Trường phái kinh tế học Áo: những người cuồng tín thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản

Vào thời điểm viết bài này, nền kinh tế toàn cầu đang trong vòng kìm kẹp của sự hỗn loạn và khủng hoảng, – kết quả của một tổ hợp dễ bùng cháy gồm những biến động đầy bất ổn của cầu, những năm tháng thường xuyên đầu tư ở mức thấp, và những điểm nghẽn do đại dịch gây ra trong sản xuất và phân phối.
Một số chuyên gia đang dự đoán rằng sẽ mất nhiều năm trước khi những vấn đề tồn đọng được dọn sạch, sự khan hiếm lao động được lấp đầy, và giá cả đi vào ổn định. Trong khi đó, các gia đình bình thường đối diện với sự khan hiếm các nhu yếu phẩm như lương thực và nhiên liệu, và thu nhập thực của các hộ gia đình đang bị xói mòn bởi lạm phát phi mã.
Những mâu thuẫn điên rồ hiển hiện khắp mọi nơi. Ở Anh, chẳng hạn, 100.000 con lợn được dự kiến đem đi giết mổ rồi bị vứt bỏ như phế phẩm vì thiếu những người giết mổ lành nghề. Nói cách khác, logic lạnh lùng của động cơ lợi nhuận đang dẫn đến cái chết vô nghĩa của số lượng lớn động vật, trong khi các giá hàng trong siêu thị trống rỗng.
Người ta có thể thấy một ví dụ tương tự ở thị trường bất động sản Anh, với diễn cảnh ghê tởm của hàng trăm ngàn căn nhà trống rỗng đang được dùng làm phương tiện đầu cơ, cùng với số lượng tương tự người dân đang trong cảnh màn trời chiếu đất ngoài đường phố, những danh sách dài chờ đợi nhà ở do chính quyền địa phương cung cấp, và một cuộc khủng hoảng nhà ở thảm khốc.
Trong lúc đó, ở quy mô toàn cầu, nhân loại đối mặt với cuộc khủng hoảng sống còn do thảm họa khí hậu gây ra. Rõ ràng là chủ nghĩa tư bản đang giết chết hành tinh. Nhưng các chính trị gia của đại doanh nghiệp không có giải pháp nào cho thảm họa đang lơ lửng trên đầu.
Tất cả những sự kiện đó là một chứng minh rõ nét về cái gọi là ‘sự hiệu quả’ và ‘sự năng động’ của thị trường tự do; của ‘sức mạnh’ cạnh tranh. Chúng đã phơi bày sự phá sản của chủ nghĩa tư bản – một hệ thống sản xuất vì lợi nhuận, không vì nhu cầu. Và chúng đã làm sáng tỏ lý do tại sao chúng ta cần một sự thay thế xã hội chủ nghĩa chân chính, dựa trên việc lập kế hoạch kinh tế, sở hữu công, và sự kiểm soát của công nhân.
Đối mặt với tình trạng vô chính phủ và điên rồ này, gần đây hầu hết những kẻ ủng hộ thị trường tự do điên cuồng tất nhiên đã bớt ồn ào hơn một chút – trên mạng trực tuyến, trên phương tiện truyền thông, và trên đường phố.
Mặc dầu vậy, lập trường cơ bản mà chúng bảo vệ, về sự hiệu quả của thị trường, vẫn sống khỏe bên trong các bộ môn và sách giáo khoa kinh tế học của các trường đại học, nơi sinh viên bị nhồi nhét một thực đơn dựa trên ‘giả thuyết thị trường hiệu quả’.
Theo các ‘lý thuyết’ như thế, kinh tế chẳng có gì nhiều hơn một loạt những đồ thị, những phương trình, và những mô hình toán học – một hệ thống được lý tưởng hóa mà tất cả sẽ ở trong trạng thái cân bằng hoàn hảo và hài hòa, nếu không phải vì những đoàn viên công đoàn phiền hà đòi tăng lương; các nhà băng trung ương in quá nhiều tiền và thổi phồng bong bóng; và các chính trị gia dựng lên những hàng rào đê tiện để cản trở tự do thương mại.
Trong thực tế, những tư tưởng đó cũng xưa như chính chủ nghĩa tư bản. Chúng có thể được truy ngược trở về ‘Định luật Say’, được cho là của Jean Baptiste Say (một nhà kinh tế học cổ điển Pháp cuối thế kỷ XVIII / đầu thế kỷ XIX), ông khẳng định rằng cung tạo ra cầu của chính nó; rằng mỗi người bán đem lại một người mua cho thị trường.
Kết luận của cái được cho là ‘định luật’ này là thị trường nên được để mặc không bị cản trở và không bị hạn chế, để mang lại sự cân bằng trong nền kinh tế. Chưa tính đến những hậu quả xã hội và cái giá con người – ‘về lâu về dài’ tất cả sẽ ổn giá như ‘bàn tay vô hình’ của thị trường được phép thực hiện ma thuật của nó.
Đây là tiền đề cơ bản của chủ nghĩa tư bản laissez-faire [tự do, không can thiệp] mà những người theo chủ nghĩa tự do đã bám víu suốt nhiều thập niên, dẫu mưa hay nắng.

Trường phái cổ điển

Chừng nào họ còn nhận thức về di sản của mình, những gốc rễ lý thuyết của chủ nghĩa tự do hiện đại có thể được tìm thấy trong các nhà kinh tế học ‘Trường phái Áo’ – những đại biểu khét tiếng nhất của nó là Friedrich Hayek và người dìu dắt ông, Ludwig von Mises.
Đỉnh cao của trường phái cổ điển gắn liền với sự xuất hiện của các nhà kinh tế học Anh như Smith và Ricardo. / Ảnh: Miền công cộng
Đỉnh cao của trường phái cổ điển gắn liền với sự xuất hiện của các nhà kinh tế học Anh như Smith và Ricardo. / Ảnh: Miền công cộng
Những kẻ phản động công khai này, đến lượt, coi mình như là những kẻ thừa kế thật sự của trường phái tự do cổ điển của kinh tế học tư sản, nổi tiếng bởi những nhân vật như Adam Smith và David Ricardo.
Trường phái cổ điển nổi lên như một nhánh của ‘khoa kinh tế chính trị’ – kinh tế học như một lĩnh vực nghiên cứu cụ thể, mà đã tiến hóa cùng với sự vươn lên của chủ nghĩa tư bản. Phái này sinh ra những nhà tư tưởng cố gắng hiểu kinh tế một cách khoa học; họ tìm cách nghiên cứu chủ nghĩa tư bản như một hệ thống với những quy luật và sự năng động riêng của nó.
Và trong khi họ dựa vào năng lực trừu tượng hóa để khám phá các quy luật đó, họ đã không sa vào những ‘mô hình’ toán học lý tưởng mà không có liên hệ với thực tại, rất đặc trưng cho các nhà kinh tế học tư sản và giới học giả hôm nay.
Các nhà kinh tế học cổ điển là một phần của phong trào Khai minh thế kỷ XVIII: một phong trào tư tưởng dựa trên thế giới quan triết học duy vật, cố gắng tìm cách giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và xã hội trên cơ sở ‘lý luận’ và ‘tính hợp lý’.
Đỉnh cao của trường phái cổ điển gắn liền với sự xuất hiện của các nhà kinh tế học Anh như Smith và Ricardo, những người nghiên cứu những vấn đề then chốt liên quan đến cách thức vận hành của hệ thống tư bản, bao gồm những khái niệm như giá trị, trao đổi, tiền lương, địa tô, và sự phân công lao động.
Chủ nghĩa tự do của họ, đến lượt, phản chiếu những lợi ích của giai cấp tư sản Anh – cung cấp một sự biện hộ ở phương diện lý thuyết cho các chính sách tự do thương mại mà giai cấp tư sản bản địa của họ đang theo đuổi để tạo ra và thống trị thị trường thế giới.
Về phương diện cố gắng hiểu rõ chủ nghĩa tư bản bằng lý thuyết và khoa học, Marx đã tiếp tục một cách có ý thức ở nơi Ricardo bỏ lại. Chính theo ý nghĩa này Marx và Engels gọi tư tưởng của họ là ‘chủ nghĩa xã hội khoa học’ – họ dựa vào quan điểm duy vật về lịch sử và về kinh tế; không dựa vào những bản thiết kế không tưởng về xã hội có thể sẽ như thế nào.
Tuy nhiên, không như Ricardo, mục đích của các trước tác kinh tế của Marx không đại diện cho lợi ích của giai cấp tư sản mà để trang bị lý luận cho giai cấp công nhân và phong trào lao động.
Xuất phát từ cùng giả định như Ricardo và người giỏi nhất trong số các nhà kinh tế học cổ điển, Marx đã chỉ ra trong ba quyển của bộ Tư bản – cùng với nhiều tác phẩm khác về kinh tế học – cách thức chủ nghĩa tư bản bị bắn thủng lỗ chỗ bởi những mâu thuẫn và vốn dĩ dễ lâm vào khủng hoảng.
Bằng cách sử dụng phương pháp như thế, phát triển các lý thuyết kinh tế học cổ điển, rồi rút ra những kết luận hợp logic ẩn chứa bên trong các lý thuyết đó, Marx nhắm đến việc “giáng cho giai cấp tư sản một đòn lý luận mà nó sẽ không bao giờ phục hồi được”.
Marx đã giải thích những kết luận bắt nguồn từ việc phát triển các tư tưởng của Smith và Ricardo dựa trên cơ sở khoa học và duy vật nhất quán. Ông chỉ ra cách thức chủ nghĩa tư bản chứa đựng mầm mống của sự diệt vong của nó, thông qua sự vận hành của chính các quy luật mà các nhà kinh tế học cổ điển đã bắt đầu khám phá.
Các nhà kinh tế học tư sản mà đi theo Ricardo, do đó, buộc phải rút lui: từ bỏ phương pháp khoa học của trường phái cổ điển; rút lui về với chủ nghĩa duy tâm, và làm cho chủ nghĩa tư bản trở nên bí ẩn.
Vì lý do này, Marx gọi những quý bà và quý ông đó là những nhà kinh tế học ‘tầm thường’. Thay vì tìm cách giải thích thật sự và hiểu rõ hệ thống tư bản, các nhà tư tưởng phản động này đã trở thành những kẻ ‘biện hộ’ thuần túy cho nó.

Cuộc tấn công của thành Vienna

Đến cuối thế kỷ XIX, giai cấp công nhân có tổ chức đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Các công đoàn quần chúng và các đảng xã hội chủ nghĩa đã được gây dựng. Năm 1889, Quốc tế II được thành lập để phối hợp nỗ lực của phong trào xã hội chủ nghĩa quốc tế.
Các tổ chức này – ít nhất là trên giấy tờ – tán thành các tư tưởng của chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa xã hội khoa học, và cách mạng.
Giai cấp thống trị có thể cảm nhận mối đe dọa của phong trào công nhân đang lên này, cũng như mối đe dọa của các tư tưởng Marxist mà phong trào dựa vào, và bắt đầu một cuộc phản công hệ tư tưởng toàn diện. Tâm chấn của các cuộc tấn công của chúng là đến từ nước Áo – và đặc biệt là từ trường Đại học Áo.
Là thủ đô đầu tiên của Đế quốc Áo-Hung, thành Vienna fin de siècle1 là chủ nhà cho một loạt phong trào trí thức, văn hóa, và khoa học, với triết gia Ludwig Wittgenstein, nghệ sĩ Gustav Klimt, và người đặt nền móng cho phân tâm học, Sigmund Freud, trong số các nhân vật nổi tiếng đang chen vai nhau trong các tiệm cà phê đầu thế kỷ XX.
1 cuối thế kỷ
Trường Đại học Áo, trong lúc đó, đã trở thành một ổ tư tưởng phản động. Về triết học, nó là nơi sản sinh ra chủ nghĩa duy tâm chủ quan nơi Ernst Mach mà thậm chí đã trở thành thời thượng trong một tầng lớp trí thức và phong trào lao động Nga.
Kết quả là, Lenin cảm thấy cần phải mở một cuộc phản công quyết liệt chống lại Mach và những môn đồ của Mach, ông đã thực hiện điều đó một cách xuất sắc trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán – một luận chiến đầy sức thuyết phục cùng lúc bóc trần sự khô cằn của những quan điểm chủ quan đó, trong khi cung cấp một sự bảo vệ trọn vẹn cho chủ nghĩa duy vật.
Tuy nhiên, các tư tưởng của Mach có ảnh hưởng đến sự phát triển về sau của các xu hướng triết học nguy hại hơn, chẳng hạn chủ nghĩa thực chứng logic, được Nhóm Vienna bênh vực. Và các xu hướng đó, đến lượt, đã để lại dấu ấn lên các nhà tư tưởng Áo như Karl Popper, người đã công khai tuyên chiến với chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Lý thuyết giá trị lao động

Trên mặt trận kinh tế, cuộc tấn công của giai cấp tư sản Áo được dẫn dắt bởi các nhân vật như Eugen von Böhm-Bawerk, Friedrich von Wieser, và thầy phụ đạo họ là Carl Menger, những người cũng bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa duy tâm chủ quan đang thịnh hành trong trường Đại học Vienna và vùng xung quanh.
Nhân vật Robinson Crusoe, bị mắc kẹt trên một hòn đảo và phải tự tìm cách xoay xở, thường được các nhà kinh tế học tư sản sử dụng như một mô hình xã hội bị đơn giản hóa quá mức, thoát ly khỏi sự vận hành thực sự của nó. / Ảnh: Alexander Frank Lydon
Nhân vật Robinson Crusoe, bị mắc kẹt trên một hòn đảo và phải tự tìm cách xoay xở, thường được các nhà kinh tế học tư sản sử dụng như một mô hình xã hội bị đơn giản hóa quá mức, thoát ly khỏi sự vận hành thực sự của nó. / Ảnh: Alexander Frank Lydon
Những viên đạn đầu tiên chống chủ nghĩa Marx đã bắn vào ‘lý thuyết giá trị lao động’2 (LTV): nền móng của kinh tế học Marxist, cung cấp lời giải thích cho quy luật giá trị vốn là cơ sở của sự trao đổi hàng hóa (hàng hóa và dịch vụ được sản xuất cho mục đích trao đổi), và đo đó giải thích những động lực của chủ nghĩa tư bản.
2 Labour theory of value
3 Marginal utility theory
Thay cho LTV, trường phái Áo có lý thuyết riêng của mình: Lý thuyết lợi ích biên3 (MUT).
Dựa trên sở thích của cá nhân người tiêu dùng, không dựa vào những yếu tố xã hội khách quan, MUT là một ‘lý thuyết’ hoàn toàn chủ quan, phi khoa học, đã được phát triển đồng thời bởi nhiều nhà kinh tế học tầm thường trên khắp châu Âu, bao gồm William Stanley Jevons ở Anh, Leon Walras ở Pháp/Thụy Sĩ, và Carl Menger ở Áo.
MUT đối lập hoàn toàn với LTV: một lý thuyết duy vật mà có thể truy ngược trở về Aristotle. Về cơ bản, LTV giải thích rằng chính việc áp dụng lao động – và thời gian lao động – vào sản xuất mới làm cho đồ vật có giá trị.
Khái niệm này đã được tiếp nhận và phát triển bởi các nhà kinh tế học cổ điển như Smith và Ricardo, tạo thành một trụ cột chủ yếu cho các học thuyết kinh tế của họ. Marx, đến lượt, cũng dựa trên LTV, trong khi đem lại cho nó một năng lực biện chứng mà quan điểm cổ điển không có.
Vấn đề đối với tư tưởng của Smith và Ricardo là, dù cố gắng đạt đến ‘tính hợp lý’ dựa trên cơ sở của một phương pháp tiếp cận khoa học, họ đã bị tiêm nhiễm chủ nghĩa cá nhân của chủ nghĩa tự do tư sản mà họ và phong trào Khai minh đại diện.
Họ đáng được ca ngợi vì nỗ lực phân tích chủ nghĩa tư bản như một hệ thống, với các quy luật vận động mà có thể khám phá được và hiểu rõ. Nhưng đối với họ, hệ thống này là một hệ thống đơn giản, cơ giới.
Nói cách khác, họ nhìn kinh tế không khác gì hơn một sự bổ sung của những cá nhân lao động rồi trao đổi trực tiếp với một cá nhân khác; những con người bị cô lập trên một đảo hoang, so sánh thời gian lao động của nhiều nhiệm vụ sản xuất khác nhau trong đầu họ.
Trong mô hình ‘Robinson Crusoe’ này, tồn tại một cá nhân đơn lẻ mà vừa là người sản xuất duy nhất vừa là người tiêu dùng duy nhất. Trong lúc đó, nơi các quy luật trao đổi phải được nghiên cứu, hệ thống tư bản lại được xem như là một phiên bản phóng to của một nền kinh tế trao đổi hiện vật.
Ví dụ, cư dân bị mắc kẹt trên hòn đảo tưởng tượng của chúng ta có thể mất bốn giờ chặt cây để làm ra một cái bè gỗ, và bốn giờ khác để thu hoạch một trăm trái dừa; do đó, họ sẽ kết luật rằng một cái bè đó giá trị bằng một trăm trái dừa.
Tuy nhiên, rõ ràng là tình huống giả định trừu tượng này cách xa một triệu dặm so với những thực tại của chủ nghĩa tư bản. Chúng ta sống trong một nền kinh tế cấu thành không phải bởi các cá nhân tách biệt, mà bởi các giai cấp: bởi những người công nhân phải nuôi sống bản thân và gia đình bằng đồng lương; và bởi những nhà tư bản sử dụng và bóc lột những công nhân đó để kiếm lời.
Giao thương và trao đổi, tuy nhiên, không diễn ra trực tiếp giữa những nhà sản xuất cá thể, dưới dạng trao đổi hiện vật, mà thông qua việc kinh doanh và những người tiêu dùng; tức là, thông qua những sự tương tác lạnh lùng của tiền và thị trường – ngày nay, càng ngày càng thông qua việc đăng nhập vào các nền tảng được cung cấp bởi các công ty độc quyền như Amazon.

Marx và giá trị

Vì lý do này, Marx lấy tiền đề cơ bản này trong lý thuyết giá trị lao động – tiền đề cho rằng lao động là nguồn gốc của mọi giá trị mới – và phát triển nó xa hơn.
Marx cho rằng lợi nhuận của các nhà tư bản đến từ giá trị thặng dư, nó đến lượt đơn giản là lao động không được trả công của giai cấp công nhân. / Ảnh: Edward Burtynsky
Marx cho rằng lợi nhuận của các nhà tư bản đến từ giá trị thặng dư, nó đến lượt đơn giản là lao động không được trả công của giai cấp công nhân. / Ảnh: Edward Burtynsky
Ông giải thích rằng không phải thời gian lao động cá nhân, mà là thời gian lao động xã hội cần thiết mới làm cho hàng hóa có giá trị: thời gian trung bình cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa cho thị trường, dưới những điều kiện kỹ thuật và lịch sử cụ thể.
Sự thấu triệt này, đến lượt, là cơ sở cho lý thuyết bóc lột của Marx, cái đã bóc trần sự bí ẩn của nguồn gốc lợi nhuận – một điều bí bẩn đã lảng tránh các nhà kinh tế học cổ điển.
Tóm lại, Marx cho rằng lợi nhuận của các nhà tư bản đến từ giá trị thặng dư, nó đến lượt đơn giản là lao động không được trả công của giai cấp công nhân.
Cái mà nhà tư bản mua từ người công nhân, Marx nói, không phải lao động của họ, mà là sức lao động – khả năng hoặc tiềm năng lao động của họ trong một khoảng thời gian xác định (một giờ, một ngày, một tháng, v.v.), đổi lại việc họ được trả một khoản tiền lương.
Trong ngày lao động, tuy nhiên, người công nhân sản xuất giá trị lớn hơn so với họ được trả dưới dạng tiền lương; tức là, chỉ mất một phần của ngày lao động để giai cấp công nhân, tính trung bình, sản xuất ra hàng hóa cần thiết để duy trì và tái sản xuất chính sức lao động của họ.
Phần còn lại của ngày lao động, lớn hơn-và-nằm ngoài thời gian lao động xã hội cần thiết cần có để tái sản xuất giai cấp công nhân, cấu thành lao động thặng dư, và do đó cấu thành giá trị thặng dư, cái mà nhà tư bản trong thực tế nhận được miễn phí.
Quy luật giá trị, do đó, đứng đằng sau tất cả các động lực khác của chủ nghĩa tư bản: động cơ của các ông chủ đối với việc tăng cường độ lao động và bóp nặn nhiều giá trị thặng dư hơn nữa từ giai cấp công nhân; sự thúc đẩy đối với việc nâng cao năng suất lao động bằng cách đầu tư vào công nghệ, để cạnh tranh thắng các nhà sản xuất khác, và do đó tạo ra siêu lợi nhuận; và xu hướng cố hữu dẫn đến sự tích lũy, sự mở rộng, và sự tăng trưởng.
Và quan trọng nhất, vẫn cùng quy luật giá trị này cũng giải thích tại sao chủ nghĩa tư bản lại rơi vào khủng hoảng theo chu kỳ – những cuộc khủng hoảng sản xuất thừa, vốn nảy sinh do những nguồn gốc của lợi nhuận: thực tế là giai cấp công nhân, chỉ nhận một phần giá trị mà họ tạo ra, không bao giờ có thể đủ sức mua lại mọi hàng hóa mà họ tạo ra. Hoặc nói cách khác, thực tế là, dưới chủ nghĩa tư bản, các lực lượng sản xuất liên tục phát triển nhanh hơn những giới hạn của thị trường.

Giá cả và giá trị

Trường phái Áo có thể cũng thấy tầm quan trọng của LTV đối với chủ nghĩa Marx. Do đó, họ công khai tìm cách tập trung những cuộc công kích của họ vào cái mà họ cảm thấy là chỗ dễ bị tấn công của chủ nghĩa xã hội khoa học.
Marx giải thích rằng chính thời gian lao động xã hội cần thiết quyết định tại sao một số hàng hóa giá trị hơn các hàng hóa khác. / Ảnh: Miền công cộng
Marx giải thích rằng chính thời gian lao động xã hội cần thiết quyết định tại sao một số hàng hóa giá trị hơn các hàng hóa khác. / Ảnh: Miền công cộng
Nếu họ có thể làm xói mòn nền tảng này, họ tin như thế, những phần còn lại của học thuyết Marxist có thể sụp đổ – và cùng với nó là toàn bộ phong trào xã hội chủ nghĩa.
Học trò của Carl Menger là Eugen von Böhm-Bawerk đã trở thành chiến sĩ trong số các nhà tân cổ điển Áo trong trận đánh chống chủ nghĩa Marx của họ. Janek Wasserman, tác giả của The Marginal Revolutionaries [Các nhà cách mạng của lý thuyết lợi ích biên], một tiểu sử tập thể về trường phái Áo, viết, “Ông ta nhận ra mối đe dọa đang lù lù hiện ra của chủ nghĩa xã hội Marxist, cả về chính trị cũng như về kinh tế, và cố gắng làm suy yếu nó bằng cách sử dụng lý thuyết lợi ích biên”.
Böhm-Bawerk đưa ra nhiều phê phán khác nhau về LTV và chủ nghĩa Marx, phần lớn trong số đó dựa trên (có khả năng là có chủ đích) sự hiểu sai và sự nhầm lẫn xung quanh sự khác nhau giữa lao độngsức lao động; nhưng quan trọng hơn cả, là sự khác nhau giữa giá trịgiá cả.
Bản thân Marx đã phân biệt rất rõ ràng giữa các khái niệm đó. Ông không từ chối vai trò của các lực thị trường – cung cầu – trong việc quyết định giá cả. Nhưng điều đó, Marx giải thích, giống như tiếng ồn mờ nhạt chung quanh một tín hiệu cơ bản.
Đằng sau cái có vẻ như là sự ngẫu nhiên và hỗn loạn của giá cả, ông giải thích, là một trật tự; một điều gì đó có quy luật và khách quan. Nói cách khác, giữa những sự biến động và những sự ‘ngẫu nhiên’ này, có một ‘tất yếu’: quy luật giá trị.
Marx giải thích trong Tư bản:
… trong những quan hệ trao đổi ngẫu nhiên và thường xuyên biến động giữa các sản phẩm của những lao động ấy, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra các sản phẩm ấy chỉ dùng bạo lực để tự mở đường cho mình với tư cách là một quy luật tự nhiên có tác dụng điều tiết, cũng giống như quy luật trọng lực làm cho người ta biết đến nó khi chiếc nhà sụp đổ xuống đầu mình. Vì thế, việc quy định đại lượng của giá trị bằng thời gian lao động là một điều bí mật ẩn giấu đằng sau sự vận động có thể thấy được của giá trị tương đối của hàng hóa.4
4 Tư Bản, Marx và Engels (2002), tr. 119-120.
Tiếp tục dựa trên sự loại suy của Marx với luật hấp dẫn: cái mà chúng ta quan sát dưới dạng chuyển động hành tinh chỉ là bề ngoài của các hiện tượng. Nhưng đằng sau vẻ bề ngoài này là các quy luật không nhìn thấy được, không sờ mó được – nhưng khách quan và có tính vật chất; các quy luật mà có thể khám phá được và nhận thức được.
Những quy luật như vậy không tồn tại một cách tách biệt với tự nhiên hoặc xã hội: chúng không được mã hóa vào bầu trời đêm, hoặc đan vào trong cơ cấu ý thức và hành vi của con người. Đúng hơn, chúng là những động lực phổ biến, biện chứng của sự vận động nảy sinh từ những tương tác phức tạp xảy ra trong hệ thống đang xem xét.
Cũng thế, quy luật giá trị không phải là điều gì đó vô tận và ngoại tại, mà là một quy luật chỉ tự khẳng định tại một thời điểm lịch sử khi sản xuất và trao đổi hàng hóa trở nên phổ biến, phổ quát, và thống trị – đến mức sản xuất mất đi mọi tính cách cá nhân hoặc đặc thù, và các tác nhân trong thị trường không đối diện với nhau, mà đối diện với một mức giá khách quan.
Sau đó, sự trao đổi hàng hóa, theo trung bình, được quyết định bởi giá trị của chúng – tức là, bởi thời gian lao động xã hội cần thiết (TGLĐXHCT) đã kết tinh trong một hàng hóa. Điều này bao gồm cả ‘lao động chết’ được biểu hiện và mất đi dưới dạng nguyên liệu thô, công cụ, và máy móc, v.v. bị hao mòn trong quá trình sản xuất; và ‘lao động sống’ mà người công nhân bổ sung vào, điều đó mới tạo ra giá trị mới.
Các lực thị trường tác động nhằm đẩy giá cao hơn và thấp hơn giá trị này. Chẳng hạn, khi cầu đối với một hàng hóa nhất định vượt quá cung sẵn có, thì giá của nó sẽ tăng cao hơn giá trị của nó. Và ngược lại khi cung vượt quá cầu.
Trong thực tế, đây là trường hợp thường gặp nhất, với đủ thứ ‘méo mó’ – như sự tồn tại của các độc quyền – ngăn không cho cung cầu ở trong trạng thái cân bằng hoàn hảo. Do đó, giá sẽ có xu hướng biến động.
Nhưng các dao động này sẽ có xu hướng diễn ra xung quanh một giá trung bình nào đó. Các hàng hóa nào đó sẽ luôn có xu hướng đổi ra được theo lỷ lệ cao hơn so với hàng hóa khác. Trừ phi anh có một chiếc xe hơi thật sự cũ nát, hoặc một chiếc bút đẹp ngoài sức tưởng tượng, một chiếc xe hơi sẽ có xu hướng đáng giá bằng nhiều chiếc bút.
Khi cung và cầu được cho là ở trong trạng thái ‘cân bằng’, nói cách khác, Marx giải thích, chính TGLĐXHCT quyết định tại sao một số hàng hóa giá trị hơn các hàng hóa khác.
Lý thuyết lợi ích biên, trái lại, chỉ nhìn vào giá; chỉ nhìn vào cái bề ngoài hời hợt, và không nhìn vào các quy luật vận động cơ bản. Như sự hoài nghi theo kiểu Oscar Wilde, những người cận biên “biết giá cả của mọi thứ, nhưng không biết giá trị của chúng”.

Chủ nghĩa cận biên và chủ nghĩa chủ quan

Khi bác bỏ LTV, những người ủng hộ MUT đang đoạn tuyệt một cách có ý thức với di sản của trường phái cổ điển, phái đã đặt cơ sở cho phân tích của nó về chủ nghĩa tư bản ở trong sản xuất. Trái lại, MUT bây giờ trông cậy vào người tiêu dùng để quyết định giá trị của hàng hóa.
“Những người cận biên lật kinh tế học cổ điển đứng bằng đầu,” Wasserman nhận xét trong The Marginal Revolutionaries. “Thay vì tập trung vào mặt sản xuất của kinh tế học, họ chuyển sang mặt tiêu dùng. Chính sự thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng mới có ý nghĩa đối với giá trị, chứ không phải lao động cần cho sản xuất.”
Nói cách khác, những người đề xướng MUT coi giá trị là cái gì đó chủ quan thuần túy, dựa trên ‘lợi ích’ của một hàng hóa: sự hữu dụng đối với người tiêu dùng so với các hàng hóa khác, tại “biên”.
“Giá trị là … tầm quan trọng mà các sản phẩm riêng lẻ hoặc những lượng sản phẩm dành cho chúng ta bởi vì chúng ta ý thức việc bị phụ thuộc vào sự kiểm soát của chúng đối với sự thỏa mãn các nhu cầu của chúng ta,” Menger tuyến bố, theo một cuốn sách mỏng xuất bản bởi Viện Lugwid von Mises có tựa là The Austrian School of Economics: A History of Its Ideas, Ambassadors, and Institutions [Trường phái Kinh tế học Áo: Một lịch sử về các tư tưởng, các đại sứ, và các học viện].
Thật trớ trêu, Viện Ludwig von Mises đã đưa cuốn sách này lên mạng miễn phí) – một sự thú nhận ngầm rằng những tư tưởng như vậy không có ‘lợi ích’ cho xã hội.
Cũng như thế, Wasserman cung cấp một định nghĩa cô đọng của Wieser về lợi ích biên: “Nói đơn giản, giá trị của một đơn vị tách biệt [của một hàng hóa] được quyết định bởi phần ít giá trị nhất trong sự hữu dụng cho phép của đơn vị đó.”
Tuy nhiên, Marx cũng hiểu tầm quan trọng của các hàng hóa có một lợi ích; một ‘giá trị-sử dụng’ cho xã hội. Nếu một hàng hóa không có ích gì cho ai, thì người ta không thể bán nó. Kết quả là, hàng hóa đó không có ‘giá trị-trao đổi’; không có giá. Nó sẽ hoàn toàn vô dụng.
Đây là câu trả lời cho sự chỉ trích tầm thường về cái gọi là ‘nghịch lý bánh bùn’, qua đó các đối thủ của kinh tế học Marxist cố giễu cợt ý kiến cho rằng lao động là nguồn gốc của giá trị. Những kẻ giễu cợt đó hỏi, “Hẳn là nếu tôi mất hàng giờ để làm ra một chiếc bánh bùn, thì nó phải cực kỳ có giá trị?”
Nhưng một khẳng định như thế là sai lầm rõ ràng vì hai lý do, như Marx đã giải thích hơn cả đầy đủ vì đã lường trước. Đầu tiên, như đề cập ở trên, mọi hàng hóa phải có một giá trị-sử dụng – một sự hữu dụng – để được trao đổi, và do đó có một giá trị-trao đổi.
Thứ hai, mặt khác, thậm chí nếu một chiếc bánh bùn có ích cho người nào đó, thì không phải thời gian lao động cá nhân hoặc cá thể đã đầu tư vào sản xuất sẽ làm cho nó có giá trị, mà là thời gian lao động trung bình hoặc xã hội cần thiết cần có để làm ra một hàng hóa như thế nói chung, trong những điều kiện lịch sử và xã hội cụ thể.
Nói cách khác, cái mà chúng ta thấy dưới chủ nghĩa tư bản không phải là những cá thể so sánh một cách trực tiếp và chủ quan các sản phẩm của lao động cá nhân của họ với người khác. Thay vào đó, cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng phải đối mặt với một mức giá khách quan trên thị trường.
Như đã nêu rõ từ trước, chúng ta không trao đổi trên cơ sở hiện vật, như các Robinson Crusoe trên một hòn đảo vắng, mà thông qua phương tiện tiền và thị trường.
Để đi ngược trở lại ví dụ trước đây, khi các bạn tìm một vật gì đó để mua trên Amazon hoặc Google, bạn không đứng trước một sự tản mát các nhà xuất nhỏ mà bạn có thể mặc cả với họ. Thay vào đó, bạn (gần như) được quyền lựa chọn các nhà cung cấp, họ cạnh tranh với nhau để chào giá rẻ nhất mà họ có thể chào; một mức giá sẽ có xu hướng tiến đến một mức cụ thể cho mọi hàng hóa mà có thể thay thế một cách tương đối.
Thế thì, làm thế nào mà vô số hàng hóa chào mới có thể so sánh với nhau? Cái gì cuối cùng quyết định giá trị-trao đổi hoặc giá của chúng – hình thái tiền của sự thể hiện giá trị của chúng?
Rõ ràng một so sánh như thế không thể nào thực hiện được dựa trên cơ sở hữu dụng của chúng, đó là cái gì đó chủ quan và định tính. Mọi loại hàng hóa có những thuộc tính vật lý và đặc tính riêng của nó; những tính chất riêng của nó, đặc trưng cho độ hữu dụng tiềm năng hoặc kỳ vọng. Ngoài ra, sự hữu dụng của một hàng hóa sẽ biến đổi rất nhiều giữa những người tiêu dùng khác nhau.
Quan trọng là, để trở lại ví dụ trên, những người tìm cách bán các sản phẩm của mình trên mạng không định giá chúng theo sự ‘hữu dụng’ của chúng – cũng không theo quan điểm của người sản xuất và người tiêu dùng.
Các nhà cung cấp đó hiếm khi có một mối liên hệ cá nhân nào với khách hàng của họ, qua đó họ biết chắc sự hữu dụng chủ quan của một hàng hóa.
Và thêm nữa, từ quan điểm của người sản xuất, vấn đề mấu chốt là ở chỗ hàng hóa không có sự hữu dụng cho người sản xuất; họ sản xuất chỉ vì mục đích trao đổi – để kiếm lời, không phải để đáp ứng bất cứ một nhu cầu cá nhân nào.
Vì thế, hàng hóa không thể so sánh trên cái cơ sở tùy tiện là ‘tính hữu dụng’ của chúng. Cái cần thiết, dưới dạng đo lường giá trị, là một tính chất phổ biến mà có tính chất tương đối, lượng hóa được, và khách quan. Và điều quan trọng nhất mà mọi hàng hóa có chung, cái cho phép chúng được so sánh ở trong trao đổi, Marx giải thích, là ở chỗ chúng là sản phẩm của lao động – đặc biệt là, lao động xã hội.

Chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật

Cuối cùng, các nhà lý thuyết cận biên đi đến chỗ tự trói chặt mình. Họ cho rằng, chẳng hạn, giá trị được quyết định bởi những sở thích chủ quan của các cá thể độc lập. Nhưng rồi cái gì quyết định những sở thích chủ quan đó?
Hiển nhiên là những đánh giá của chúng ta về giá trị của nhiều hàng hóa và dịch vụ khác nhau không bị nối cứng vào đầu óc của chúng ta. Thay vào đó, chúng là sản phẩm của trải nghiệm và các quy tắc xã hội. Chúng ta có một kỳ vọng về việc các sự vật nên có giá bao nhiêu, được xác lập từ sự tích lũy kiến thức lịch sử về giá của các hàng hóa có thể so sánh được.
Các nhà kinh tế học trường phái Áo, tuy nhiên, dựa vào cá nhân biệt lập, bị tước bỏ khỏi mọi bối cảnh xã hội. Họ quy giản những động lực của chủ nghĩa tư bản thành hành vi của người mua và người bán trừu tượng, phi lịch sử, không nhận thấy rằng cái toàn bộ lớn hơn tổng của các bộ phận. Giá trị, đối với họ, được giải thích thuần túy bằng những sự thôi thúc chủ quan của cá nhân.
Nhưng một cách tiếp cận khoa học thật sự đối với kinh tế học phải dựa trên việc khám phá ra các quy luật khách quan, không dựa trên việc phân tích những ý thích bất chợt chủ quan. Nó phải tìm cách phát hiện những động lực của hệ thống tư bản: các quy luật nảy sinh từ hàng triệu tương tác diễn ra trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa – mà không thể rút gọn thành các tương tác đó, và thực ra chúng tự áp đặt lên các tương tác đó.
Giống như Marx, và các nhà kinh tế học cổ điển trước Marx, trường phái Áo cũng tự xem mình là những người khám phá ra các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản. Nhưng đối với họ, các quy luật đó được xem là ‘chân lý vĩnh cửu’ dựa trên ‘bản chất con người’ – không phải là sản phẩm biện chứng của một hình thái sản xuất đã tiến hóa về mặt lịch sử, tức là, của một giai đoạn cụ thể trong sự phát triển của xã hội.
Đối với những người Marxist, các quy luật là những động lực tổng quát cơ bản bên trong một hiện tượng hoặc hệ thống cụ thể. Quy luật của chủ nghĩa tư bản, theo quan điểm này, không phải trường tồn và tuyệt đối. Chúng không tồn tại trong một vương quốc lý tưởng, tách biệt, được áp đặt vào xã hội từ bên ngoài. Tuy nhiên, đối với những người duy tâm như những người Áo, các quy luật kinh tế được nhận thức theo cách này.
“Một quả táo từ trên cây rơi xuống và những vì sao di chuyển tuân theo một và cùng một quy luật – đó là quy luật hấp dẫn,” Emil Sax tuyên bố, một người cùng thời với Menger, và là một người nữa tốt nghiệp từ Đại học Vienna. “Đối với hoạt động kinh tế,” ông nói tiếp, “Robinson Crusoe và một đế quốc có dân số một trăm triệu người tuân theo một và cùng một quy luật – đó là quy luật giá trị.”
Thực ra, những người Áo sau này như Mises thậm chí còn tin rằng các quy luật kinh tế là vĩnh viễn, và có thể được tìm ra bằng tiên nghiệm, hoàn toàn thoát ly khỏi mọi bối cảnh xã hội hoặc bằng chứng thực nghiệm. Mises đặt tên cho lối tư duy của ông là praxeology – một học thuyết về hành động của con người, dựa trên nghiên cứu về những tác nhân kinh tế có ‘lý trí’ và ‘hành vi có mục đích’ của họ.
Trường phái Áo không phát minh ra cách tiếp cận phi lịch sử, trừu tượng, và duy tâm này. Thực ra, nó được kế thừa từ những bậc tiền bối tự do chủ nghĩa của họ, các nhà kinh tế học tư sản cổ điển, những người cũng xem chủ nghĩa tư bản và các quy luật của nó là vĩnh viễn; sản phẩm của ‘bản chất con người’ bẩm sinh.
Như Marx giải thích, khi thảo luận về những hạn chế của trường phái cổ điển trong tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, “Ricardo coi hình thái lao động tư bản chủ nghĩa là hình thái tự nhiên vĩnh viễn của lao động xã hội.”5
5 Marx, Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, Marx và Engels (1993), tr. 64.
6 nđd
“Đối với người đánh cá và người đi săn thời nguyên thủy,” Marx viết tiếp, “thì ông bắt họ, với tư cách là người sở hữu hàng hóa, trao đổi trực tiếp cá và thú săn được theo tỷ lệ thời gian lao động đã vật hóa trong những giá trị trao đổi đó.”6
Marx nhận xét một cách châm biếm, “Ở đây, Ricardo đã phạm sai lầm về nhận thức thời đại khi trình bày người đánh cá và người đi săn nguyên thuỷ trong lúc tính toán công cụ lao động của họ, đã dựa vào những bảng lợi tức hàng năm mà Sở giao dịch Luân Đôn dùng năm 1817.”7
7 nđd
Giống ‘Robinson Crusoe’ hoặc ‘người đánh cá thời nguyên thủy’ của Smith và Ricardo, mọi tình huống giả định được những người theo lý thuyết cận biên chọn hoàn toàn thoát ly khỏi thực tại của chủ nghĩa tư bản.
Các tác phẩm của Böhm-Bawerk và Menger nhan nhản những tham chiếu đến những ví dụ trừu tượng như thế, kể cả: “Một người đàn ông ngồi bên một dòng suối chảy xiết”; “một du khách trên hoang mạc”; “một người thực dân có túp nhà đứng một mình trong khu rừng nguyên sinh”; “một người sống tại một ốc đảo”; “một cá nhân bị cận thị trên một hòn đảo vắng”; “một nông dân bị cô lập”; và “những người bị đắm tàu”.
Cũng thế, các nhà lý thuyết cận biên kiên định nghiên cứu các hàng hóa thứ yếu, như kim cương hoặc nghệ thuật, để ‘chứng minh’ sự đúng đắn của MUT.
Tuy nhiên, phần lớn kinh tế tư bản chủ nghĩa không dành riêng cho việc sản xuất những đồ vật quý hiếm như nhẫn kim cương, vòng ngọc trai, hoặc các tác phẩm nghệ thuật tinh xảo, mà cho việc sản xuất vô số các hàng hóa thường ngày, với một mức giá có xu hướng tiến đến một đại lượng trung bình, được quyết định bởi thời gian lao động xã hội cần thiết.
Như Marx giải thích trong Tư bản, trong khi chứng minh giá trị của LTV: “Kim cương rất hiếm có ở lớp vỏ trái đất, cho nên trung bình phải mất một thời gian lao động rất lớn mới tìm ra được. Do đó, thể tích nhỏ của kim cương đại biểu cho rất nhiều lao động.”8
8 Tư bản, Marx và Engels (2002), tr. 77.
“Với những mỏ giàu hơn”, Marx nói tiếp, “thì cũng một lượng lao động như thế sẽ thể hiện ra trong một lượng kim cương lớn hơn và giá trị của kim cương sẽ giảm xuống.”
“Nếu người ta tìm được cách biến than thành kim cương với một ít chi phí lao động, thì có lẽ giá trị của kim cương sẽ tụt xuống thấp hơn giá trị của gạch,”9 Marx kết luận. Và thực ra, với khoa học hiện đại, đó gần như chính xác là điều chúng ta thấy, bởi vì bây giờ có thể sản xuất kim cương nhân tạo với số lượng lớn và chi phí thấp, mà sau đó được bán với giá thành giảm đi rất đáng kể so với đá quý được khai thác trong tự nhiên.
9 nđd
Cho nên, đối với trường phái Áo, toàn bộ thế giới quay xung quanh quan điểm chủ quan của cá nhân. Chủ nghĩa duy tâm chủ quan này là một đặc điểm có chung với những xu hướng triết học thụt lùi trong giai đoạn này, chẳng hạn chủ nghĩa thực chứng của các nhà tư tưởng như Mach và ‘chủ nghĩa thực chứng logic’ của Nhóm Vienna.
Tuy nhiên, dựa trên một cơ sở như vậy giai cấp cai trị không thể thực sự thách thức chủ nghĩa Marx, bằng ‘những lý thuyết’ mà rõ ràng là một sự biện hộ thuần túy cho chủ nghĩa tư bản – không phải là một sự giải thích nó.
Cuộc tranh luận về tính toán xã hội chủ nghĩa
Bất chấp những nỗ lực tối đa của trường phái Áo, phong trào xã hội chủ nghĩa tiếp tục lớn mạnh.
Friedrich Hayek một trong những người bảo vệ hàng đầu cho trường phái Áo. / Ảnh: DickClarkMises
Friedrich Hayek một trong những người bảo vệ hàng đầu cho trường phái Áo. / Ảnh: DickClarkMises
Tiến trình này bị cắt ngang bởi Thế chiến I. Nhưng trong vài năm, tâm trạng ái quốc chủ nghĩa và dân tộc chủ nghĩa đã nhường chỗ cho tâm trạng tức giận và cấp tiến hóa trong quần chúng, trong khi cuộc tắm máu đế quốc chủ nghĩa kích động một làn sóng cách mạng khắp châu Âu – đáng chú ý nhất là ở Nga, với cuộc khởi nghĩa Tháng Mười 1917 do những người Bolshevik lãnh đạo, và ở Đức gần như chính xác 12 tháng sau.
Giai cấp thống trị kinh hãi trước những diễn biến cách mạng đó. Đồng thời, những người ủng hộ chủ nghĩa tư bản laissez-faire cũng quan ngại bởi khuynh hướng tiến đến sự kế hoạch hóa và sự độc quyền của nhà nước ngày càng tăng, xa rời sở hữu tư nhân và cạnh tranh.
Trên cơ sở của những trải nghiệm trong Thế chiến I, ngay cả các tầng lớp của giai cấp tư sản cũng đang bị lôi kéo đến tư tưởng kế hoạch hóa kinh tế. Đối mặt với nhiệm vụ cấp bách là giành chiến thắng cuộc chiến, các chính phủ đã không quay sang thị trường để sản xuất vũ khí và các sản phẩm thiết yếu khác, mà đã tập trung nền kinh tế vào tay nhà nước.
Janek Wasserman kể lại trong The Marginal Revolutionaries, “Tại Đức và Áo, các chế độ thiết lập các ủy ban hoạch định chiến tranh, đặt cho cái tên ‘chủ nghĩa xã hội thời chiến’, để phân bổ nguồn lực.”
“Lần đầu tiên”, người viết tiểu sử nói tiếp, “quốc hữu hóa và xã hội hóa trở thành những lập trường chính sách chấp nhận được.”
Việc này thúc giục một làn sóng tấn công mới từ một thế hệ trẻ của Trường phái Áo. Đó là các cuộc tấn công được dẫn dắt bởi các nhân vật như Mises, người từ khoảng 1920 trở đi bắt đầu cái mà sau này sẽ được gọi là ‘cuộc tranh luận về tính toán xã hội chủ nghĩa’.
Mises nhắm đến việc chỉ ra rằng chủ nghĩa xã hội, theo lời ông ấy, không phải là ‘đúng trong lý luận, nhưng sai trong thực tiễn’, mà là ‘sai trong lý luận và thực tiễn’.
Tóm lại, Mises khẳng định rằng kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa là không khả thi, do sự phức tạp vô hạn của nền kinh tế. Khối lượng tính toán cần có, ông biện luận, là quá lớn để cho bất cứ chế độ quan liêu tập trung nào lập kế hoạch.
Mises cho rằng với quá nhiều thứ phải sản xuất và phân phối, chỉ có thông tin cung cấp bởi những tín hiệu giá tiền – thông qua các lực thị trường – mới có thể phân bố nguồn lực và lao động một cách hiệu quả.
Ngoài ra, ông tuyên bố rằng mọi sự dính líu hoặc điều tiết của nhà nước sẽ dẫn đến giá cả bị méo mó, cản trở sức mạnh của thị trường. Vì thế, giải pháp duy nhất là để cho thị trường cạnh tranh, hoàn toàn tự do làm công việc của nó.
Mises khẳng định trong cuốn sách Chủ nghĩa xã hội của ông, “Một khi xã hội bãi bỏ giá cả tự do của hàng hóa sản xuất, việc sản xuất hợp lý trở nên bất khả thi.”
“Mỗi bước xa rời chế độ sở hữu tư nhân đối với phương tiện sản xuất và xa rời việc sử dụng tiền tệ”, nhà kinh tế học người Áo kết luận, “là một bước xa rời hoạt động kinh tế hợp lý.”
Nhưng các ví dụ rất cụ thể về Liên Xô ở bên này và về cuộc Đại suy thoái ở bên kia là một đòn nặng giáng vào lập luận hết sức trừu tượng và duy tâm này.
Như Leon Trotsky giải thích trong tuyệt tác của ông Cuộc cách mạng bị phản bội, ông bình luận về tiến bộ kinh tế khổng lồ được thực hiện dưới nền kinh tế kế hoạch hóa ở Soviet:
Những kết quả to lớn trong công nghiệp, sự mở đầu đầy hứa hẹn của một nền nông nghiệp đang vươn lên, sự lớn lên kỳ diệu của các thành phố công nghiệp truyền thống, sự xuất hiện những thành phố mới, sự tăng trưởng nhanh chóng nhân số công nhân, sự nâng cao trình độ văn hóa và nhu cầu, đó là những kết quả không chối cãi được của Cách mạng Tháng Mười, cuộc cách mạng mà các nhà tiên tri của thế giới cũ chỉ muốn coi là nấm mồ của nền văn minh.
Cũng không cần phải tranh cãi với các nhà kinh tế học tư sản: chủ nghĩa xã hội đã chứng minh quyền thắng của nó, không phải trong những trang của Tư bản luận, mà trên một khu vực kinh tế rộng bằng một phần sáu địa cầu; không bằng ngôn ngữ của biện chứng pháp mà bằng ngôn ngữ của sắt, xi măng và điện.10
10 Trotsky (1993), Chương 1.
Trong lúc đó, thị trường tự do không bị kiềm chế đã dẫn đến vụ Sụp đổ Phố Wall 1929, và sau đó là cuộc Đại Khủng hoảng trong thập niên 1930: cuộc khủng hoảng sâu sắc nhất lịch sử chủ nghĩa tư bản – mà những người Áo không có một lời giải thích thực sự cũng không có một giải pháp thực sự cho nó.
Thật ra, đối với nhiều người trong giới cầm quyền, phương thuốc mà các nhà kinh tế học đề xuất có vẻ như tệ hơn căn bệnh: giữ ổn định chế độ bản vị vàng; ngân sách cân bằng; và tự do thương mại – tất cả những thứ đó có nguy cơ làm sâu sắc thêm thêm những xu hướng lạm phát, làm trầm trọng thêm nạn thất nghiệp, và kéo dài cuộc khủng hoảng
Nói tóm lại, những người Áo đang đề nghị rằng các chính phủ lùi lại, rút ra khỏi mọi lưới an toàn, thắt chặt dây đai của họ, và cho phép nền kinh tế ‘tự-điều chỉnh’. ‘Không có đau đớn thì không có thành quả’, là phương châm của họ. Chẳng cần phải nói, những chính sách thắt lưng buộc bụng cực đoan như thế không đặc biệt dễ chịu đối với các chính trị gia đang ra tranh cử.
Friedrich Hayek bước vào sân khấu, ông tìm cách dịch chuyển cột gôn để đối phó với những sự kiện đó.
Thay vì nói bất khả thi, Hayek bây giờ tuyên bố trong một loạt bài luận viết giữa các năm 1935-1940, kế hoạch xã hội chủ nghĩa về kỹ thuật thì khó, về kinh tế thì kém hiệu quả; và về đạo đức và chính trị thì gây phiền phức.
Tuy nhiên, về cơ bản, các lập luận của Hayek không khác gì lập luận của Mises; thật ra, cũng không khác lập luận của Smith: Nếu mỗi cá nhân theo đuổi tư lợi của mình, thì điều đó, nhờ ‘bàn tay vô hình’ của thị trường, sẽ đem lại những kết quả kinh tế tốt nhất cho xã hội, và do đó cho tất cả mọi người.
Không một cơ quan lập kế hoạch tập trung nào có khả năng theo dõi bức tranh tổng thể không chắc chắn, luôn thay đổi của những sở thích và những ưu tiên cá nhân, Hayek tranh luận. Chỉ có thị trường tự do, qua thông tin giá cả, mới có thể xử lý những tính toán động và phức tạp như thế.
Tuy nhiên, để chứng minh quan điểm của mình, Hayek chủ yếu không tấn công vào chủ nghĩa xã hội chân chính, mà tấn công vào phiên bản méo mó Stalinist của nó, phiên bản của sự kế hoạch hóa quan liêu từ trên xuống mà đã tồn tại ở Liên Xô vào thời gian đó.
Đến lượt, thay vì chứng minh sự đúng đắn của các tư tưởng của mình, Hayek chủ yếu dốc sức tấn công những ai bảo vệ kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa dưới nhiều hình thức khác nhau.
Những người đó chủ yếu rơi vào hai phe: hoặc là những người biện hộ cho chế độ quan liêu Stalinist – những nhân vật như người cộng sản Anh và nhà kinh tế học Cambridge Maurice Dobbs; hoặc là những nhà cải cách và những viện sĩ như Oskar Lange và Fred Taylor.
Trong khi nhóm đầu đa phần nhắm mắt trước những thảm họa kinh tế đang diễn ra tại Liên Xô, do những ảnh hưởng ngột ngạt của chế độ quan liêu, nhóm sau là những người đề xướng cái gọi là ‘chủ nghĩa xã hội thị trường’: một nền kinh tế hỗn hợp không tưởng, dựa trên một sự pha trộn mơ hồ (vĩnh cửu) của sở hữu công, kế hoạch hóa tập trung, và thị trường tư bản chủ nghĩa.
Bất chấp việc bản thân ông ta không hề thiếu những khiếm khuyết trong tư duy, Hayek chẳng mấy khó khăn khi công kích dữ dội những kẻ chậm hiểu đó. Không có một nền tảng lý thuyết Marxist vững chắc làm cơ sở cho sự phản bác của họ, những người như vậy bị lúng túng bởi luận chiến của Hayek.

Trotsky bàn về kế hoạch

Người duy nhất mà có thể đưa ra một sự bảo vệ thực sự cho kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa – cùng với một sự giải thích đúng đắn những nguy cơ của chế độ quan liêu – là Leon Trotsky. Ông làm việc này trong Cuộc cách mạng bị phản bội; và cũng trong một bài viết tuyệt vời có tiêu đề Kinh tế Soviet đang lâm nguy.
Leon Trotsky, 1918. / Ảnh: Miền công cộng
Leon Trotsky, 1918. / Ảnh: Miền công cộng
Trong các tác phẩm đó, Trotsky đã vạch ra một cách xuất sắc thành tựu của nền kinh tế kế hoạch hóa Soviet (như đã trích dẫn), cũng như làm thế nào mà tiềm năng này đang bị bóp nghẹt bởi sự phát triển độc hại của chế độ quan liêu Stalinist.
Tuy nhiên, điều quan trọng là, Trotsky cũng thảo luận về bản chất của chế độ quan liêu này, đem lại một sự giải thích duy vật về việc làm thế nào nó đã đi đến chỗ làm lu mờ – và phá hoại – những thành quả của Cách mạng Tháng Mười.
Nói tóm lại, Trotsky viết, sự nổi lên của chế độ quan liêu không phải là một sản phẩm không thể tránh khỏi của kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa, như Hayek và những người Áo đã bảo vệ một cách duy tâm, mà là kết quả của nỗ lực xây dựng chủ nghĩa xã hội trong những điều kiện lạc hậu về kinh tế và bị cô lập, như người ta thấy ở nước Nga:
Cơ sở quyền lực của quan liêu là sự thiếu kém hàng tiêu dùng và cuộc chiến đấu chống mọi người vì đó mà ra. Khi có đủ hàng hóa trong quầy, các xà lan có thể đến lúc nào cũng được. Khi có ít hàng hóa, người mua phải xếp hàng theo đuôi nhau ngoài cửa. Cái đuôi trở thành quá dài, sự có mặt của anh công an là cần thiết để giữ trật tự. Khởi điểm của chế độ quan liêu Xô viết là như vậy. Nó ‘biết’ đưa cho ai và ai còn phải chờ.11
11 Trotsky (1993), Chương 5.
Thật trớ trêu, lần duy nhất Hayek tranh luận với những lập luận của Trotsky là lúc thật thuận tiện cho ông khi rút ra những trích dẫn một cách có chọn lọc từ các trước tác đó, cắt xén chúng hoàn toàn ra khỏi bối cảnh để bài bác các đối thủ của ông.
Chẳng hạn, trong Kinh tế Soviet đang lâm nguy, Trotsky đưa ra một số khẳng định hoàn toàn đúng đắn, nói rằng, “Không thể tạo ra theo tiên nghiệm một hệ thống hài hòa kinh tế hoàn chỉnh”, và rằng không có “tư duy phổ quát tồn tại … mà có thể ghi nhận cùng lúc mọi quá trình tự nhiên và xã hội” để “rút ra theo tiên nghiệm một kế hoạch kinh tế không mắc lỗi và toàn diện”.
Thế nhưng, điều mà Hayek không đề cập đến là nội dung theo sau các đoạn đó, nơi Trotsky tiếp tục giải thích những biện pháp nào là cần thiết để lập kế hoạch kinh tế thành công trên một cơ sở xã hội chủ nghĩa – quan trọng trên hết, là nhu cầu đối với nền dân chủ, sự kiểm soát, và sự quản lý của công nhân.
“Chỉ sự điều tiết kế hoạch liên tục trong quá trình thực hiện nó, tái xây dựng nó từng phần và toàn bộ, mới có thể đảm bảo tính hiệu quả kinh tế của nó,” Trotsky giải thích thêm.
Nghệ thuật lập kế hoạch xã hội chủ nghĩa không rơi từ trên trời xuống cũng không được trình bày một cách hoàn chỉnh trong bàn tay của một người có quyền lực. Chỉ có thể làm chủ nghệ thuật này bằng đấu tranh, từng bước một, bởi không phải bởi một số ít mà bởi hàng triệu người, như một bộ phận cấu thành của nền kinh tế và văn hóa mới. (Leon Trotsky, Kinh tế Soviet đang lâm nguy)
Hơn nữa, Trotsky tiếp tục giải thích rằng một nhà nước công nhân như thế sẽ phải sử dụng thông tin được cung cấp bởi các tín hiệu giá thị trường trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa xã hội sang chủ nghĩa cộng sản – tức là, trong thời kỳ quá độ từ sự thiếu thốn đến sự siêu sung túc – để xác định nơi nào thiếu hụt nhất, và do đó xác định nơi nào cần đầu tư ngay lập tức.
“Vô số chủ thể sống động trong nền kinh tế, nhà nước và tư nhân, thập thể và cá nhân,” ông giải thích, “phải tuyên bố rõ nhu cầu của mình và mặt mạnh tương đối của mình không chỉ bằng những quyết định thống kê của ủy ban kế hoạch mà bởi sức ép trực tiếp của cung cầu.”
Kế hoạch được kiểm tra và, ở một mức độ đáng kể, được thực hiện thông qua thị trường. Sự điều tiết của thị trường bản thân nó phải phụ thuộc và những xu hướng được bộc lộ qua cơ chế của nó. Những kế hoạch mà các bộ đưa ra phải chứng minh được tính hiệu quả kinh tế của chúng bằng tính toán thương mại. Hệ thống kinh tế quá độ là không thể quan niệm được mà không có sự kiểm soát đồng rúp. Đến lượt nó, điều này giả định rằng đồng rúp đang không bị mất giá. Thiếu một đơn vị tiền tệ vững chắc, kế toán thương mại chỉ có thể làm tăng thêm sự hỗn loạn. (sđd.)
Trotsky sau đó lặp lại cùng quan điểm đó trong Cuộc cách mạng bị phản bội. “Kế hoạch không thể chỉ dựng trên những dữ kiện của trí tuệ,” ông bình luận. “Luật cung cầu đối với nó còn lâu dài vẫn là cơ sở vật chất cần thiết và là cái hiệu chỉnh để cứu nguy.”12
12 Trotsky (1993), Chương 2.
Thật ra, Trotsky đã thấy trước những vấn đề đó. Ngay năm 1922, ông nhấn mạnh rằng các phương pháp kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa thuần tuý “không thể được tạo ra theo tiên nghiệm, bằng nhận thức, hoặc bên trong bốn bức tường công sở”.
Giữa chủ nghĩa tư bản và một xã hội xã hội chủ nghĩa toàn diện siêu sung túc, ông giải thích, sẽ tồn tại một số giai đoạn quá độ, trong đó những phương pháp thị trường không thể bị bỏ qua hoàn toàn.

Chính trị học và kinh tế học

Cố nhiên, mọi điểm giống nhau về hình thức giữa lập trường của Hayek và của Trotsky về vấn đề này thì hoàn toàn chỉ là bề nổi. Trong thực tế, hai nhà lý thuyết đang đến từ những quan điểm giai cấp hoàn toàn đối lập. Hayek đang chỉ trích kế hoạch hóa quan liêu Soviet từ quan điểm của cánh hữu; Trotsky thì từ quan điểm của cánh tả.
Ở khía cạnh này, những người tự do chủ nghĩa (xưa và nay) thật hoàn toàn không thành thật khi lợi dụng Trotsky – người kiên quyết bảo vệ Liên Xô và những thành quả của Cách mạng Tháng Mười – để hậu thuẫn cho những tư tưởng phản động của họ.
“Bất chấp di sản lạc hậu của nó, bất chấp sự thiếu ăn và sự trì trệ của nó, bất chấp những sai lầm quan liêu và cả những việc làm ghê tởm của nó,” Trotsky khẳng định, khi đánh giá về sự suy đồi của nhà nước công nhân ở nước Nga, “công nhân trên toàn thế giới phải bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa tương lai của họ mà nhà nước này đại diện.”
Cùng lúc, trong khi Hayek và Lange cùng những người khác đang tham gia những cuộc tranh luận trừu tượng về những bản thiết kế lý tưởng, chúng ta thấy cách Trotsky tiếp cận vấn đề kế hoạch hóa kinh tế một cách biện chứng và duy vật như thế nào.
Một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa toàn diện, ông nhấn mạnh, không thể được thực hiện từ trên xuống, theo những kế hoạch tưởng tượng trong đầu một bè phái quan liêu, mà sẽ nổi lên từ những điều kiện vật chất do chủ nghĩa tư bản để lại, sau khi giai cấp công nhân đã nắm chính quyền.
Vì thế, Trotsky nhấn mạnh, điều kiện tiền đề để sử dụng các lực thị trường và các tín hiệu giá cả như một chiếc la bàn định hướng cho kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng đã xóa bỏ chế độ tư bản, giành lấy những đòn bẩy chủ đạo của nền kinh tế, và đặt chúng dưới sự kiểm soát của một nhà nước công nhân.
Nói cách khác, thay cho kế hoạch hóa quan liêu Stalinist, hoặc cái gọi là ‘chủ nghĩa xã hội thị trường’, cần phải có một kế hoạch xã hội chủ nghĩa thật sự có lý trí bao gồm một hệ thống của nền dân chủ, sự kiểm soát, và sự quản lý của công nhân.
Theo thời gian, khi các lực lượng sản xuất phát triển, sở hữu công mở rộng, và những sự đối kháng về kinh tế tiêu biến, thông tin từ hệ thống dân chủ công nhân này sẽ dần dần thay thế nhu cầu đối với những tín hiệu giá tiền.
Thay cho việc bị dẫn dắt bởi các lực thị trường, bản thân giai cấp công nhân có tổ chức sẽ chỉ ra cái gì có thể và nên được sản xuất; nơi nào việc đầu tư nên được ưu tiên; và các nguồn lực lao động và vật chất nên được phân bổ ra sao.
Trong khi đó, những đại biểu được bầu chọn có trách nhiệm và có thể bị bãi nhiệm sẽ tận dụng mọi phương pháp khoa học, công nghệ, kỹ thuật, kế hoạch, dữ liệu, hậu cần, và kế toán mới nhất và tốt nhất kế thừa từ chủ nghĩa tư bản hiện đại.
Trotsky nhấn mạnh, điểm quan trọng là ‘vấn đề’ kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa không phải là một trong những ‘tính toán kinh tế’, như Hayek và Mises đã khẳng định. Cũng thế, các nhà trí thức như Lange đã sai lầm khi tập trung vào chi tiết này. Vấn đề không đơn thuần ở chỗ lắp ráp những máy tính lớn hơn và tốt hơn. Chúng ta không thể tính trước con đường của chúng ta đến chủ nghĩa cộng sản.
Kinh tế không phải là một hệ phương trình cần tìm lời giải, hoặc một mô hình máy tính mà có thể được lập trình từ trên xuống. Nó cũng không phải là một tập hợp các nhân trừu tượng, bị cô lập, bị phân vụn trên một hòn đảo hoang giả định.
Đúng ra, kinh tế là một hệ thống đang sống, đang hít thở cấu thành bởi máu và thịt. Đó là những người dân bình thường đang tìm cách nuôi sống bản thân và gia đình; đang tìm cách trang trải cuộc sống.
Quan trọng hơn hết, đây là một cuộc đấu tranh giữa các giai cấp đối kháng và quyền lợi vật chất của họ; giữa kẻ bóc lột và kẻ bị bóc lột; giữa các nhà tư bản đang tìm cách tối đa hóa lợi nhuận của họ, và các công nhân đang tìm cách bảo vệ cuộc sống và sinh kế của họ.
Ví thế cho nên, vấn đề thực sự, như Trotsky nhấn mạnh, không phải là vấn đề ‘tính toán kinh tế’, mà là vấn đề chính trị. Không phải là vấn đề tính toán mà là vấn đề giai cấp; vấn đề quyền lực – tức là, giai cấp nào sở hữu và điều hành phương tiện sản xuất? Và theo những quy luật nào? Trên cơ sở nào – vì nhu cầu hay là vì lợi nhuận.
Như Trotsky tóm tắt một cách hùng hồn:
Cuộc đấu tranh giữa những quyền lợi sống, như nhân tố cơ bản của việc kế hoạch hóa, dẫn chúng ta đến lĩnh vực chính trị, đó là kinh tế học cô đặc. Công cụ của các nhóm xã hội trong xã hội Soviet là – phải là: các Soviet, các công đoàn, các hợp tác xã, và trước tiên là đảng cầm quyền.
Chỉ thông qua sự tương tác qua lại của ba yếu tố này – kế hoạch hóa nhà nước, thị trường, và nền dân chủ Soviet – mới có thể đạt được định hướng kinh tế đúng đắn trong giai đoạn quá độ.

Kế hoạch hóa tư bản chủ nghĩa

Xu hướng dẫn đến sự độc quyền, sự tập trung hóa, và sự tích tụ sản xuất là cố hữu trong chủ nghĩa tư bản. / Ảnh: Dmitrii Moor
Nền kinh tế còn lâu mới là một đám đông những Robinson Crusoe trao đổi với nhau, kể từ chính thời Marx, chủ nghĩa tư bản đã được đặc trưng chủ yếu bởi sự tồn tại của công nghiệp quy mô lớn và một thị trường thế giới, với sản xuất được tổ chức bên trong các công ty và các tập đoàn đa quốc gia khổng lồ.
Ngày nay, đa số hoạt động kinh tế diễn ra không phải ở chợ, mà dưới sự chỉ đạo của các ông chủ trong các hãng đó. Họ không để cho ‘bàn tay vô hình’ ra những quyết định liên quan đến sản xuất trong các cơ sở kinh doanh của họ. Thay vào đó, họ lập kế hoạch cho mọi thứ: từ nông trại và nhà máy, đến các cửa hàng và siêu thị.
Như các tác giả xã hội chủ nghĩa Leigh Phillips và Michal Rozworski giải thích trong lịch sử thú vị của họ về ‘tranh luận về tính toán xã hội chủ nghĩa’, được đặt tên một cách hài hước là Cộng hòa nhân dân Walmart:
Walmart có lẽ là bằng chứng tốt nhất mà chúng ta có về việc trong khi kế hoạch hóa có vẻ như không hoạt động trong lý thuyết của Mises, nó lại chắc chắn hoạt động trong thực tiễn. Và rồi một số …
Giả sử nó là một quốc gia – hãy gọi nó là Cộng hòa nhân dân Walmart – nền kinh tế của nó sẽ gần bằng quy mô của kinh tế Thụy Điển hoặc Thụy Sĩ…
Nhưng trong khi công ty hoạt động trong thị trường, về mặt nội bộ, như trong bất cứ hãng nào khác, mọi thứ đều xoay quanh kế hoạch. Không có thị trường nội bộ. Các bộ phận, nhà kho, xe tải, và nhà cung ứng khác nhau không cạnh tranh nhau trong một thị trường; mọi thứ đều được phối hợp.
Walmart không chỉ là một nền kinh tế có kế hoạch, mà còn là một nền kinh tế có kế hoạch cùng quy mô của Liên Xô giữa thời Chiến tranh Lạnh. (Năm 1970, GDP của Soviet là khoảng 800 tỷ đôla theo tỷ giá hiện nay, lúc đó nó là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới; doanh thu năm 2017 của Walmart là 485 tỷ đôla.)
Trong khi lặp lại như vẹt sự tào lao theo kiểu Hayek về chủ nghĩa tư bản đang bảo vệ ‘tự do’, trong lúc ấy, các ông chủ trong thực tế là những kẻ độc tài ghê gớm nhất trong nơi làm việc, để mặc các nhân viên của họ không có lựa chọn, không có tự do, không có tính cá thể. Như Marx nhận xét trong Tư bản:
Vì vậy, cũng cái ý thức tư sản ca tụng sự phân công lao động trong công trường thủ công, việc cột chặt người lao động suốt đời vào một công việc bộ phận và sự phục tùng vô điều kiện của người công nhân bộ phận đối với tư bản, coi đó là một tổ chức lao động nâng cao sức sản xuất của họ, – cũng chính cái ý thức tư sản ấy lại lớn tiếng tố giác mọi sự kiểm soát và điều tiết có ý thức của xã hội đối với quá trình sản xuất xã hội là một sự tấn công vào những quyền bất khả xâm phạm về tài sản, vào tự do, vào “thiên tài” tự quyết định của nhà tư bản cá biệt. Một điều rất đặc trưng là những kẻ nhiệt tình tán dương chế độ công xưởng lại không tìm được một lý lẽ nào mạnh hơn để chống lại mọi tổ chức chung của lao động xã hội trừ việc nói rằng tổ chức đó sẽ biến toàn thể xã hội thành một công xưởng.13
13 Marx, Tư bản, Marx và Engels (2002), tr. 571.
Nhưng trong khi có một mức độ lập kế hoạch không thể tin nổi bên trong các hãng, vẫn còn sự vô chính phủ giữa các hãng. Do sở hữu tư nhân về phương tiện sản xuất, mỗi công ty sản xuất một cách mù quáng cho một thị trường chưa biết; vì lợi nhuận cá nhân, không tuân theo một kế hoạch chung dựa trên nhu cầu của xã hội.
Kết quả là sự hỗn loạn của chủ nghĩa tư bản mà chúng ta thấy hôm nay, với tâm lý bầy đàn của các nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận đang dẫn đến những cú đu đưa dữ dội giữa sự khan hiếm và sự dư thừa.
Engels tuyên bố trong Chống Dühring, “Mâu thuẫn giữa sự sản xuất xã hội và sự chiếm hữu tư bản chủ nghĩa tái hiện ra thành sự đối lập giữa tính chất có tổ chức của sản xuất trong mỗi công xưởng riêng biệt với tình trạng vô chính phủ của sản xuất trong toàn thể xã hội.”14 (In ngả trong bản gốc)
14 Engels, Chống Đuy-rinh, Marx và Engels (2004), 380.
Với công nghệ và kỹ thuật tân tiến, chúng ta thấy tiềm năng khổng lồ cho việc lập kế hoạch hôm nay. Chẳng hạn, bìa trước gần đây của tờ The Economist, nêu bật sự nổi lên của nền kinh tế ‘thời gian thực’, với những hãng công nghệ lớn thu thập những khối lượng dữ liệu không giới hạn hằng giờ, hằng phút về những gì chúng ta đang mua, nơi chúng ta đang đến, và những gì chúng ta đang tìm kiếm.
“Đối với mọi phương trình và lý thuyết của họ, các nhà kinh tế học thường dò dẫm trong bóng tối, với quá ít thông tin để chọn ra những chính sách mà có thể tối đa hóa việc làm và sự tăng trưởng,” nhà báo theo chủ nghĩa tự do nhận xét trong bài xã luận của tờ báo về chủ đề này.
Nhưng thời đại hoang mang đang bắt đầu nhường chỗ cho sự khai minh vĩ đại hơn. Thế giới ở bên ngưỡng cửa của một cuộc cách mạng thời gian thực trong kinh tế, khi chất lượng và tính đúng lúc của thông tin được biến đổi…
Các kết quả vẫn còn thô sơ, nhưng khi các thiết bị số, cảm biến và thanh toán nhanh trở nên phổ biến, năng lực quan sát nền kinh tế một cách chính xác và nhanh chóng sẽ cải thiện.
Nhưng dưới quyền sở hữu của các tập đoàn độc quyền tư nhân như Google, Facebook, Amazon, và các công ty đối tác, tất cả thông tin này được sử dụng để kiểm soát chúng ta, chứ không trao cho chúng ta quyền kiểm soát. Bởi vì với tất cả công nghệ, sự sáng tạo, và sự kế hoạch hóa mà chúng ta thấy dưới chủ nghĩa tư bản, nó được sử dụng để tối đa hóa lợi nhuận, không nhằm đáp ứng nhu cầu của chúng ta.
Vì vậy, chúng ta nhìn thấy những hạn chế của kế hoạch hóa dưới chủ nghĩa tư bản. Rốt cuộc, anh không thể thực sự lập kế hoạch cho những thứ anh không kiểm soát; và anh không kiểm soát những thứ anh không sở hữu.

Cạnh tranh và độc quyền

Heyek và Mises cực lực phản đối không những chủ nghĩa xã hội mà còn mọi hình thức kế hoạch hóa. Thật ra, bằng cách hợp pháp hóa ý tưởng về sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, Hayek tin rằng các chính phủ chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng Keynes đang dọn đường cho sự lan tỏa của chủ nghĩa Bolshevik; đưa công chúng vào một con đường mà sẽ dẫn đến chế độ độc đoán và nô lệ – cái gọi là Đường về nô lệ.
Nhưng kế hoạch hóa, như Marx và Engels giải thích kỹ lưỡng trong các trước tác của họ, là một thực tế đã nảy sinh do những quy luật của chủ nghĩa tư bản: xu hướng dẫn đến sự độc quyền, sự tập trung hóa, và sự tập trung sản xuất.
Tuy nhiên, đối với những người tự do chủ nghĩa như Hayek, sự độc quyền hóa không được xem là một xu hướng khách quan, phát sinh từ chế độ tư hữu và sản xuất vì lợi nhuận, mà là sản phẩm của những quyết định chủ quan; một sự lầm lạc do những sai lầm về chính trị.
Trong Đường về nô lệ, Hayek cho rằng “Xu hướng độc quyền và kế hoạch hóa hoàn toàn không phải là kết quả của ‘những hoàn cảnh khách quan’ nào đó nằm ngoài khả năng kiểm soát của chúng ta mà là sản phẩm của công tác tuyên truyền cho một quan điểm cụ thể, được tiến hành trong suốt nửa thế kỉ qua và đã biến nó thành quan điểm chủ đạo trong chính sách của chúng ta.”15
15 Hayek (2009), chương IV.
Những khẳng định như thế, một lần nữa, bộc lộ chủ nghĩa duy tâm của trường phái Áo. Ngoài ra, thay vì đưa ra một lời giải thích khoa học về hệ thống tư bản, Hayek và các bậc tiền bối của ông nấp phía sau một mặt tiền của chủ nghĩa thần bí và chủ nghĩa ngu dân, nhằm đem lại một sự biện bạch thuần túy cho nguyên trạng.
Dù Hayek có thể phủ nhận điều đó như thế nào chăng nữa, quá trình độc quyền hóa là một sự thật khách quan – động lực của nó đã được Marx và Engels giải thích rất rõ ràng.
Trong quá trình tìm kiếm lợi nhuận của họ, các hãng cạnh tranh nhau buộc phải đầu tư vào công nghệ mới, nhằm sản xuất hiệu quả hơn, giảm chi phí của họ, hạ thấp giá của họ xuống dưới trung bình của ngành, và đẩy các đổi thủ của họ ra khỏi thị trường. Điều này, về bản chất, là quy luật giá trị đang hoạt động.
Các công ty mạnh nhất, có sức cạnh tranh nhất sẽ nuốt hết các công ty yếu nhất. Và điều này, đến lượt, cho phép họ mở rộng thêm; để đem lại ‘tính kinh tế nhờ quy mô’; và dựng lên những hàng rào ngày càng lớn hơn nữa ngăn cản việc bước vào ngành. Trò chơi Monopoly minh họa đúng quá trình này (vì nó được thiết kế cho mục đích đó).
Kết quả là chúng ta thấy một mức độ phân công lao động không thể tin nổi khắp toàn xã hội, đi đôi với một sự tập trung phương tiện sản xuất trong một nhóm nhỏ các công ty độc quyền khổng lồ và các ông chủ tư bản của chúng.
“Tự do cạnh tranh biến thành độc quyền và nền sản xuất không có kế hoạch của xã hội tư bản chủ nghĩa đầu hàng trước nền sản xuất có kế hoạch của xã hội xã hội chủ nghĩa sắp đến.”16, Engels giải thích.
16 Engels, Sự phát triển của CNXH từ không tưởng đến khoa học, Marx và Engels (1994), tr. 464.

Những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản

Quan trọng là, chính cùng những quy luật của sự cạnh tranh tư bản, sở hữu tư nhân, và sản xuất vì lợi nhuận mà chắc chắn dẫn hệ thống theo chu kỳ rơi thẳng vào những cuộc khủng hoảng.
Nói cách khác, cái chúng ta thấy không phải là chủ nghĩa xã hội mà là chủ nghĩa tư bản không hoạt động cả trong lý thuyết lẫn trong thực tiễn.
Trong Tư bản, Marx rõ ràng chọn xuất phát từ cùng những giả định như Smith và Ricardo. Ông muốn bắt đầu từ nơi các nhà kinh tế học cổ điển bỏ lại, lấy những tư tưởng của họ và phát triển chúng, để chỉ ra những mâu thuẫn cố hữu của chúng – những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản.
Trong các tư tưởng đó có giả định rằng hàng hóa đều được bán bằng giá trị của chúng (tức là, giá cả = giá trị), không có độc quyền hoặc những sự hạn chế khác đối với dòng tư bản. Tương tự như vậy, ít nhất là trong quyển một, Marx giả thiết rằng tiền là tiền kim loại, không có những hình thức tín dụng.
Marx đã thực hiện việc này để nghiên cứu quy luật giá trị và các động lực của hệ thống tư bản trong hình thái thuần khiết nhất của chúng, và đo đó để giải thích những nguyên nhân tổng quát nằm đằng sau những hiện tượng kinh tế khác nhau mà chúng ta thấy trong xã hội dưới chủ nghĩa tư bản.
Trong thực tế, bản chất của những giả định này vẫn chính là chủ nghĩa tư bản lý tưởng mà Hayek và những người theo chủ nghĩa tự do kêu gọi: một thị trường tự do, với sự cạnh tranh thuần khiết, không có sự bóp méo giá cả, và không có bong bóng.
Song ngay cả trên cơ sở này, Marx chỉ ra rằng chủ nghĩa tư bản vốn dĩ dẫn đến các cuộc khủng hoảng sản xuất dư thừa do bản chất của hệ thống lợi nhuận.
Tóm lại, những cuộc khủng hoảng như thế gắn liền với chủ nghĩa tư bản, do nguồn gốc của lợi nhuận: lao động không được trả lương của giai cấp công nhân.
Như đã giải thích từ trước, các công nhân sản xuất nhiều giá trị hơn họ được trả lại dưới dạng tiền lương. Đo đó, giai cấp công nhân, xét về tổng thể, không bao giờ đủ sức mua lại tất cả hàng hóa mà họ đã sản xuất ra. Nhưng nếu hàng hóa không bán được, thì các nhà tư bản – những người chỉ sản xuất vì lợi nhuận – sẽ đóng cửa hàng. Một vòng luẩn quẩn của cầu sụt giảm rồi đầu tư sụt giảm xảy ra sau đó, đưa nền kinh tế đến chỗ bế tắc.
Các nhà tư bản có thể sử dụng mọi mánh khóe để né tránh hoặc làm chậm cuộc khủng hoảng này. Nhưng chỉ, như Marx và Engels nói trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, chỉ “chuẩn bị cho những cuộc khủng hoảng toàn diện hơn và ghê gớm hơn và giảm bớt những phương cách ngăn ngừa những cuộc khủng hoảng ấy.”17
17 Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Marx và Engels (1995), tr. 605.
Kết quả chung của mâu thuẫn này, do đó, không phải ‘sự hiệu quả’, mà là sự lãng phí rất lớn, dưới hình thức thất nghiệp diện rộng; các nhà máy ngưng hoạt động; cảnh bần cùng giữa sự sung túc; và một sự hủy diệt – không phải một sự phát triển – của các lực lượng sản xuất.
Xã hội đột nhiên bị đẩy lùi về một trạng thái dã man nhất thời; dường như một nạn đói, một cuộc chiến tranh huỷ diệt đã tàn phá sạch mọi tư liệu sinh hoạt của xã hội; công nghiệp và thương nghiệp như bị tiêu diệt. Vì sao thế? Vì xã hội có quá thừa văn minh, có quá nhiều tư liệu sinh hoạt, quá nhiều công nghiệp, quá nhiều thương nghiệp.18
18 nđd. tr. 604.
Vì vậy, các cuộc tranh luận về ‘tính toán kinh tế’ và làm thế nào để phân bổ một cách hiệu quả nhất các nguồn lực khan hiếm là lầm đường lạc lối.
Nhiệm vụ mà nhân loại đối mặt không phải là nhiệm vụ tính toán làm thế nào để phân bổ các nguồn lực khan hiếm, mà là nhiệm vụ đưa những lực lượng sản xuất to lớn và sự siêu sung túc để xã hội tùy ý sử dụng vào sự sở hữu chung và sự kiểm soát của công nhân; và là nhiệm vụ phát triển các lực lượng đó xa hơn, sao cho chúng có thể được sử dụng một cách có lý trí và dân chủ, để đáp ứng nhu cầu của chúng ta, và không vì lợi nhuận của nhà tư bản.
Trotsky nhấn mạnh phương điện này trong Cuộc cách mạng bị phản bội, “Khuyết tật chủ yếu của hệ tư bản không phải là trong sự hoang phí, cho dù tự trong bản thân nó, sự hoang phí ấy là đáng ghét, mà là ở chỗ muốn được quyền hoang phí, giai cấp tư sản phải nắm quyền tư hữu các phương tiện sản xuất và như thế họ buộc kinh tế phải đến chỗ hỗn loạn và phân hủy.”19
19 Trotsky (1993), Chương 1.
Việc này không phải là do những guyết định chính sách sai lầm, như những người Áo tuyên bố một cách duy tâm, mà là sản phẩm của những mâu thuẫn cố hữu của chủ nghĩa tư bản.
Ngay cả khi mọi người đang hành động ‘một cách hợp lý’, theo đuổi tư lợi riêng của mình, như Smith, Hayek, và tất cả những người theo chủ nghĩa tự do và những người theo chủ nghĩa tự do cực đoan khác gợi ý họ nên làm như thế, kết quả là một kết cục hết sức phi lý cho cả xã hội.
Nói cách khác, ngay cả lúc (hoặc chính xác vào lúc) chủ nghĩa tư bản đang hoạt động đúng như nó phải thế, thì chính xác là lúc nó hoàn toàn không hoạt động.

Hayek và Keynes

Đây là điều mà không một ai trong Trường phái Áo có thể giải thích thực sự: nguyên nhân chủ nghĩa tư bản lâm vào khủng hoảng.
Chủ nghĩa Keynes dường như đưa ra một ‘giải pháp’ dựa trên việc quản lý và vá víu chủ nghĩa tư bản. / Ảnh: National Portrait Gallery
Chủ nghĩa Keynes dường như đưa ra một ‘giải pháp’ dựa trên việc quản lý và vá víu chủ nghĩa tư bản. / Ảnh: National Portrait Gallery
Ví dụ, đối với Hayek và Mises, cuộc Sụp đổ Phố Wall và cuộc Đại Suy thoái đều là lỗi lầm của các chính phủ vô trách nhiệm và các ông chủ các ngân hàng trung ương quá bất cẩn với những nguồn cung tín dụng, để cho bong bóng tài sản hình thành.
Cũng vậy, những người theo chủ nghĩa tự do ngày nay cung cấp phân tích giống như vậy trong mối liên hệ với cuộc khủng hoảng tài chính 2008. Thay vì làm trầm trọng thêm vụ bê bối của những khoản vay thế chấp dưới chuẩn bằng tỷ lệ lãi suất thấp một cách nhân tạo và nới lỏng chính sách tiền tệ, họ bảo chúng ta rằng, những người cầm lái đáng lẽ phải lùi lại và để thị trường thực hiện ma thuật của nó.
Nhưng phương án hành động (hoặc không hành động) như vậy sẽ không dẫn đến một trạng thái ‘thăng bằng’ và cân bằng kinh tế. Thay vào đó, giá như các chính trị gia và các nhà làm chính sách đã không bơm tín dụng vào hệ thống trong thập niên 1920, và một lần nữa vào các thập niên 1980, 1990, và 2000, thì những cuộc đình trệ tiếp theo đã dễ dàng xảy ra, với cuộc khủng hoảng sản xuất dư thừa lan động và tự bộc lộ sớm hơn.
Vì tất cả những lý do đó, bản thân giai cấp thống trị không bao giờ bị thuyết phục bởi Hayek.
Trong thực tế, người ta có thể nói rằng ngay cả Hayek cũng không hoàn toàn bị thuyết phục bởi Hayek. Thất bại trong việc giáng một đòn nốc-ao vào ‘cuộc tranh luận về tính toán xã hội chủ nghĩa’, ông rút khỏi những cuộc tranh luận kinh tế của mình.
Thay vào đó, ông chuyển sang trình bày lý do chính trị biện hộ cho chủ nghĩa tự do, như được trình bày trong Đường về nô lệ: phàn nàn về mặt đạo đức rằng việc lập kế hoạch chắc chắn dẫn đến chế độ toàn trị, và nói rằng chỉ thị trường cạnh tranh mới có thể đem lại ‘tự do’, ‘sự lựa chọn’, và ‘tính cá nhân’ thật sự.
Tuy nhiên về cuối đời, ông và những kẻ theo đuôi đạo đức giả của ông có chút day dứt về việc công khai ủng hộ nắm đấm thép của chế độ độc tài Pinochet, nhằm đàn áp chính quyền xã hội chủ nghĩa của Allende ở Chile và dùng vũ lực du nhập bàn tay vô hình của thị trường.
Thay cho chủ nghĩa tự do không tưởng nơi Hayek, đối diện với cuộc Đại Suy thoái, giai cấp cai trị trong thập niên 1930 (ít nhất là ở Mỹ) đã chuyển sang cái được cho là ‘tính thực dụng’ của chủ nghĩa Keynes – nổi tiếng nhất với New Deal [chính sách kinh tế mới] của Tổng thống Roosevelt bao gồm biện pháp kích thích của chính phủ và các dự án công cộng lớn khác.
Việc này, bản thân nó, là một sự chấp nhận ngầm đối với đòi hỏi kế hoạch hóa. Thị trường đã thất bại. Sự can thiệp của nhà nước là cần thiết để lôi chủ nghĩa tư bản ra khỏi vũng lầy của nó. Mặc dù ngay cả lúc đó, những chính sách kiểu Keynes này đã không hoạt động, với cuộc khủng hoảng tiếp diễn – lúc thăng lúc trầm – trong một thập niên, suốt cho đến tận Thế chiến II.
Giai cấp cai trị không thể chịu đựng những hậu quả xã hội của cái mà những tay người Áo đang gợi ý, với những lời kêu gọi của họ cho cái gọi là ‘sự hủy hoại sáng tạo’; tức là, buộc giai cấp công nhân phải trả giá cho cuộc khủng hoảng ngay lập tức, bằng chính sách khắc khổ, thất nghiệp diện rộng, và các cuộc tấn công vào tiền lương, điều kiện lao động, và mức sống.
Những lời trấn an từ Hayek và những người khác cho rằng nỗi đau và sự chịu đựng quá lớn như thế sẽ chỉ là tạm thời, và rằng ‘về lâu dài’ mọi chuyện rồi sẽ ổn đã đem lại một chút khây khỏa hoặc dễ chịu. Xét cho cùng, như Keynes từng bình luận:
Cái về lâu dài này là một chỉ dẫn gây hiểu lầm cho các vấn đề thời sự. Về lâu dài chúng ta đều chết. Các nhà kinh tế học tự đặt ra cho mình một nhiệm vụ quá dễ dàng, quá vô ích nếu trong những thời kỳ đầy giông tố họ chỉ có thể nói với chúng ta rằng khi cơn bão lùi xa, biển cả lại yên ả.
Giai cấp thống trị không quan tâm đến việc biện hộ cho một thị trường tự do mà rõ ràng đang không hoạt động. Thay vào đó, họ đang tìm cách cứu chủ nghĩa tư bản, lợi dụng nhà nước – để cứu chủ nghĩa tư bản khỏi chính nó.
Và đây là cái mà Keynes và chủ nghĩa Keynes dường như đưa ra: một ‘giải pháp’ dựa trên việc quản lý và sửa chữa tạm thời chủ nghĩa tư bản, không cần chuyển sang thế phản công chống lại giai cấp công nhân, mạo hiểm gây ra những cuộc bùng nổ xã hội và sự bất ổn chính trị.
Tương tự như vậy, những người bảo vệ hăng hái nhất của thị trường tự do hôm nay đã hạ mình đi cầu xin chính phủ trong thời gian đại dịch. Giữa lúc đó, một vài nhà kinh tế học tư sản đã phản đối sự can thiệp chưa từng có của nhà nước được thấy trong việc đối phó cuộc khủng hoảng virus corona, với 17 nghìn tỷ đôla dưới dạng hỗ trợ và kích thích tài chính trực tiếp, và thêm 10 nghìn tỷ đôla được bơm vào nền kinh tế bởi các ngân hàng trung ương – tất cả nhằm chống đỡ cho hệ thống và ngăn chặn một cuộc sụp đổ toàn diện.
Người ra cũng thấy điều tương tự theo sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008, với việc giai cấp tư sản cầu xin sự giải cứu từ các độc quyền tài chính khổng lồ vốn được xem là ‘quá lớn để phá sản’. Dĩ nhiên, khi đến lúc phải gánh chi phí cho việc này, chính những ông chủ và chủ nhà băng đó lại biệt tăm. Thay vào đó, chính công nhân là những người đã trả tiền suốt trong một thập niên hoặc hơn của các biện pháp cắt giảm.
Nhờ sự bùng nổ kinh tế thời hậu chiến, chủ nghĩa Keynes vẫn được ưa chuộng trong các chính trị gia cũng như giới học giả trong vài thập niên, cho đến khi những chính sách kích thích của chính phủ, sự điều tiết của nhà nước, sự quản lý phía cầu, và ngân sách bội chi sụp đổ vào thập niên 1970, chuẩn bị cho một sự chuyển dịch sang cái gọi là ‘chủ nghĩa tân tự do’.
Nhưng chúng ta phải rõ ràng: bất chấp sự mơ hồ tạo ra bởi những nhà cải cách, những người tôn sùng một Keynes ‘tốt’ và quở trách một Hayek ‘xấu’, chủ nghĩa Keynes và chủ nghĩa Hayek là hai mặt của cùng một đồng xu tư bản tự do chủ nghĩa.
Trong thực tế, giữa lúc họ nổi tiếng vì sự tranh luận học thuật của họ trong thập niên 1930, Keynes và Hayek có nhiều điểm chung hơn rất nhiều so với họ lẽ ra đã muốn thừa nhận.
Cả hai đều kiên quyết và dứt khoát chống cách mạng và giai cấp công nhân, và đứng về phía chủ nghĩa tư bản và giai cấp thống trị. Cả hai đều coi mình như là những người thừa kế thật sự của kinh tế học cổ điển và phong trào Khai minh. Cả hai đều xuất thân từ tầng lớp vô cùng đặc quyền, và hoài niệm về sự quay trở lại của thời Victoria và Thời kỳ Mạ vàng.20
20 Nguyên văn: the Gilded Age, thời kỳ nước Mỹ từ cuối những năm 1870 đến cuối những năm 1890 (ND).
Cả hai đều bị tiêm nhiễm một chủ nghĩa không tưởng và chủ nghĩa duy tâm đặc trưng cho chủ nghĩa tự do tư sản mà họ đại diện. Cả hai đều có một quan điểm cơ giới và trừu tượng về kinh tế, chứ không phải một quan điểm biện chứng và duy vật. Và quan trọng hơn hết, cả hai người – và tư tưởng của họ – về cơ bản đều chấp nhận và bảo vệ thống tư bản chủ nghĩa.
Sự khác biệt của họ chủ yếu là về hình thức của hệ thống kinh tế này, chứ không phải nội dung giai cấp; là về mức độ can thiệp của nhà nước tư bản chủ nghĩa đối lập với thị trường tự do tư bản chủ nghĩa.
Keynes rõ ràng ủng hộ thị trường, nhưng chỉ là lo ngại mức độ mà những nguyên tắc laissez-faire và chủ nghĩa tư bản thực lợi đã bám chắc. Trong khi đó, dù phản đối việc kế hoạch hóa thay thế sự cạnh tranh, Hayek không phải đối sự can thiệp của nhà nước và các chương trình phúc lợi của chính phủ về nguyên tắc.
Điều quan trọng là, chẳng phải chủ nghĩa Keynes cũng chẳng phải ‘chủ nghĩa tân tự do’ đưa ra một lối thoát cho giai cấp công nhân. Những nỗ lực của phái Keynes nhằm quản lý chủ nghĩa tư bản đã không thành công. Để cuộc sống của chúng ta và tương lai của chúng ta vào bàn tay của thị trường – ‘bàn tay vô hình’ – là một con đường đến khổ đau và thảm họa.

Tự do và tất yếu

Ngày nay, hầu hết những người tự do chủ nghĩa đã từ bỏ phần lớn mọi nỗi lực nhằm thậm chí biện minh cho chủ nghĩa tư bản về mặt kinh tế. Thay vào đó, chủ nghĩa tự do hầu như đã bị rút gọn thành một loạt những thành kiến đạo đức, cá nhân chủ nghĩa về ‘tự do’ và quyền ‘tự do’, như được Hayek phác thảo trong Đường về nô lệ.
Trong khi đó, những tư tưởng và lý luận của Hayek, không những được coi là món ăn chính của hầu hết các khóa học và sách giáo khoa kinh tế học ở trường đại học, mà còn được quảng bá chủ yếu bởi nhiều viện nghiên cứu chính sách chiến lược có tiềm lực tài chính và các học viện về thị trường tự do – được cấp vốn, thật trớ trêu, bởi những công ty độc quyền kinh doanh rất lớn (như Rockfellers) mà ông cho là căm ghét.
“Viện nghiên cứu chu kỳ kinh doanh, được Mises sáng lập năm 1927 và được Hayek điều hành,” Janek Wasserman viết, “đã chứng minh sự hội tụ của tư tưởng tự do và tư bản.”
Các thành viên của trường phái Áo đã nhận sự bảo trợ từ những ân nhân giàu có đến từ Áo và Hợp chúng quốc. Đổi lại, họ cung cấp ý kiến chuyên môn của họ về lĩnh vực kinh tế…
Một quan sát vào hội đồng ủy thác của họ bộc lộ những mối liên hệ quan trọng mà Mises và Hayek đã vun trồng với giới cầm quyền bảo thủ. Ngoài Mises và Hayek … trong số 45 thành viên khác có các đại diện của chính phủ liên bang bảo thủ, các nhóm vận động hành lang cho công nghiệp, các chủ nhà băng, các giám đốc điều hành, và các giáo sư dân tộc chủ nghĩa.
Đáp lại lòng bác ái này của đại doanh nghiệp, những người Áo cung cấp cho những chính trị gia cánh hữu (như Thatcher và Reagan) một bình phong lý thuyết tiện lợi để ẩn nấp phía sau, khi họ đập tan các công đoàn, và tấn công vào các quyền và lương của công nhân, trong một nỗ lực đẩy mạnh lợi nhuận của các nhà tư bản.
Từ tất cả những điều đã nói ở trên, rõ ràng là các tư tưởng và ‘lý thuyết’ của trường phái Áo không đứng vững được. Nhưng điều tương tự cũng đúng về những lời kêu gọi cho ‘tự do’ của những người theo chủ nghĩa tự do.
Trong thực tế, không thể có tự do thực sự cho bất cứ cá nhân nào bên trong một hệ thống nằm ngoài sự kiểm soát của chúng ta; trong một hệ thống mà, sau khi nảy sinh một cách vô ý thức từ tất yếu lịch sử và kinh tế, bây giờ tự áp đặt lên chúng ta; trong một hệ thống nơi nền kinh tế và các quy luật của nó không hoạt động cho chúng ta, mà chống lại chúng ta; trong một hệ thống mơi mọi quyết định quan trọng được đưa ra một cách không dân chủ, bởi những người dân thường, mà bởi một chế độ độc tài tư bản – một tầng lớp tinh hoa độc đoán và vô trách nhiệm của giới chủ, chủ nhà băng, và tỷ phú.
Đối với Hayek, tự do có nghĩa là không có sự ‘cưỡng bức’ và sự ‘ép buộc’ về chính trị đối với các cá nhân – từ chối thừa nhận sự cưỡng bức và sự ép buộc về kinh tế rất có thật áp đặt lên giai cấp công nhân bằng những luật lệ của chủ nghĩa tư bản. Tự do đối với ông ta, nói cách khác, là tự do cho giai cấp tư sản khỏi sự câu thúc đối với việc kiếm tiền của chúng.
Nhưng như Engels nhận xét trong bút chiến xuất sắc của ông với Dühring, rút ra từ triết học biện chứng Hegel, tự do thật sự không đạt được bằng cách tưởng tượng chúng ta được tự do khỏi những quy luật trong xã hội, kinh tế, và tự nhiên – những quy luật vốn hoạt động một cách mù quáng sau lưng các cá nhân, các nhà tư bản và các công nhân đều như nhau.
Đúng ra, tự do thật sự bắt nguồn chính xác từ sự hiểu rõ các quy luật đó, và có thể vận dụng chúng có lợi cho ta với tư cách là một loài. Tự do, tóm lại, “là nhận thức được cái tất yếu”.
Tự do không phải là ở sự độc lập tưởng tượng đối với các quy luật tự của tự nhiên, mà là ở sự nhận thức được những quy luật đó và ở cái khả năng – có được nhờ sự nhận thức này – buộc những quy luật đó tác động một cách có kế hoạch nhằm những mục đích nhất định.
Điều đó là đúng đối với những quy luật chi phối tồn tại vật chất và tinh thần của bản thân con người, – hai loại quy luật mà chúng ta nhiều lắm cũng chỉ có thể tách cái nọ ra khỏi cái kia trong quan niệm chứ không thể tách ra trong thực tế được…
Vì vậy tự do là ở sự chi phối được chính bản thân và tự nhiên bên ngoài, một sự chi phối dựa trên sự nhận thức được những tất yếu của tự nhiên; do đó, tự do là sản phẩm tất yếu của sự phát triển lịch sử.21
21 Engels, Chống Đuy-rinh, Marx và Engels (2004), tr. 163-164.
Ví dụ, người ta có thể hình dung mình là một con chim, tự do bay lượn. Nhưng điều đó không có nghĩa là anh sẽ có thể thoát khỏi việc rơi xuống tử vong nếu anh nhảy ra khỏi một cửa sổ ở tầng ba và thử bay lên.
Tuy nhiên, bằng cách hiểu rõ các quy luật hấp dẫn, chuyển động, cơ học Newton, và khí động lực học, chúng ta có thể tạo ra những cỗ máy – máy bay và máy bay không người lái – mà có thể cho phép chúng ta bay.
Tương tự như vậy, trong khi chuyển động của mọi phân tử khí trong một xy-lanh có vẻ như là ngẫu nhiên và không thể dự đoán được, nhờ một lịch sử nghiên cứu khoa học, chúng ta bây giờ biết rằng có các định luật nhiệt độc lực học chi phối động lực của một hệ thống như vậy về tổng thể, với những mối liên hệ xác định giữa nhiệt độ, áp suất, thể tích, và v.v..
Ngoài ra, bằng cách hiểu các định luật đó, chúng ta có thể biến đổi nhiệt chứa trong một khối khí thành sức hơi nước, và sử dụng năng lượng này để quay các tua-bin mà có thể phát điện; tức là, tạo ra động lực và năng lượng đứng sau cuộc Cách mạng Công nghiệp, và điều đó đã biến đổi xã hội và giới tự nhiên.
Điều tương tự cũng đúng trong kinh tế học. Tuy nhiên, những người theo chủ nghĩa tự do không quan tâm đến việc hiểu hệ thống tư bản một cách khoa học. Mục tiêu của họ không phải để giải thích sự hoạt động của nền kinh tế, mà để tung hỏa mù vào mắt các công nhân, để đem lại một sự biện hộ về lý thuyết cho sự bất bình đẳng và sự bất công của chủ nghĩa tư bản.
Chủ nghĩa Marx, trái lại, nhắm đến việc hiểu thế giới thực sự, để thay đổi nó; nhận ra và hiểu một cách có ý thức các quy luật của chủ nghĩa tư bản – các quy luật của tất yếu, như Hegel nói, “chỉ là mù quáng chừng nào người ta chưa hiểu được nó”22 – sao cho chúng ta có thể phá đổ chúng bằng cách mạng, rồi thay thế chúng bằng một tập hợp các quy luật mới dựa trên kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ của công nhân.
22 Engels, Chống Đuy-rinh, Marx và Engels (2004), tr. 163.
Đây là nhiệm vụ mà chúng ta đối mặt: tổ chức công nhân và thanh niên, dựa vào những nền móng vững chắc của lý luận Marxist; vũ trang cho chúng ta vũ khí của tư tưởng Marxist, trong cuộc chiến đấu cho cách mạng. Chỉ trên cơ sở này nhân loại mới tự giải phóng mình khỏi những xiềng xích của sự hỗn loạn và sự khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản.
Chúng tôi để Engels đưa ra những lời kết luận cuối cùng:
Cùng với việc xã hội nắm lấy những tư liệu sản xuất thì sản xuất hàng hoá cũng bị loại trừ, và do đó, sự thống trị của hàng hoá đối với những người sản xuất cũng bị loại trừ. Tình trạng vô chính phủ trong nội bộ nền sản xuất xã hội được thay thế bằng một sự tổ chức có kế hoạch, có ý thức. Cuộc đấu tranh để sinh tồn của cá nhân sẽ chấm dứt.
Do đó mà lần đầu tiên, con người tách hẳn – theo một ý nghĩa nào đó – khỏi giới thú vật, chuyển từ điều kiện sinh tồn của thú vật sang điều kiện sinh tồn thật sự của con người.
Những điều kiện ấy bao quanh con người và cho đến nay vẫn thống trị con người, thì lúc này sẽ bị thống trị và kiểm soát bởi những con người lần đầu tiên trở thành những người chủ thật sự, có ý thức đối với tự nhiên, bởi vì họ trở thành những người chủ của tổ chức xã hội của họ.
Những quy luật của hoạt động xã hội của họ, cho đến nay vẫn đối lập với họ như những quy luật tự nhiên, xa lạ và thống trị họ, thì lúc đó sẽ được con người vận dụng một cách hoàn toàn hiểu biết và do đó sẽ chịu sự thống trị của con người.
Tổ chức xã hội của con người, từ trước đến nay vẫn đối lập với con người như những cái do tự nhiên và lịch sử áp đặt cho con người thì giờ đây đã biến thành hành động tự do của bản thân con người. Những lực lượng khách quan, xa lạ, từ trước đến nay vẫn thống trị lịch sử thì sẽ do chính con người kiểm soát.
Chỉ từ lúc đó, con người mới bắt đầu tự mình làm ra lịch sử của chính mình một cách hoàn toàn tự giác, chỉ từ lúc đó, những nguyên nhân xã hội mà con người làm cho phát huy tác dụng, mới đưa lại, với một mức độ chiếm ưu thế và không ngừng tăng lên, những kết quả mà con người mong muốn.
Đó là bước nhảy của nhân loại từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do.23
23 Engels, Chống Đuy-rinh, Marx và Engels (2004), tr. 392-393.
Bài gốc tiếng Anh được in trong tạp chí In defence of Marxism số 36 tháng Một, 2022 và đăng online trên marxist.com ngày 12/08/2022.
Tải phiên bản để in (pdf) của bài dịch này tại đây.
Các tài liệu tham khảo từ bộ C. Mác và Ph. Ăng-ghen Toàn tập là các phiên bản online, định dạng pdf.

Tài liệu tham khảo

Hayek, F. A. 2009. Đường về nô lệ (Road to Serfdom). Biên dịch bởi Phạm Nguyên Trường. Hà Nội: NXB Tri thức.
Marx, Karl, và Frederick Engels. 1993. C. Mác & Ph. Ăng-ghen Toàn tập. Vol 13. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia - Sự thật.
———. 1994. C. Mác & Ph. Ăng-ghen Toàn tập. Vol 19. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia - Sự thật.
———. 1995. C. Mác & Ph. Ăng-ghen Toàn tập. Vol 4. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia - Sự thật.
———. 2002. C. Mác & Ph. Ăng-ghen Toàn tập. Vol 23. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia - Sự thật.
———. 2004. C. Mác & Ph. Ăng-ghen Toàn tập. Vol 20. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia - Sự thật.
Trotsky, Leon. 1993. Cuộc Cách mạng bị phản bội. Biên dịch bởi Hoàng Khoa Khôi. Tủ sách nghiên cứu Paris.
Đăng lần đầu tại: