Pháp. Thế nhưng ngược lại đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa yêu cầu phải có đại diện kháng chiến của Lào và Campuchia cùng tham dự, khẳng định lập trường giải quyết đồng thời cả hai vấn đề quân sự và chính trị cũng như là cả 3 vấn đề Việt Nam, Lào và Campuchia. Việt Nam không thể nào yên ổn nếu như các chính phủ thân phương Tây ở Lào và Campuchia vẫn đang tồn tại. Hai nước đó nằm ngay cạnh Việt Nam mình, nó chọc ngoáy lúc nào mà chả được. Đình chiến chỉ là giải pháp ngắn hạn, muốn hòa bình thì chính trị phải ổn định. Chính vì thế nên vấn đề chính trị và quân sự phải được giải quyết song song. Theo nhật ký của cố luật sư Phan Anh, trưởng đoàn Phạm Văn Đồng ngay khi mở đầu đã đề nghị mời đại biểu Khmer Issarak và Pathet Lào vào cùng dự họp. Đây là 2 tổ chức chống Pháp ở Lào và Campuchia, rõ ràng là họ có liên quan và phải được mời vào họp. Thế nhưng ngoại trưởng của Pháp là Georges Bidault đã bác bỏ đề nghị của Việt Nam và gọi Khmer Issarak và Pathet Lào là "chính phủ ma". Ngay lập tức thì trưởng đoàn Phạm Văn Đồng Đã cho ngoại trưởng của Pháp ăn quả đòn chí mạng. Ông nói rằng: Có những hạng người, tuy còn sống, nhưng cũng là ma vì họ hết thời rồi. Chúng tôi còn nhớ trước kia đại biểu của Pháp cũng gọi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính phủ ma. Vậy câu hỏi đặt ra các ông phải đi đánh ma để bị thiệt mạng hàng vạn quân hay sao. Bây giờ, chính phủ ma ấy đã đến đây và ngồi trước mặt các ông. Các ông muốn biết chính phủ Khmer Issarak và Pathet Lào là thật hay ma, cứ việc mời họ đến đây. Câu nói đấy đã khiến cho ngoại trưởng của Pháp mặt cắt không còn giọt máu, chỉ biết ngồi gượng cười mà thôi, thế nhưng phía Pháp vẫn rất cứng bảo lưu quan điểm của mình. Vì nếu Bidault mà đồng ý với yêu cầu trên thì khác gì Pháp nó tự nhận là dưới cơ Việt Nam, một cường quốc không thể nào chấp nhận việc đó được.  Chính vì ai cũng giữ lập trường vô cùng cứng rắn nên qua các phiên họp toàn thể chẳng có một chút tiến triển gì đáng kể cả.  
- Hết phần 1 -

Nguồn:

- Series "Hội nghị Geneve - ván cớ trước bình minh" trên kênh Battlecry - Người kể sử
- Sách Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 30 năm qua
- Sách Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève  1954. Nguyên tác: Chu Ân Lai Dữ Nhật Nội Ngõa Hội Nghị
Các mốc thời gian hội nghị Genève: https://special.nhandan.vn/hiep-dinh-geneva-1954/index.html
- Mỹ can thiệp vào hội nghị Genève  như thế nào: https://thuviennguyenvanhuong.vn/my-can-thiep-vao-hoi-nghi-geneva-nam-1954-nhu-the-nao.html