Kỵ binh thời Tống.
Kỵ binh thời Tống.

DỊCH VĂN

Phàm khi kỵ binh tác chiến với bộ binh, nếu gặp địa hình núi rừng hiểm trở, khe hẹp, đầm lầy hay vùng sông ngòi chằng chịt, thì phải nhanh chóng rời khỏi nơi ấy. Bởi đó là loại địa hình bất lợi cho kỵ binh, rất dễ chuốc lấy thất bại, tuyệt đối không nên giao chiến với địch tại những khu vực như vậy. Nếu buộc phải giao chiến, ắt phải chọn vùng đất rộng rãi, bằng phẳng, như thế mới có thể tiến thoái tự do, đánh đâu thắng đó. Quả đúng như binh pháp đã nói: “Tác chiến ở đồng bằng rộng phẳng, thì nên dùng kỵ binh 易地則用騎.”
Sách Ngũ Đại Sử五代史chép rằng: Đường Trang tông Lý Tồn Úc (chú: đương thời y xưng là Tấn vương) dẫn quân đi cứu Triệu vương Vương Dung, đối trận với quân Hậu Lương tại nơi cách Bách Hương柏鄉năm lí, đóng trại ở phía bắc sông Dã. Quân Tấn ít ỏi; quân Lương do Vương Cảnh Nhân王景仁chỉ huy tuy đông nhưng lực lượng tinh nhuệ lại không nhiều. Quân Tấn thấy đối phương binh đông hơn thì có phần nao núng. Tướng Tấn là Chu Đức Uy周德威 xét tình hình ấy, liền khích lệ binh sĩ mà nói: “Quân Lương kia chỉ là đám thuê mướn từ Biện, Tống mà thôi.” Nhưng khi về trướng báo cáo với Tấn vương, ông lại nói: “Quân Lương tương đối tinh nhuệ, không thể lập tức quyết chiến, nên tạm lùi để chờ thời cơ thuận lợi.”
Tấn vương nói: “Ta đem quân lẻ vượt ngàn dặm mà đến, lợi ở chỗ đánh nhanh thắng gọn. Nay nếu không gấp tiến công, để địch thăm dò rõ thực tình quân ta, thì ta ắt cùng đường.” Đức Uy phản bác: “Không hề như vậy. Quân Triệu giỏi giữ thành mà không giỏi dã chiến, quân Lương trong thời gian ngắn ngủi cũng khó phá thành. Yếu tố thắng lợi của ta cốt ở kỵ binh, chỉ khi tác chiến nơi đồng bằng mới phát huy được sở trường. Nay quân ta đóng trại ven sông, lại sát doanh địch, thực không phải đất lợi vậy.” Tấn vương không vui lòng, về trướng nằm nghỉ. Các tướng thấy vậy, không ai dám xin yết kiến.
Chu Đức Uy bất đắc dĩ, đành nói với giám quân Trương Thừa Nghiệp rằng: “Tấn vương giận ta. Ta không chủ trương đánh gấp, không phải vì sợ địch mà khiếp chiến, mà chủ yếu vì quân ta ít, lại ở sát doanh địch, chỗ dựa chỉ là một con sông ngăn cách. Nếu quân Lương có thuyền bè vượt sông, thì ta e không một ai thoát nạn. bằng lui quân về Hạo Ấp, dụ địch rời khỏi doanh lũy, quấy nhiễu khiến chúng mệt mỏi, sau đó hẵng mưu kế để thắng trận.” Thừa Nghiệp nghe xong, lập tức vào yết kiến Tấn vương, nói rằng: “Đức Uy là lão tướng, binh sự thông tường, xin ngài chớ xem nhẹ lời y.” Tấn vương nghe vậy liền ngồi dậy, nói: “Ta đang suy nghĩ đây.”
Không bao lâu sau, Đức Uy bắt được quân tuần tiễu của Hậu Lương, hỏi rằng Vương Cảnh Nhân hiện đang làm gì. Người ấy đáp: “Đã đóng mấy trăm chiếc thuyền, chuẩn bị dựng cầu phao để vượt sông.” Đức Uy liền dẫn tên ấy vào gặp Tấn vương. Tấn vương cười nói: “Quả nhiên đúng như ngươi dự liệu.” Rồi hạ lệnh lui quân về Hạo Ấp.
Đến ngày giao chiến, lúc sáng sớm Đức Uy sai ba trăm kỵ binh đến Lương doanh khiêu chiến, còn tự mình dẫn ba nghìn tinh binh theo sau. Vương Cảnh Nhân thấy vậy rất giận dữ, bèn ra lệnh cho toàn quân xuất kích, truy đánh quân Chu Đức Uy suốt mấy chục dặm, tiến đến phía nam Hạo Ấp. Hai bên đều bày trận chờ quyết chiến. Quân Lương ỷ vào binh nhiều, bày đội hình ngang kéo dài sáu, bảy dặm. Khi ấy, Tấn vương thúc ngựa lên chỗ cao để vọng địch, mừng rỡ nói: “Nơi đây đồng bằng cỏ thấp, vừa tiện tiến công, vừa tiện rút lui, thực là đất tốt để ta đánh bại quân địch.” Bèn sai người báo cho Đức Uy rằng: “Ta tiên phong, ngươi theo sau mà tiến.” Đức Uy can rằng: “Quân Lương khinh trang mà lại từ xa đến, đã truy đuổi ta như vậy, ắt không kịp mang lương khô; dẫu có mang theo cũng không có thời gian nghỉ ăn. Như thế, chưa đến giữa trưa, người đói ngựa mệt, quân tất phải rút lui. Nhân lúc thoải quân mà đánh, ắt sẽ đại thắng.”
Đến khoảng bốn, năm giờ chiều, quân Lương quả nhiên thoái quân mà bụi khói mù mịt; Đức Uy thừa cơ đánh trống thao cờ mà tiến kích, quân Lương đại bại.

BÌNH LUẬN

Năm Khai Bình thứ tư đời Hậu Lương thời Ngũ Đại, tức năm 910 sau Công nguyên, trận Bách Hương giữa nước Tấn và Hậu Lương là một trận đánh then chốt trong cuộc tranh đoạt Hà Bắc và tiến tới giành quyền thống trị Trung Nguyên của hai bên.
Khi đó, xét về so sánh binh lực, quân Lương đông hơn quân Tấn, nhưng kết cục lại là Tấn thắng, Lương bại. Nguyên nhân chủ yếu khiến quân Tấn lấy ít thắng nhiều chính là sự thành công trong chỉ đạo tác chiến. Tướng Lương là Vương Cảnh Nhân chỉ huy tám vạn quân, đóng trại ở phía bắc sông Dã, gần Bách Hương, mưu toan dựa vào ưu thế binh lực để quyết chiến với quân Tấn, qua đó chiếm lấy đất Triệu trong một trận.
Tướng Tấn là Chu Đức Uy sau khi nhìn thấu ý đồ ấy, đã kịp thời thuyết phục Tấn vương Lý Tồn Úc từ bỏ chủ trương quyết chiến quá sớm với địch, đồng thời căn cứ vào tình hình địch và thực tế địa hình mà áp dụng phương châm đúng đắn là chủ động rút lui, dụ địch ra đánh.
Sau khi buộc quân Lương rời khỏi doanh lũy, quân Tấn đã phát huy đầy đủ ưu thế cơ động nhanh và đột kích mạnh của kỵ binh, đánh bại quân Lương ngay trong quá trình vận động trên đồng bằng trống trải, qua đó tạo nên một chiến lệ tiêu biểu trong chiến tranh cổ đại về việc kỵ binh lợi dụng địa hình thuận lợi để giành thắng lợi, đồng thời đặt nền tảng cho việc tiêu diệt Hậu Lương về sau và đoạt lấy quyền thống trị Trung Nguyên.