Tôi vẫn còn nhớ hơn hai mươi năm trước, lần đầu tiên biết thích một người khác, khi trái tim non nớt của mình bỗng nhiên bị cuốn trôi và đắm chìm hoàn toàn trong hình bóng của người ấy. Thời cấp hai, khi còn chưa dám nắm tay, chỉ cần được ngồi gần nhau nói chuyện năm mười phút trong giờ ra chơi đã thấy quý lắm rồi, đúng nghĩa là tranh thủ từng khoảnh khắc. Lần đầu biết để tâm đến một người khác giới giống như bị đẩy vào một thế giới hoàn toàn mới, nơi tâm trí của một đứa trẻ còn chưa dậy thì, lần đầu được chạm tới những cảm xúc mà trước đó nó chưa từng biết là tồn tại. Tôi đi qua đủ mọi trạng thái thăng hoa và bùng nổ rất lạ, dù người kia thậm chí còn chưa từng chạm trực tiếp vào tôi.
Nhưng cảm giác mê đắm ấy không phải là thứ duy nhất còn sót lại trong ký ức. Song song với nó là những kỷ niệm buồn, những cơn bức bối âm ỉ, những trận cãi vã ngớ ngẩn mà sau này nhìn lại mới thấy phần lớn chỉ bắt nguồn từ sự cứng đầu của hai cái tôi non nớt, không ai chịu nhún nhường, cũng không ai đủ khả năng nói rõ mình thực sự cần gì.
Khi đó tôi đã tự hỏi rất nhiều. Tại sao cùng một con người lại có thể mang đến những cảm xúc đẹp đẽ nhất, nhưng cũng chính họ lại có thể nhấn chìm mình trong đau khổ và uất ức? Tại sao tình yêu của người khác trông lúc nào cũng nhẹ nhàng, cười nói suốt ngày, còn chúng tôi thì tháng nào cũng phải có ít nhất một lần cạch mặt nhau, dù chỉ hôm qua thôi vẫn còn lén hôn nhẹ ở ngoài cổng trường sau giờ học?
Sau này, khi đã trưởng thành hơn, tôi mới hiểu rằng những gì mình từng gọi là rắc rối hay bất hạnh thực ra chỉ là sự hỗn loạn rất tự nhiên của thế giới. Đó là ma sát trong tình yêu, thứ không thể tránh khỏi khi hai con người khác biệt bước vào đời nhau. Yêu không phải là trạng thái trơn tru như trong phim, mà là một hành trình cùng nhau đi qua những va đập bên ngoài và cả những bất hòa bên trong. Hai cá thể xù xì, mang theo thói quen, nỗi sợ và cái tôi riêng, buộc phải mài giũa lẫn nhau nếu muốn tiếp tục ráp vào cùng một hướng. Như nhà văn và triết gia người Pháp Albert Camus từng viết: “Cuộc sống không phải là vấn đề cần giải quyết, mà là một thực tại cần được trải nghiệm.” Tình yêu cũng vậy, nó chỉ bền khi người ta chấp nhận ma sát như một phần tất yếu của việc ở lại bên nhau.
Những YouTuber, KOL, influencer và những người tự nhân là chuyên gia phân tích ngày đêm nói về sức mạnh của AI, về viễn cảnh thất nghiệp và những thiên đường năng suất mà nó hứa hẹn, khiến tôi bất giác nhớ lại ảo vọng về một tình yêu không ma sát của chính mình hơn hai mươi năm trước.

Bóng ma AI

Mỗi ngày lên Facebook hay các mạng xã hội khác, tôi lại được nghe kể về việc công cụ mới ra mắt nào đó sẽ đá bát cơm của ai đó. Hôm nay là Claude AI khiến lập trình viên “thất nghiệp hàng loạt”, chỉ cần vài dòng prompt là thay thế được cả một team code. Ngày mai là Nano Banana hay một mô hình tạo ảnh mới nào đó được tung hô như dấu chấm hết cho nghề thiết kế, nơi vài cú click được cho là đủ để làm ra sản phẩm ngang ngửa một studio chuyên nghiệp.
Nhưng nếu năm ngoái, những thông điệp ấy chỉ tồn tại trong vài bài viết lẻ tẻ của ai đó đăng lên để câu tương tác hay bán khóa học, thì bây giờ nó đã lan rộng thành một tâm lý chung của cả ngành phần mềm. Chỉ trong tháng Một và tháng Hai năm nay, Anthropic liên tục tung ra các plugin và khả năng mở rộng mới cho Claude, mỗi lần ra mắt lại kéo theo một làn sóng bán tháo cổ phiếu các công ty phần mềm trên thị trường chứng khoán Mỹ.
Đỉnh điểm là vào hai phiên ngày 03/02 và 04/02 khi Anthropic ra mắt Claude Cowork cùng các plugin chuyên ngành, thị trường phản ứng dữ dội: khoảng 285 tỷ USD vốn hóa bị thổi bay chỉ trong một phiên, chỉ số Nasdaq 100 giảm 1.6% và các chỉ số phần mềm, tài chính đồng loạt giảm mạnh. Những công ty sống nhờ dữ liệu và quản lý quy trình như FactSet hay Blue Owl Capital ghi nhận cổ phiếu giảm lần lượt là 10.51% và 9.76%, không hẳn vì sản phẩm của họ lập tức trở nên vô dụng, mà vì nhà đầu tư bắt đầu tin rằng AI đã đủ thông minh để giúp một nhóm nhỏ lập trình viên thay thế cả những hệ thống thông tin đồ sộ của doanh nghiệp được xây dựng qua hàng chục năm.
Nói chung 6 tháng qua là một trận thảm sát cho các công ty phần mềm.
ServiceNow, nền tảng tự động hóa workflow cho doanh nghiệp, đã mất khoảng 54% giá trị vốn hóa trong vòng 6–12 tháng, từ đỉnh 239 USD xuống quanh vùng 103–107 USD, khi thị trường bắt đầu nghi ngờ vai trò của các hệ thống workflow truyền thống trong kỷ nguyên AI.
Salesforce, biểu tượng của ngành CRM doanh nghiệp, mất khoảng 44% giá trị từ đỉnh 330 USD xuống còn 180–190 USD, khi câu chuyện “AI thay thế phần mềm bán hàng và chăm sóc khách hàng” bắt đầu được kể lại với giọng điệu ngày càng chắc nịch.
Figma, công cụ thiết kế UI/UX từng được kỳ vọng rất lớn sau IPO tháng 7/2025 cũng đã giảm rất mạnh, từ mức đỉnh 122 USD hồi tháng 8 đã giảm hơn 75% xuống còn khoảng 30 USD như hiện tại. Điều này diễn ra bất chất Figma được xem là công cụ tích hợp nhiều tính năng AI.
Nhưng trong khi nhà đầu tư còn chưa kịp thở vì bữa tiệc buffet máu mà Anthropic dọn ra thì họ lại bất ngờ hứng chịu một cú đánh khác, lần này là đến từ một công ty nghiên cứu thị trường gần như vô danh Citrini Research. Vào Chủ Nhật ngày 22/02/2026, công ty này đăng tải một bài viết mang tính giả tưởng, phác họa viễn cảnh nền kinh tế toàn cầu năm 2028 trong một thế giới nơi AI đã thấm vào mọi ngóc ngách. Bài viết nhanh chóng lan truyền trên mạng xã hội, được trích dẫn trong các bản tin tài chính, xuất hiện trên Bloomberg, và lọt vào tầm ngắm của những tổ chức đầu tư lớn như Citadel, Goldman Sachs, cùng nhiều quỹ quản lý tài sản khác.
Có thể tóm gọn bài research của Citrini Research và lý do khiến thị trường suy sụp thành vài ý chính, ngắn và sắc như sau:
1. AI trở thành hạ tầng mặc định: Báo cáo giả định rằng đến năm 2028, AI không còn là công cụ hỗ trợ mà là lớp nền cho hầu hết hoạt động kinh tế, khiến giá trị dồn về mô hình nền tảng, sức mạnh tính toán và dữ liệu, thay vì phần mềm ứng dụng.
2. Công ty phần mềm doanh nghiệp bị kẹt ở giữa: Các công ty phần mềm trung gian không đủ sâu để cạnh tranh với mô hình nền tảng của OpenAI, Anthropic, Google, nhưng cũng không còn khả năng níu giữ khách hàng vì giờ đội ngũ IT của họ có thể tự làm ra tính năng cạnh tranh.
3. Tăng trưởng kinh tế không còn đồng nghĩa với tăng trưởng lợi nhuận: Citrini đặt ra kịch bản GDP vẫn tăng, nhưng doanh thu và lợi nhuận của nhiều công ty niêm yết lại đi ngang hoặc suy giảm, phá vỡ giả định cốt lõi của thị trường.
4. Lợi thế doanh nghiệp bị xói mòn nhanh hơn khả năng thích nghi: AI có thể đứng “trên” workflow, dữ liệu và quy trình, san bằng lợi thế cạnh tranh vốn được xây dựng qua nhiều năm.
Báo cáo tuy không đưa ra dự báo chắc chắn, nhưng nó chạm đúng vào nỗi ám ảnh đang tích tụ sau các cú ra mắt của Anthropic, khiến nhà đầu tư bán tháo trước khi kịp kiểm chứng thực tế.
Vào hôm sau, thứ Hai ngày 23/02, ngay trước khi thị trường mở cửa thì Anthropic lại ra mắt các plugin mới liên quan tới tài chính, quy trình, thiết kế. Cú đấm kép này tạo ra một làn sóng bán tháo đáng kinh ngạc:
Đây là danh sách một số nạn nhiên tiêu biểu (tổng hợp bởi Claude Sonnet):
Như vậy, bóng ma AI không chỉ đe dọa bát cơm của dân văn phòng hay những nghề nghiệp vốn được xem là dễ thay thế, mà còn bắt đầu bào mòn nền móng của các tập đoàn lớn ở hầu như mọi lĩnh vực, từ phần mềm, tài chính cho tới sáng tạo và dịch vụ. Những cái tên từng được xem là quá lớn để sụp đổ cũng không còn đứng ngoài vòng xoáy hoài nghi.
Dường như không có ai là an toàn trong ma trận thuật toán.
Tuy vậy, nếu soi kỹ vào các luận điểm về việc AI có thể dễ dàng đánh sập những đế chế số khổng lồ này, chúng ta sẽ thấy thấp thoáng một sự kiêu ngạo rất quen thuộc của những người ngồi trong phòng lạnh. Đó là thứ kiêu ngạo của những kẻ nói về việc xóa bỏ ma sát, nhưng dường như chưa từng phải trực tiếp va vào những ma sát của đời sống hằng ngày trong thế giới vật lý.
Nó phản ánh một khoảng cách rõ rệt giữa việc tưởng tượng ra sản phẩm trên giấy và việc duy trì những dịch vụ mà hàng triệu con người phụ thuộc vào mỗi ngày. Giống như họ gần như không có “skin in the game”, không có trải nghiệm trả giá thật cho những sai lệch nhỏ nhất giữa mô hình lý thuyết và thực tế vận hành.

Thế giới không ma sát

Hãy cân nhắc đoạn phân tích về công ty DoorDash trong báo cáo của Citrini Research. DoorDash là ứng dụng bên Mỹ giúp bạn đặt đồ ăn hoặc mua hàng từ các quán và cửa hàng gần nhà, rồi có người đến lấy và giao tận cửa cho bạn trong thời gian ngắn. Bạn có thể xem DoorDash như là một Baemin của Mỹ, nhưng vì Baemin không còn hoạt động ở Việt Nam nữa nên ví dụ gần nhất chúng ta có là Grab Food và Shopee Food.
Citrini Research tưởng tượng ra sự sụp đổ của DoorDash theo hai hướng như sau:
1. AI Agents giúp đập tan rào cản công nghệ và giải phóng nguồn cung (tài xế). Các đặc vụ lập trình khiến chi phí và thời gian để tạo ra một ứng dụng đối thủ giảm xuống gần bằng 0. Khi hàng loạt ứng dụng mới ra đời và trả 90-95% phí cho tài xế, kết hợp với các bảng điều khiển cho phép tài xế nhận cuốc từ hàng chục app cùng lúc, thế độc quyền kiểm soát nguồn lao động của các ông lớn (như DoorDash, Uber Eats) bị phá vỡ hoàn toàn. Kết quả là thị trường bị phân mảnh và biên lợi nhuận bị ép đến mức cạn kiệt
2. Tiêu diệt thế mạnh dựa trên thói quen của người tiêu dùng. Lợi thế cốt lõi của DoorDash vốn nằm ở sự lười biếng của con người và thói quen mở cái app có sẵn trên màn hình. Tuy nhiên, các AI đặc vụ của người dùng không có "màn hình chính", không biết lười biếng và không có lòng trung thành với thương hiệu. Chúng liên tục quét qua mọi nền tảng hiện có để chọn ra mức giá rẻ nhất và tốc độ nhanh nhất, khiến mô hình kinh doanh dựa trên "thói quen" bị xóa sổ hoàn toàn.
Viễn cảnh Citrini vẽ ra giống như kiểu một nhóm nhỏ lập trình viên nhiều kinh nghiệm ở Việt Nam giờ có thể ngồi ở nhà viết ra một ứng dụng đấu lại GrabFood và ShopeeFood vậy.
Lập luận của Citrini nghe có vẻ hoàn hảo và mang tính sát thương tuyệt đối trên mặt giấy. Nhưng thật ra nó chỉ cho thấy một sự ngây thơ của những người chưa bao giờ xây dựng nền tảng trao đổi mua bán. Những người viết ra các lập luận đó đang bị kẹt trong ảo tưởng rằng thế giới thực cũng sạch sẽ, logic và dễ lập trình như những dòng code.
Thứ nhất họ nhầm lẫn giữa "sản phẩm" và "hệ thống". Các công ty như DoorDash, GrabFood hay ShopeeFood không chỉ làm ra một ứng dụng đặt đồ ăn mà còn là cả một hệ thống tinh xảo.
Thứ nhất, Citrini đúng khi nói AI có thể lập trình một cái app giao hàng trong vài tuần, nhưng phần mềm không tự đi giao một chiếc bánh mì. Thứ DoorDash sở hữu không chỉ là cái app, mà là một "hệ thống" điều phối hàng tá cấu phần phức tạp: từ công cụ chống gian lận, động cơ hoàn tiền/tín dụng, danh mục thay thế món, đến dịch vụ tính toán thời gian dự kiến (ETA). Tất cả phải liên tục đồng bộ trạng thái (maintain state) để đảm bảo khách hàng nhận đúng đồ ăn. AI có thể copy giao diện mượt mà, nhưng không thể sao chép một hệ thống xử lý ngoại lệ đồ sộ phía sau.
Thứ hai là đội ngũ Citrini hoàn toàn bỏ qua ma sát vật lý. Thế giới thực vô cùng phức tạp, vô định và không thể đoán trước. Một đoạn code AI sẽ giải quyết thế nào khi món ăn đột nhiên hết hàng, hoặc quán ăn đang kẹt một hàng dài chờ đợi, hay là người dùng nhập sai địa chỉ nhà? Làm sao AI chỉ được cho tài xế chỗ đậu xe chính xác ở khu vực có nhiều biển cấm đậu, chọn đúng cổng vào của một khu chung cư phức tạp, hay chọn lộ trình ít kẹt xe nhất? Đó là chưa kể việc tài xế cần gom đơn từ nhiều cửa hàng khác nhau, làm sao AI có thể chỉ cho họ cách di chuyển ở cung đường hay bị kẹt?
Bạn có thể đọc lá thư mà lãnh đạo DoorDash gửi cho các cổ đông nói về sự phức tạp của hệ thống mà họ xây dựng ở đây.
Trích đoạn lá thư CEO DoorDash gửi cho cổ đông, tháng 2/2026
Trích đoạn lá thư CEO DoorDash gửi cho cổ đông, tháng 2/2026
Như vậy, có thể hiểu rằng người dùng trả phí cho ứng dụng trung gian không chỉ vì lười bấm màn hình, mà còn để mua sự bảo chứng. Một ứng dụng AI "tinh gọn" có thể thu phí cực rẻ, nhưng nó sẽ vỡ vụn ngay lập tức khi chạm trán sự hỗn loạn và lộn xộn không thể lập trình của đường phố thực tế.
Ngoài ra có một điều kỳ lạ là Citrini Research lại mô tả DoorDash như là một cỗ máy tư bản khai thác sự lười biếng của con người. Họ viết rằng: "Sự tồn tại DoorDash theo đúng nghĩa đen là dựa trên việc 'bạn đói, bạn lười và đây là ứng dụng đặt đồ ăn trên màn hình của bạn'.
Đây là góc nhìn của những người nghĩ rằng họ theo chủ nghĩa cấp tiến và cho rằng các doanh nghiệp tư bản không bóc lột công nhân (là những tài xế của họ) thì cũng thao túng tâm lý người tiêu dùng, và những doanh nghiệp đó là ký sinh trùng trong xã hội. Và họ coi AI như giải phóng con người khỏi những tay trung gian này. Nếu bạn hay đọc báo Việt Nam và để ý các bài báo phê phán thương lái ép giá nông sản của bà con nông dân, thì đây chính là hình ảnh tương tự.
Nhưng thực tế DoorDash (cũng như GrabFood, ShopeeFood) không kiếm chác từ sự lười biếng, họ bán chi phí cơ hội và hạ tầng vật lý. Thay vì chỉ là kẻ trung gian ăn phí cắt cổ, họ đang gánh vác các vai trò cốt lõi:
1. Giải phóng năng suất lao động: Trả tiền để tiết kiệm 1 giờ nấu nướng không phải là lười biếng, mà là mua lại thời gian để tái đầu tư vào công việc có giá trị cao hơn. Những ai sống một mình hoặc chỉ có hai người thường xuyên đi làm sẽ hiểu rõ điều này. DoorDash đang giải phóng một nguồn vốn thời gian khổng lồ cho xã hội.
2. Hệ điều hành của kinh tế địa phương: DoorDash không ăn bám nhà hàng; họ cung cấp hạ tầng logistics giúp các doanh nghiệp nhỏ chuyển đổi sang mô hình đa kênh (omnichannel) để tồn tại. Xa hơn, họ đang xây dựng một hệ thống điều phối toàn bộ thế giới vật lý, giải quyết sự phức tạp từ việc giao hàng tạp hóa, rượu đến những chiếc TV màn hình lớn.
3. Lưới an sinh vĩ mô: Nền tảng này hoạt động như một bộ giảm xóc của nền kinh tế, tạo ra cơ hội kiếm tiền tức thời và linh hoạt cho hàng triệu người – có thể chính là những nhân viên văn phòng vừa bị AI cướp việc.
Như vậy, có thể thấy các nền tảng như DoorDash không phải là một cỗ máy khai thác sự lười biếng của con người hiện đại. Chúng là những cỗ máy phân bổ nguồn lực khổng lồ, nơi thời gian và hàng hóa được luân chuyển trơn tru trên đường phố thực tế, và chúng ta đang trả phí cho chúng để làm điều đó.

Thế giới không vùng xám

Một sự kiện khác gần đây hơn cho thấy sự va chạm lớn giữa những con người sống trong thế giới không ma sát của Code và những con người sống trong thực tế đầy gai góc là xung đột giữa Anthropic, công ty phát triển nền tảng AI Claude, và Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ.
Vụ việc bùng nổ vào cuối tháng 2/2026 và đã trở thành một trong những cuộc đối đầu công khai khốc liệt nhất giữa Thung lũng Silicon và Chính phủ Mỹ.
Mọi thứ bắt đầu khi Lầu Năm Góc (Bộ Quốc phòng Mỹ - DoD) yêu cầu Anthropic gỡ bỏ các rào cản an toàn để quân đội có quyền sử dụng mô hình AI Claude không giới hạn cho "mọi mục đích hợp pháp".
Điều này đã vượt qua lằn ranh đỏ của Anthropic và khiến CEO Dario Amodei kiên quyết từ chối. Lãnh đạo của Anthropic vạch ra hai ranh giới không thể thương lượng: không được dùng AI của họ cho (1) giám sát đại chúng công dân trong nước và (2) các hệ thống vũ khí tự động sát thương hoàn toàn mà không có con người kiểm soát. Amodei lập luận rằng công nghệ AI hiện tại chưa đủ độ tin cậy và an toàn để tự đưa ra quyết định sinh tử.
Lầu Năm Góc đã chỉ trích kịch liệt góc nhìn này và cho rằng trong môi trường quân sự đầy rẫy các "vùng xám", các điều kiện của Anthropic là không thực tế. Khi Anthropic tuyên bố "lương tâm không cho phép" nhượng bộ, chính quyền Tổng thống Trump đã ra lệnh cho mọi cơ quan liên bang lập tức ngừng sử dụng sản phẩm của Anthropic. Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth liệt Anthropic vào danh sách "rủi ro chuỗi cung ứng" (supply chain risk) – một án phạt thường chỉ dành cho kẻ thù nước ngoài, cấm mọi nhà thầu quốc phòng làm ăn với công ty này.
Thoạt nghe thì lằn ranh đỏ do Anthropic vạch ra rất cao cả về mặt đạo đức, như thể họ có thể dùng một bản Điều khoản Dịch vụ (Terms of Service) để giữ cho công cụ của mình trong sạch.
Họ tin rằng thông qua cơ chế "AI Hiến pháp AI"(Constitutional AI) do họ tự soạn ra, họ có thể định lượng ranh giới thiện ác và ép bộ máy quân sự phải tuân thủ các chuẩn mực văn phòng của Thung lũng Silicon. Anthropic kỳ vọng thiết lập được một vùng đệm lý tưởng, nơi AI hỗ trợ quốc phòng nhưng sẽ tự động bị ngắt (override) trước các quyết định sinh tử hay giám sát đại chúng.
Tuy nhiên, có thể nói tư duy này phản ánh một sự ngây thơ về mặt hệ thống: họ coi đạo đức và sự ma sát hỗn loạn của chiến tranh chỉ là những biến số có thể dễ dàng kiểm soát bằng vài dòng lệnh code.
Tư duy này đã bị phản bác dữ dội bởi những lãnh đạo công ty quân sự. Ví dụ hãy xem phản bác của Palmer Luckey, CEO của Anduril, một tập đoàn chuyên cung cấp vũ khí thông minh cho quân đội Mỹ. Có 4 ý chính sau:
1. Nền Dân chủ vs. Sự cai trị của Tập đoàn Luckey đặt ra một câu hỏi nền tảng: quân đội của một quốc gia nên được quản lý bởi các nhà lãnh đạo do người dân bầu ra, hay bởi các giám đốc điều hành tập đoàn (CEO) không qua bầu cử? Việc giao quyền định đoạt cách sử dụng vũ khí hay công nghệ AI cho các tỷ phú công nghệ chính là hành vi "thuê ngoài" (outsource) quyền lực cốt lõi của quốc gia, đi ngược lại nguyên lý của một nền cộng hòa dân chủ.
2. Ảo tưởng về các "ranh giới đạo đức" rõ ràng Các điều khoản dịch vụ mang tính nhân đạo của giới công nghệ (như "không nhắm vào dân thường", "chỉ dùng để phòng thủ" hay "không dùng cho vũ khí tự động") thực chất là những "bãi mìn đạo đức". Rất khó để định nghĩa tuyệt đối thế nào là dân thường, thế nào là thiệt hại ngoài ý muốn (collateral damage), hay ranh giới giữa phòng thủ và tấn công trong một cuộc chiến đầy hỗn loạn, ví dụ nơi phụ nữ mang theo bom cảm tử hay trẻ vị thành niên điều khiển drone thả bom. Luật pháp và chính sách quốc gia có những định nghĩa rõ ràng cho các vùng xám này, trong khi các công ty công nghệ thường đưa ra quyết định dựa trên lợi nhuận và hình ảnh truyền thông (PR) của họ.
3. Rủi ro thực tiễn làm suy yếu An ninh Quốc gia Nếu một tập đoàn công nghệ có quyền "rút phích cắm" (từ chối cung cấp dịch vụ) đối với quân đội khi họ cho rằng các điều khoản đạo đức bị vi phạm, nó sẽ tạo ra những lỗ hổng chết người:
Về tình báo: Các công ty sẽ lấy tư cách gì và cần bao nhiêu thông tin tuyệt mật để đưa ra phán quyết rằng quân đội đang làm sai?
Về chiến lược răn đe: Nếu Tổng thống Mỹ đe dọa một kẻ thù, lời đe dọa đó sẽ trở nên vô giá trị nếu kẻ thù biết rằng các CEO công nghệ có thể tự ý vô hiệu hóa hệ thống vũ khí của Mỹ. Thậm chí, cảm tính cá nhân của một CEO (thích hay ghét vị Tổng thống hiện tại) cũng có thể ảnh hưởng đến các quyết định sinh tử của quốc gia.
4. Sự từ chối kiên quyết đối với giới công nghệ Luckey kết luận rằng việc giới công nghệ nài nỉ quân đội đồng ý với các giới hạn đơn giản như "không dùng AI cho vũ khí tự động hay giám sát đại chúng" là một đòi hỏi vô lý và không thể chấp nhận được. Nước Mỹ phải vận hành dựa trên hệ thống chính quyền do dân bầu, nơi người dân có quyền chọn ra hoặc phế truất những người nắm giữ "cần gạt quyền lực", chứ không thể giao phó sinh mệnh quốc gia cho các tập đoàn và đội ngũ cố vấn ẩn danh của họ.
Còn CEO Alex Karp của Palantir, một tập đoàn dùng AI hỗ trợ tình báo cho chính phủ và quân đội, thì nói gay gắt hơn:
"Các vị nghĩ mấy anh lính ngoài tiền tuyến sẽ giao phó mạng sống của mình cho một đám làm phần mềm, những kẻ sẵn sàng 'rút phích cắm' hệ thống phòng thủ ngay giữa làn đạn chỉ vì bỗng dưng thấy chuyện này hơi... 'nhạy cảm' trên mặt báo sao?
Cái ốc đảo bé tí mang tên Thung lũng Silicon, cái đám lúc nào cũng khao khát thọc mũi vào việc bạn ăn gì, ăn thế nào, rồi đem bán sạch dữ liệu cá nhân của bạn để kiếm chác, tuyệt đối không có tư cách ngồi đó mà phán xét xem ai được quyền sống sót trên thế giới này, hay vận mệnh của một quốc gia phải tuân theo tiêu chuẩn đạo đức nào của họ.
Tóm lại, câu hỏi chốt hạ ở đây là: Ai mới thực sự là kẻ có quyền sinh sát?"
Điều mỉa mai là trong khi Anthropic lo lắng về việc công cụ AI của họ bị dùng cho mục đích xấu, thì kẻ thù lớn nhất của Mỹ là Trung Quốc không ngần ngại dùng mọi biện pháp từ đánh cắp thông tin tới "chưng cất" mô hình Claude của họ để tạo ra một đống "Claude con". Và hiển nhiên là lãnh đạo Trung Quốc không ngần ngại dùng đại gia đình Claude này cho tất cả các mục đích mà Anthropic phản đối, và sẽ dùng nó lên chính công dân Mỹ.

Sự trưởng thành gai góc

Điểm mù lớn nhất của cả Citrini Research và Anthropic không nằm ở năng lực mô hình hóa, mà nằm ở sự ngạo mạn tột cùng của chứng cuồng bạo kỹ trị khi đối diện với sự hỗn loạn của thế giới thực. Dù tiếp cận ở hai khía cạnh khác nhau: một bên mổ xẻ kinh tế học vĩ mô, một bên can thiệp vào địa chính trị quân sự, họ đều là nạn nhân của cùng một ảo tưởng: tin rằng xã hội loài người chỉ là một hệ thống phần mềm khổng lồ đang chờ được gỡ lỗi (debug).
Cả hai giống như học sinh cấp hai mới bước chân vào thế giới tình yêu và mơ tưởng về viễn cảnh "một túp lều tranh hai trái tim vàng".
Ngược lại với họ ta có thể thấy một sự trưởng thành hơn về mặt tư tưởng ở Sam Altman, CEO của OpenAI.
Ngay sau khi Anthropic bị cấm cửa trong chính phủ Mỹ, Sam Altman nhanh chóng đưa mô hình GPT của mình vào lấp đầy. Phải nói thêm rằng điều này không có nghĩa là trước giờ chính phủ Mỹ không dùng sản phẩm GPT của OpenAI, họ vẫn dùng song song Claude và ChatGPT, chỉ là bây giờ Claude rời đi thì chỉ còn ChatGPT một mình một sân chơi.
Hiển nhiên với nhiều người, đây là một quyết định gây tranh cãi của Sam Altman, nhất là khi anh thường xuyên nói về đạo đức trong phát triển và sử dụng AI. Nhưng nhìn vào toàn bộ hành trình của anh, ta thấy một điều nhất quán: Sam là người theo chủ nghĩa thực dụng.
Anh hiểu rằng mô hình AI không sống trong thế giới thuần túy của mã nguồn, mà tồn tại trong một thực tế đầy hỗn loạn, nơi lý tưởng luôn phải va chạm với nhu cầu tài chính, chính trị và thị trường. Anh có tham vọng xây dựng một hệ thống siêu trí tuệ phục vụ nhân loại, nhưng để tiến gần đến AGI, anh cần nguồn lực khổng lồ. Và tiền, trong thế giới này, không đến từ lòng tốt.
Đó là lý do năm 2019, anh chuyển OpenAI từ một tổ chức phi lợi nhuận dựa vào tài trợ sang mô hình “giới hạn lợi nhuận” để bắt tay với Microsoft. Cũng từ đó, các mô hình của OpenAI dần đóng lại thay vì mở hoàn toàn như thời kỳ đầu. Và gần đây nhất, anh chấp nhận đưa quảng cáo vào ChatGPT cho người dùng miễn phí và các gói thấp hơn.
Đến giờ, người ta vẫn chỉ trích các quyết định đó của Sam, nhưng không thể phủ nhận rằng các quyết định khó khăn đó đã giúp OpenAI liên tục tồn tại, phát triển và tạo ra các mô hình tân tiến nhất thế giới hiện nay.
Những quyết định ấy không phải sự phản bội lý tưởng, mà là cách Sam bảo đảm rằng lý tưởng có cơ hội tồn tại trong một thế giới đòi hỏi nguồn lực thực tế để nuôi dưỡng nó. Nếu coi toàn bộ chuyện này như một mối tình thì các quyết định đó cho thấy Sam Altman "biết yêu" một cách trưởng thành, rằng anh ta biết đặt vấn đề tài chính vào trong tình yêu và cho rằng bản thân mình phải thích nghi với thực tế chứ không đòi hỏi người yêu (tức thế giới anh ta đang sống) phải thay đổi cho vừa lòng mình.
Giới công nghệ Trung Quốc đã học được những bài học này từ hơn 5 năm trước, khi Bắc Kinh siết chặt quản lý hàng loạt ứng dụng và nền tảng. Họ buộc phải chấp nhận rằng dù code có tinh vi đến đâu, dù mô hình có mạnh đến mức nào, thì cuối cùng vẫn phải cúi đầu trước những ràng buộc rất thật của thế giới vật lý và của nhà nước. Đó là khoảnh khắc nhiều kỹ sư Trung Quốc nhận ra rằng họ không chỉ đang viết phần mềm, họ đang vận hành trong một hệ sinh thái quyền lực.
Trong khi đó, nhiều người trong giới công nghệ Mỹ vẫn chưa thực sự bước qua ngưỡng cửa ấy. Vì vậy chúng ta mới có những bản báo cáo như của Citrini Research, nơi thế giới được mô tả như một hệ thống sạch sẽ, tuyến tính, không ma sát. Hay những lằn ranh đỏ của Anthropic, được vẽ ra như thể đạo đức có thể đứng ngoài địa chính trị. Những thứ đó không sai về mặt ý tưởng, nhưng chúng phản ánh một tâm thế vẫn còn tin rằng công nghệ có thể đứng ngoài cuộc chơi của quyền lực và vật chất.
Nhưng khi ngày càng nhiều lãnh đạo công nghệ Mỹ bắt đầu gạt bớt lăng kính đạo đức lý tưởng và trở nên thực tế hơn, thì cũng là lúc một sự chuyển dịch to lớn diễn ra. Họ nhận ra rằng AI không còn là một sản phẩm tiêu dùng, mà là một tài sản chiến lược, Code không còn nắm giữ quyền năng tối thượng, mà chỉ là một phần trong một hệ thống lớn hơn nhiều, và người viết code không thể đứng ngoài những va đập của thế giới thật.
Sự chuyển dịch này, có thể nó chính là bước trưởng thành tất yếu của một ngành công nghiệp vốn đã sống quá lâu trong những hoài bão lý tưởng. Thung lũng Silicon rốt cuộc cũng đang phải đi qua đúng cái ngưỡng cửa mà tôi từng đối diện trong những năm tháng tuổi trẻ: sự vỡ mộng khỏi ảo vọng về một "tình yêu không ma sát".
Sự vỡ mộng này nó không đến từ giới công nghệ mà lan đến giới công nghệ từ bàn cờ địa chính trị. Suốt ba thập kỷ qua, thế giới cũng từng đắm chìm trong một mối tình ngây thơ mang tên toàn cầu hóa, một trật tự thế giới mà ở đó người ta tin rằng thương mại tự do và những luật lệ quốc tế lý tưởng sẽ xóa nhòa mọi biên giới, biến ma sát thành con số không. Nhưng thực tại không vận hành như một mô hình kinh tế trên giấy. Cuộc thương chiến và sự phân tách khốc liệt giữa Mỹ và Trung Quốc hiện nay chính là tờ đơn ly dị tàn nhẫn kết thúc mối tình ảo mộng đó. Hai nền kinh tế lớn nhất thế giới nhận ra rằng những khác biệt cốt lõi về hệ tư tưởng và an ninh quốc gia không thể bị san phẳng chỉ bằng những chuỗi cung ứng giá rẻ.
Châu Âu cũng thức tỉnh sau thời gian dài phụ thuộc vào khí đốt giá rẻ của Nga, hàng giá rẻ Trung Quốc, và sự phụ thuộc vào bảo trợ quân sự của Mỹ và không còn cách nào khác phải chuyển mình đau đớn để thoát khỏi sự lạc hậu.
Có lẽ chúng ta đang chứng kiến các quốc gia học yêu lại từ đầu, trưởng thành hơn và gai góc hơn. Không còn kiểu yêu dựa trên niềm tin mơ hồ rằng ai cũng hợp tác với nhau giúp nhau cùng tiến. Bây giờ, mỗi quốc gia phải học cách yêu với đôi mắt mở: hiểu rõ điểm mạnh, điểm yếu của mình, hiểu cả những khác biệt không thể xóa nhòa ở phía bên kia.
Đó sẽ là một thế giới đầy gai góc hơn.
Tác giả có dùng công cụ AI hỗ trợ biên tập và tóm tắt các nguồn tin.