BỘ MÁY HÀNH CHÍNH CẤP ĐỊA PHƯƠNG TRƯỚC SỰ KIỆN SÁP NHẬP
Bạn có bao giờ thắc mắc về các cơ quan nhà nước như Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, Sở Nội vụ, Phòng Nội vụ nằm đâu trong bộ máy chính quyền...
Bạn có bao giờ thắc mắc về các cơ quan nhà nước như Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, Sở Nội vụ, Phòng Nội vụ nằm đâu trong bộ máy chính quyền không? Hay đơn giản là không phân biệt được tại sao lúc gọi phường, lúc gọi xã? Bài viết này sẽ giúp các bạn định hình được vị trí và cấu trúc bộ máy hành chính cấp địa phương cũ của Việt Nam. Gọi là cũ vì sau sáp nhập, cấp huyện đã bị xóa bỏ và có xuất hiện nhiều thay đổi.
Mục lục
1. Phân biệt đô thị và nông thôn; tỉnh và thành phố
2. Vị trí của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND
3. Các loại tổ chức xã hội
Bài viết
1. Phân biệt đô thị và nông thôn; tỉnh và thành phố
Tại sao có nơi gọi là quận, có nơi gọi là huyện? Tại sao không thống nhất một cách gọi để đơn giản hóa và đỡ phức tạp hơn? Có sự khác biệt này bởi vì sự phân loại loại hình khu vực đô thị và nông thôn.
Theo Điều 2 luật Quy hoạch Đô thị và Nông thôn 2024, đô thị là nơi tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp ngoài ra còn có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia; nông thôn là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Vậy rõ ràng là có những khác biệt cơ bản giữa đô thị và nông thôn. Bạn đọc nên biết thêm rằng đô thị còn được chia thành 6 loại nữa, lớn nhất là loại đặc biệt và nhỏ nhất là loại VI, nông thôn thì không có phân loại.
Sau khi đã nắm được khác nhau cơ bản giữa đô thị và nông thôn, ta bắt đầu tìm hiểu về các đơn vị hành chính. Việt Nam gồm có 3 cấp sau đây:
Cấp tỉnh bao gồm: tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương;
Cấp huyện bao gồm: huyện, thành phố trực thuộc tỉnh và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương;
Cấp xã bao gồm: xã, thị trấn và phường.
Tính đến trước 01/7/2025, Việt Nam có 57 tỉnh thành và 6 thành phố trực thuộc trung ương (HCM, HN, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế). Tại sao lại phân ra tỉnh thành và thành phố? Có phải tỉnh thành là nông thôn còn thành phố là đô thị không?
Câu trả lời là không, không hoàn toàn đúng. Việc phân ra tên gọi tỉnh và thành phố là vì thứ nhất để dễ quản lý và phát triển khu vực. Tỉnh và thành phố đều là các đơn vị hành chính cấp tỉnh, nhưng thành phố thường có vai trò, vị thế và chức năng quản lý khác biệt so với tỉnh. Thứ hai, thành phố sẽ là những nơi có kinh tế phát triển hơn, có thu nhập đầu người cao hơn, quy mô kinh tế lớn lớn hơn. Điển hình là thành phố Huế, trong Nghị quyết 54-NQ/TW của bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế, bộ Chính trị đã liệt kê các yếu tố để quyết định đưa tỉnh Thừa Thiên Huế thành thành phố Huế như sau:
“[...] Thừa Thiên Huế đã có nhiều nỗ lực đổi mới tư duy, khai thác các tiềm năng, lợi thế cho phát triển. Kinh tế tăng trưởng bình quân 7,2%/năm, cao hơn mức tăng trung bình của cả nước. Năm 2018, quy mô nền kinh tế tăng gần 2 lần; thu nhập bình quân đầu người tính theo GRDP đạt mức 1.770 USD, tăng 2,2 lần so với năm 2009. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dịch vụ và công nghiệp, trong đó du lịch đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; kinh tế biển và đầm phá đang dần trở thành động lực phát triển; [...]”
Và thứ ba, thành phố về mặt pháp lý nó chính là đô thị. Bởi vì để được gọi là thành phố thì khu vực đó phải đạt tiêu chuẩn đô thị loại III trở lên gồm đô thị loại II, loại I và đặc biệt (Khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13). Thành phố chắc chắn phải là đô thị nhưng đô thị thì không.
Một hiểu nhầm tương đối phổ biến đó là Tỉnh chỉ có huyện và xã; Thành phố chỉ có quận, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường và thị trấn. Tuy vậy như đã giải thích, vì tỉnh không phải khu vực nông thôn, thành phố không phải khu vực đô thị cho nên có những tỉnh có thành phố ở bên trong (gọi là thành phố trực thuộc tỉnh như đã biết) hay có những thành phố có xã bên trong. Ví dụ Thành phố Bảo Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng là thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố Bảo Lộc cũng có phường Lộc Phát, phường Lộc Tiến,... Vậy có nghĩa là tỉnh Lâm Đồng vừa xuất hiện thành phố trực thuộc, vừa có huyện, phường và xã.
2. Vị trí của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND
Sở Nội vụ, sở Tài nguyên và Môi trường, sở Y tế hay Sở Xây dựng,... là những cơ quan chuyên môn thuộc UBND. Những cơ quan này được thành lập để hỗ trợ, giúp việc cho UBND cấp tỉnh và UBND cấp xã. Bạn cứ hình dung trong một lớp học có các vị trí như lớp trưởng, lớp phó học tập, lớp phó lao động, lớp phó văn thể mỹ,.. thì lớp trưởng là UBND, còn các lớp phó là các cơ quan chuyên môn được lập ra để tham mưu, hỗ trợ lớp trưởng về các lĩnh vực, chuyên môn của mình.
Lưu ý, các cơ quan chuyên môn hỗ trợ cho UBND cấp tỉnh thì gọi là Sở, hỗ trợ cho UBND cấp huyện thì gọi là Phòng. Do đó một tỉnh có thể có Sở Y tế, phòng Y tế; Sở Nội vụ, phòng Nội vụ.
Các cơ quan quan chuyên môn này được thành lập tùy theo điều kiện kinh tế và nhu cầu của mỗi tỉnh. Nhưng nhìn chung, mỗi tỉnh đều thống nhất có 17 cơ quan chuyên môn sau: Sở Nội vụ, Sở Tư pháp, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Giao thông vận tải, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Y tế, Thanh tra tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân. (Khoản 3 Điều 9 LTCCQĐP và Điều 8 Nghị định 24/2014)
Trong mỗi Sở, lại có thêm 5 cơ quan nhỏ khác là Văn phòng, Phòng chuyên môn nghiệp vụ, Thanh tra (tùy chọn), Chi cục (tùy chọn) và Đơn vị sự nghiệp công lập (tùy chọn).
Dưới Sở là các Phòng phục vụ cho UBND huyện. Cũng tương tự như Sở, tùy tình hình mỗi huyện mà có thêm các Phòng phù hợp. Nhưng nhìn chung cũng có 10 Phòng thống nhất ở mỗi tỉnh là Phòng Nội vụ, Phòng Tư pháp, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Văn hóa và Thông tin, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Y tế, Thanh tra huyện, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân hoặc Văn phòng Ủy ban nhân dân nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân. (Điều 7 Nghị định 37/2014)
Mỗi Sở và Phòng đều có những quyền hạn và nhiệm vụ khác nhau, người dân khi có nhu cầu thực hiện dịch vụ công có thể tự tìm hiểu và đến những cơ quan tương ứng.
3. Các loại tổ chức xã hội
Tổ chức xã hội có rất nhiều tên gọi khác nhau. Thông thường tên gọi của tổ chức xã hội sẽ phản ánh dấu hiệu chung nhất và là tiêu chí tập hợp các thành viên của tổ chức. Dựa vào tính chất hoạt động của các tổ chức xã hội, có thể phân chia tổ chức xã hội thành những loại cơ bản, gồm: Tổ chức chính trị; tổ chức chính trị-xã hội; tổ chức xã hội-nghề nghiệp; các hội được thành lập theo dấu hiệu riêng; tổ chức tự quản phục vụ lợi ích cộng đồng.
(i) Tổ chức chính trị là tổ chức mà thành viên gồm những người cùng hoạt động với nhau vì một khuynh hướng chính trị nhất định. Ở nước ta, hiện nay chỉ có một đảng chính trị được tồn tại và hoạt động hợp pháp là Đảng cộng sản Việt Nam.
(ii) Tổ chức chính trị - xã hội là tổ chức được thành lập bởi những thành viên đại diện cho một lực lượng xã hội nhất định, thực hiện các hoạt động xã hội rộng rãi và có ý nghĩa chính trị nhưng các hoạt động này không nhằm tới mục đích giành chính quyền. Tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam bao gồm: Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội nông dân Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam.
(iii) Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là tập hợp tự nguyện của những cá nhân, tổ chức cùng thực hiện các hoạt động nghề nghiệp nhất định, được thành lập nhằm hỗ trợ các thành viên trong hoạt động nghề nghiệp và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên.
(iv) Tổ chức tự quản phục vụ lợi ích cộng đồng được hình thành từ nhu cầu của cộng đồng nhằm góp phần ổn định an ninh, trật tự... tại cơ sở. Các tổ chức này được thành lập theo sáng kiến của Nhà nước, hoạt động theo quy định chung của Nhà nước nhằm mục đích thực hiện nhiệm vụ tự quản trong phạm vi hạn chế tại khu phố, thôn xóm hoặc các đơn vị sự nghiệp, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Các tổ chức tự quản rất đa dạng, ví dụ: thanh tra nhân dân, tổ dân phố, tổ dân phòng...
(v) Các hội được thành lập theo dấu hiệu riêng có rất nhiều tên gọi khác nhau như: hiệp hội, liên hiệp hội, tổng hội, liên đoàn, câu lạc bộ... gắn với dấu hiệu đặc điểm riêng và thường là tiêu chí để tập hợp thành viên hình thành tổ chức. Tên của hội do các thành viên thống nhất quyết định, được ghi nhận trong điều lệ của hội và phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận thông qua việc cấp phép thành lập hội. Các hội được thành lập theo dấu hiệu riêng rất đa dạng, ví dụ: Hội những người yêu thể thao, Hội người mù, Câu lạc bộ những người yêu thơ, Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên v.v..
- Một sinh viên Luật hay có câu hỏi -

Quan điểm - Tranh luận
/quan-diem-tranh-luan
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất