BONG BÓNG TÍN DỤNG THÔNG TIN.
Những năm gần đây, người dân nhiều nơi trên thế giới lo ngại trước các rủi ro tài chính như bong bóng bất động sản, nợ tiêu dùng hay...
Những năm gần đây, người dân nhiều nơi trên thế giới lo ngại trước các rủi ro tài chính như bong bóng bất động sản, nợ tiêu dùng hay thị trường chứng khoán tăng trưởng nóng. Những nỗi lo này không phải là vô căn cứ, bởi khi các bong bóng tài chính vỡ, hệ quả thường trực tiếp và đến ngay lập tức: mất việc làm, tài sản bị “bốc hơi”, thu nhập suy giảm và mức sống bị đe dọa. Sự bất ổn đó khiến người dân trở nên thận trọng hơn với các quyết định vay mượn và đầu tư.
Thế nhưng, bên cạnh những bong bóng kinh tế hữu hình, đang tồn tại một “bong bóng” khác âm thầm mở rộng và căng phồng lên mà ít được nhận diện nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng không kém: bong bóng tín dụng thông tin. Nếu bong bóng tài chính được hình thành từ việc cấp vốn quá mức cho những tài sản bị thổi phồng giá trị, thì bong bóng tín dụng thông tin hình thành khi con người dễ dãi “cho vay niềm tin” đối với những thông tin chưa được kiểm chứng, chỉ vì chúng quen thuộc, hấp dẫn hoặc phù hợp với niềm tin sẵn có.
Chiếc bong bóng này là gì? Nó được hình thành ra sao? Và nếu một ngày nó vỡ, hậu quả sẽ lan rộng đến đời sống cá nhân và xã hội như thế nào? “Miếng đầu tiên” sẽ làm rõ trong bài viết sau:
1. Bong bóng tín dụng thông tin là gì?
Tín dụng là quan hệ vay mượn trong đó một bên (người cho vay) chuyển giao cho bên kia (người đi vay) quyền sử dụng một lượng tiền hoặc tài sản trong một thời gian nhất định, với cam kết hoàn trả cả gốc và lãi theo thỏa thuận.
Còn hiện tượng bong bóng kinh tế (đôi khi còn gọi là "bong bóng đầu cơ", "bong bóng thị trường", "bong bóng tài chính" hay "speculative mania") là hiện tượng chỉ tình trạng thị trường trong đó giá hàng hóa hoặc tài sản giao dịch tăng đột biến đến một mức giá vô lý hoặc mức giá không bền vững. (Vnexpress)
Điển hình của bong bóng phải kể đến cuộc khủng hoảng tài chính lớn nhất trong lịch sử tài chính năm 2007 - 2008 bắt nguồn từ Mỹ. Sau khi bong bóng dot-com vỡ vào năm 2000, nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái và thị trường tài chính mất niềm tin nghiêm trọng. Để kích thích tăng trưởng và ngăn nền kinh tế suy giảm sâu hơn, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reserve – Fed) đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng mạnh mẽ, giảm lãi suất cơ bản từ khoảng 6,5% năm 2000 xuống chỉ còn khoảng 1% vào năm 2003. Mục tiêu của chính sách này là khuyến khích tiêu dùng, đầu tư và mở rộng tín dụng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, lãi suất thấp kéo dài đã khiến dòng vốn rẻ chảy mạnh vào thị trường bất động sản khiến giá nhà tại Mỹ vì thế tăng nhanh trong nhiều năm, tạo ra một bong bóng bất động sản được nuôi dưỡng bởi tín dụng dễ dãi và kỳ vọng giá nhà sẽ tiếp tục tăng. Khi lãi suất bắt đầu tăng trở lại và người vay không còn khả năng trả nợ, thị trường bất động sản nhanh chóng sụp đổ, kéo theo khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007–2008, được xem là một trong những cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng nhất kể từ Đại suy thoái.
Đối với lĩnh vực tín dụng, Việt Nam cũng từng ghi nhận giai đoạn tăng trưởng tín dụng nóng, đặc biệt trong giai đoạn 2007–2011, khi tín dụng ngân hàng tăng nhanh, có năm lên tới hơn 50%, góp phần làm gia tăng rủi ro nợ xấu và bong bóng tài sản, nhất là trên thị trường bất động sản. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng từng tăng mạnh sau giai đoạn này, buộc Chính phủ phải triển khai nhiều biện pháp tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và xử lý nợ xấu thông qua Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC).
Như vậy khái niệm tín dụng thông tin xuất hiện như một phép ẩn dụ mô tả quá trình mà ở đó người tiếp nhận thông tin cho đi niềm tin trước khi kiểm chứng tính xác thực, và nguồn phát thông tin vay niềm tin đó để đạt được ảnh hưởng, tương tác và hành vi cụ thể từ phía người nhận. Khi tín dụng này gia tăng quá mức, không được kiểm soát, và được đẩy bởi các động cơ cảm xúc, hiện tượng đó có thể được gọi là “bong bóng tín dụng thông tin” — một hiện tượng tương đồng với bong bóng tín dụng trong lĩnh vực tài chính, nhưng mang tính nhận thức và xã hội hơn.
Để dễ hình dung hơn hãy thử hình dung tín dụng thông tin gần giống tín dụng tài chính:
(i) Về khía cạnh người cho vay và người đi vay
Trong tín dụng tài chính truyền thống, mối quan hệ giữa các bên rõ ràng:
+ Người cho vay là các tổ chức tài chính, ngân hàng, hay nhà đầu tư — những bên có tư cách pháp lý và cơ chế đánh giá rủi ro
+ Người đi vay là cá nhân hoặc doanh nghiệp, chịu trách nhiệm minh chứng năng lực trả nợ thông qua thu nhập, tài sản thế chấp và lịch sử tín dụng.
Quy trình này được bảo vệ bởi luật pháp, định chế xếp hạng tín nhiệm và các chuẩn mực thẩm định.
Trong khi đó, tín dụng thông tin đảo chiều mối quan hệ:
+ Người cho vay là công chúng hay người tiếp nhận thông tin. Họ “cho đi” niềm tin trước khi kiểm chứng nội dung, dựa vào uy tín nguồn phát tin, văn phong, giọng điệu, mức độ phổ biến hay độ tương tác của người tiếp nhận khác đối với thông tin, nguồn tin.
+ Người đi vay lại là các bên cung cấp thông tin, nguồn phát tin. Họ đi vay niềm tin của người tiếp nhận.
(ii) Niềm tin trao đổi
Tín dụng tài chính: Người cho vay tin tưởng vào khả năng và ý định sử dụng vốn hiệu quả, hoàn trả đúng hạn của người vay. Cụ thể hơn, các ngân hàng và tổ chức trên toàn thế giới xây dựng mô hình 5C (Five Cs of Credit) là bộ khung phân tích rủi ro để đánh đánh giá mức độ uy tín của người đi vay:
+ Character (Uy tín/ Tư cách): Chính là “Lịch sử tín dụng”, “Điểm tín dụng (CIC)”,... của người đi vay.
+ Capacity (Năng lực): Khả năng tạo ra dòng tiền để trả nợ (thu nhập).
+ Capital (Vốn chủ sở hữu): Số tiền hoặc tài sản mà người vay tự bỏ ra cho dự án/mua sắm.
+ Collateral (Tài sản đảm bảo): Các tài sản thế chấp. Trong vay tín chấp, mục này bằng 0.
+ Conditions (Điều kiện): Các yếu tố bên ngoài như lãi suất thị trường, tình hình kinh tế.
(theo Investopedia 5 Cs of Credit)
Trong khi đó trong tín dụng thông tin, bên đi vay là nơi phát hành nguồn tin, họ sử dụng:
+ Uy tín bên nguồn tin.
+ Sự lặp lại: Thông tin được xuất hiện nhiều lần thì có xu hướng được tin tưởng cao hơn.
+ Nhiều tương tác.
Để tạo lập niềm tin cho người xem hay bên cho vay.
Như vậy, khi bên đi vay muốn trốn tránh hay không đảm bảo uy tín như thỏa thuận cho vay ban đầu, đối với tín dụng tài chính họ sẽ bị ảnh hưởng đến uy tín, khả năng đi vay trong tương lai,.. còn nếu nguồn phát thông tin đưa ra những thông tin giả họ lại chẳng bị ảnh hưởng gì nhiều mà ngược lại những thông tin mang tính chất câu tít, giật gân lại mang lại hiệu quả lan rộng lớn. Theo báo cáo nghiên cứu, khảo sát an ninh mạng 2024 do Ban Công nghệ, Hiệp hội An ninh mạng quốc gia thực hiện vào tháng 12-2024, cứ 220 người dùng thì sẽ có 1 người là nạn nhân của lừa đảo trực tuyến, chiếm tỉ lệ 0,45%. Tuy nhiên, tổng thiệt hại ước tính lên tới 18.900 tỉ đồng. Những hình thức lừa đảo phổ biến bao gồm: dụ dỗ người dùng tham gia chiêu trò đầu tư giả, giả mạo danh tính cơ quan, tổ chức, lừa thông báo trúng thưởng lớn. Hành vi lừa đảo tinh vi đến mức chúng còn dùng công nghệ trí tuệ nhân tạo Deepfake để tạo video, giọng nói giả mạo nhằm xây dựng lòng tin từ nạn nhân; ứng dụng công cụ tự động (chatbot) để giao tiếp liên tục với nạn nhân; dùng phần mềm chuyên dụng trên máy tính để thực hiện cuộc gọi viễn thông, tiếp cận nhiều người cùng lúc…
Vì lý do đó, nhiều trang đưa tin bỏ qua đạo đức mà lợi dụng niềm tin của người xem, phát tán thông tin giả.
Khi niềm tin được cho vay quá mức, bong bóng tín dụng thông tin sẽ phát sinh kéo theo nhiều hệ quả.
2. Một rủi ro khuếch đại mọi rủi ro
Mới đây, Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) 2025 tại Davos đã công bố Báo cáo Rủi ro Toàn cầu dựa trên ý kiến của 1300 chuyên gia.
Và rủi ro thông tin giả (misinformation and disinformation) đứng ở vị trí đầu tiên trong 2 năm tới (ngắn hạn), thứ 5 trong 10 năm (dài hạn), chỉ sau 4 rủi ro về môi trường (vốn đã cực kỳ dai dẳng trong thập kỷ này). (World Economic Forum, 2025)
Thật đáng ngạc nhiên khi một rủi ro về thông tin lại đứng trên cả những rủi ro về xung đột vũ trang, đối đầu địa chính trị, phân cực xã hội.
Ảnh 1. Các rủi ro toàn cầu được xếp hạng theo mức độ nghiêm trọng trong ngắn và dài hạn. Nguồn: World Economic Forum. (2025)
Đáng nói tin giả không một mình nó xấu. Chúng ta sống trong xã hội dựa vào những hệ thống thông tin. Như vậy khi một tin giả len lỏi vào một lĩnh vực bất kỳ của đời sống, nó sẽ là chất xúc tác đẩy nhanh các rủi ro từ căng thẳng địa chính trị, xung đột quốc gia, đảng phái, cho đến biến đổi khí hậu, bất bình đẳng, xói mòn quyền con người làm suy yếu niềm tin, bóp méo nhận thức mỗi cá nhân và khiến mọi quyết định trong xã hội sai lệch đi.
Ở phần tiếp theo, hệ quả của tin giả trong nhiều lĩnh vực của đời sống sẽ được xét tới.
2.1. Tin giả và tính mạng con người
Sau đại dịch Covid-19, một khái niệm mới = lắm mỉa mai ra đời, được ghép từ ”information” và “pandemic” - infodemic (đại dịch thông tin): “dịch bệnh” làm suy giảm nhận thức và niềm tin vào y tế ở quy mô toàn xã hội.
Nghiên cứu (Bhattacharya & Singh, 2025) ghi nhận hơn 2.300 loại tin đồn, thuyết âm mưu về dịch Covid-19 tại 87 quốc gia. Những tin đồn vô căn cứ về uống rượu methanol để phòng COVID tại Iran đã khiến hàng nghìn người nhập viện và hơn 700 ca tử vong. Các biện pháp bảo vệ cơ bản như đeo khẩu trang và giãn cách xã hội bị tẩy chay, làm cho việc kiểm soát dịch trở nên càng khó khăn.
Đại dịch thông tin còn lan sang cả vaccine, người ta lo ngại tiêm vaccine sẽ gây vô sinh, hay là công cụ cấy vi mạch của chính phủ, điều đó làm người dân do dự và nghi ngờ vaccine, dẫn đến sự tái bùng phát của các bệnh từng được kiểm soát, như sởi (Denniss & Lindberg, 2025).
Nhiều công ty thuốc lá điện tử vape đã sử dụng các chiến thuật thông tin sai lệch để tự biến mình thành "chuyên gia khoa học", tuyên bố các sản phẩm nicotine thế hệ mới là hoàn toàn vô hại, thậm chí có lợi cho sức khỏe.
Thậm chí cả nha sĩ và bác sĩ (với mạng xã hội nhiều người theo dõi) tại Mỹ cũng cổ xúy việc tiêu thụ chất tạo ngọt nhân tạo bất chấp các cảnh báo rủi ro từ WHO vì được trả tiền bởi các tập đoàn thực phẩm. (Denniss & Lindberg, 2025)
2.2. Khi giác quan đánh lừa chính ta, rốt cuộc ta nên tin vào điều gì?
Từ lâu, ta luôn tin rằng mắt thấy tai nghe là thứ đáng tin nhất, nhưng giờ đây, các bằng chứng qua âm thanh và hình ảnh không còn đáng tin nữa, nếu không muốn nói là vô cùng rẻ mạt về độ xác thực.
Chúng tinh vi tới mức ta không thể nhận dạng được.
Năm 2022, những kẻ lừa đảo tạo ra một CCO Binance bằng deepfake trên Zoom để lừa các dự án tiền điện tử đóng phí niêm yết. Và đáng buồn là cả những doanh nhân công nghệ lão luyện cũng sập bẫy vì quá tin vào hình ảnh video trực tiếp.
Nhưng điều đáng sợ là chúng ta lại rất tự tin rằng sẽ phân biệt được đâu là video thật, đâu là do AI tạo ra. Nghiên cứu iProov (2025) chỉ ra điều ngược lại, khảo sát năm 2.000 người ở Anh và Mỹ mới đây cho thấy chỉ 0,1% có thể nhận diện đúng tất cả nội dung deepfake, dù đã được cảnh báo.
Năm 2022, khi Nga xâm lược Ukraine, một video cho thấy Tổng thống Zelensky kêu gọi binh sĩ buông vũ khí và đầu hàng đã lan truyền nhanh như bão trên Facebook. Chẳng biết đây có phải do mấy anh Nga ngố đứng sau không, tuy nhiên, nhưng nếu các cơ quan truyền thông Ukraine không nhanh chóng đính chính ngay rằng đó là video deepfake, hẳn là binh sĩ Ukraine đã buông súng và đi về nhà…
Tin giả đáng sợ còn là vì nó khuếch đại rạn nứt xã hội sẵn có. Nghiên cứu cho thấy ở các nước thể chế vững và công bằng xã hội (như các nước Bắc Âu), niềm tin giữa người với người lớn và xã hội đoàn kết hơn. Ngược lại một xã hội nơi niềm tin cá nhân và vào chính phủ bị xói mòn, người ta trở nên nghi kỵ và xung đột giữa các nhóm gia tăng.
Deepfake và tin giả đang xói mòn niềm tin nhanh chóng, khi người ta tự giam mình trong các buồng vang thông tin (echo chamber) trên mạng, và khó khăn với các nhóm có sự khác biệt. Chúng ta” và “họ”.
Hệ quả lớn là con người khó hợp tác, mất niềm tin vào nhau và vào chính xã hội. điều đáng sợ là điều này sẽ không xảy ra một cách chậm rãi, mà sẽ nhanh chóng bùng lên với sự phát triển lạnh sống lưng của AI.

Quan điểm - Tranh luận
/quan-diem-tranh-luan
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất