1986- Chúng tôi đã vượt rào như thế nào
Bộ môn chạy, thường hay nghe tới chạy marathon, chạy tiếp sức, và chạy “vượt rào” hay còn gọi là chạy “vượt chướng ngại vật”. Chạy...

Bộ môn chạy, thường hay nghe tới chạy marathon, chạy tiếp sức, và chạy “vượt rào” hay còn gọi là chạy “vượt chướng ngại vật”. Chạy vượt rào theo nhận thức thông thường là MỆT, vừa mới qua chướng ngại vật này, chưa kịp bình tĩnh, chưa kịp thong dong, chưa kịp giảm tốc độ thì đã phải lấy thêm sức để co giò nhảy qua chướng ngại vật tiếp theo.
Chúng tôi sinh năm 1986, năm nay 2025, cứ cho là chúng tôi đã 40 tuổi đi, thời gian đủ để nhìn lại và tổng kết được quy luật cho tuổi của mình.
Các thế hệ 6x,7x trước đó trải qua chiến tranh, rồi hậu chiến với đói nghèo, lạc hậu, bao cấp trong một thời gian dài, giống như phải chạy marathon, bền bỉ, nhẫn nại chạy hết đoạn đường dài. Các thế hệ sau này, 9x, 10x, 2k... được sinh ra và nuôi dưỡng trong điều kiện đầy đủ hơn, giống như tham gia vào cuộc chạy tiếp sức, được các thế hệ chạy trước trao cây gậy, chỉ cần nỗ lực hết sức để bứt phá và về đích. Thì, 8x, mà cụ thể là 1986 chúng tôi, giống như những vận động viên chạy
vượt rào, áp lực đến từ việc phải “bật nhảy” liên tục, vượt qua nhiều ranh giới.
Mọi chuyện bắt đầu từ năm 1986, năm chúng tôi được sinh ra. Năm đó, chúng tôi vẫn còn quấn tã, vẫn còn oe oe, và “Đổi mới” là chính sách được Đảng thông qua. Áp lực của sự thay đổi, cải cách, chuyển mình đã đè nặng lên đôi vai của những đứa trẻ húp nước cơm vì thiếu sữa như là một sự ấn định của “số phận” hay “sứ mệnh thế hệ”.
Từ 1986 tới 1994, chúng tôi đã chạy chặng này như thế nào?
Là những năm tuổi thơ đầu đời với rất nhiều kỷ niệm, khoảnh khắc mà bây giờ, nhiều khi chợt nhớ ra, cảm giác như mình không thật sự đã trải qua mà giống như xuyên không về một thời đại nào đó xa xôi trong quá khứ.
Là mẹ tôi đã gom những hạt na đen nhánh, bóng bẩy phơi khô để cùng tôi chơi trò búng hạt mà mẹ sáng tạo ra. Là bóng dáng gầy gò, xương xương của bố khi mặc chiếc áo bay và chiếc quần bích kê đầu gối, vác bình đi phun thuốc sâu sau giờ dạy học.
Là chúng tôi đi học ở lớp mẫu giáo trong làng, mái ngói dột, nền nhà đất nện, và chiếc bàn chiếc ghế cong vênh, sần sùi của cô giáo, vài bông hoa cắt bằng giấy màu dán xung quanh tường. Là cái kẻng sắt treo lủng lẳng ngoài hiên lớp mẫu giáo, mà tôi vì nghịch ngợm trèo lên để gõ rồi ngã xuống, đập cằm vào bờ tường, và có vết sẹo ở cằm không bao giờ mờ đi.
Là tôi đi lang thang khắp làng, luồn chui các ngóc ngách bờ bụi, hoặc nhảy xuống thùng vôi cũ mọc đầy cây thài lài nở hoa tím để tự chơi một mình. Hai lần suýt chết đuối, một lần suýt chết cạn vì trèo cây phượng đầu ngõ và vô số lần nghịch “ngáo” bị ăn roi.
Là tôi khi trèo và “kiểm đếm” hai cây bưởi, hai cây hồng xiêm nhà ông bà ngoại, xem ông ngoại đan lồng, chăm gà con. Là tôi khi theo ông nội sang nhà bác Huấn thương binh cụt một bên tay để quanh quẩn chơi khi ông đọc báo, và tập đánh vần ê a những chữ có trên tờ báo Nhân dân.
Là nhà tôi mỗi tối mùa hè, trăng sáng treo trên ngọn tre, mẹ trải chiếu ra hè, nằm nghêu ngao hát múa và quạt phành phạch bằng quạt nan, quạt mo cau.
Là chúng tôi, gầy gầy rám nắng, bé bé xiêu xiêu theo người lớn ra đồng, phụ cắt cỏ, tập tát nước bằng gàu, tập cấy lúa. Mùa lúa chín, được ăn cốm mới. Được xem bố mẹ đập lúa trên cái trục tuốt lúa bằng gỗ có những hàng đinh để hạt thóc rơi ra khỏi cây lúa.
Là tôi, vào một ngày mùa đông nào đó, đã được cho phép nằm thử lên cái ổ rơm trong góc nhà của bà Đạo. Bên dưới là rơm khô, trên trải lớp vải màu ghi xám, cứng đơ nhưng nằm trên đó thấy sung sướng như cún con rúc vào ổ, ấm áp và sột soạt.
Là chúng tôi đi học 3 năm đầu tiểu học, trên những con đường đầy bùn lầy ngày mưa để tới được trường. Là chúng tôi bắt đầu được học sách cải cách. Là chúng tôi buổi sáng đi học, buổi trưa trốn ngủ đi chơi, buổi chiều tiếp tục đi chơi đến tận khi “mang cái Dạ về nhà”. Tối đến, thắp đèn dầu học bài!!!!!
Đấy, ít ra thì cũng tha cho những năm tuổi thơ trôi qua bình yên như thế!
Nhưng từ đó, sóng gió bắt đầu....
Từ 1994-2004, chúng tôi đã chạy chặng này như thế nào?
Năm 1994, Việt Nam được gỡ bỏ lệnh cấm vận. Chúng tôi, trước đó chơi với các bác thương binh, chơi với các bà mẹ có con là liệt sỹ, chúng tôi gọi chó là Ních (Nixon), Giôn (Johnson)...chúng tôi đọc sách, làm văn, chúng tôi gọi là “thằng Mỹ”. Sau năm 1995, chúng tôi gọi là Mỹ, rồi Hoa Kỳ,....và cũng ít dần các con chó tên là Ních và Giôn...
Năm 1995, Việt Nam gia nhập ASEAN. Đất nước không còn chơi một mình, chúng tôi cũng lớn lên và kết bạn.
Trong làng trong xã bắt đầu có máy xát gạo, có máy tuốt lúa, rồi máy cày chạy bằng động cơ dầu. Những ngày đầu lạ lẫm, chúng tôi háo hức đi xem, nghe tiếng nổ phành phạch của mấy cái máy móc “công nghiệp”.
Điện được kéo về tận từng nhà. Đầu tiên là bóng điện, sau đó là các thiết bị điện. Đâu đó trong câu chuyện kể của người lớn, có người chết vì điện giật. Chúng tôi phải học các quy tắc an toàn liên quan tới sử dụng điện. Và học cách sử dụng điện cho tiết kiệm.
Tivi xuất hiện, chúng tôi đã “vượt rào” để sang một chặng đường mới.
Đầu tiên, là sự xuất hiện của tivi đen trắng, cả làng có một vài nhà có điều kiện mới có. Người người lớn bé quanh xóm đến từ sớm, xem “Những bông hoa nhỏ”, rồi tới “ Thời sự” và háo hức bàn luận, chờ đợi tới chương trình phim truyện. “Người giàu cũng khóc”, bộ phim nước ngoài đầu tiên chiếu trên truyền hình sau cấm vận, theo sau là hàng loạt các phim Mỹ latin khác, tạo nên cơn sốt hồi đó. Chúng tôi
đã lạ lẫm, tò mò và háo hức vô cùng với sự mới mẻ của thế giới bên ngoài.
Tivi màu xuất hiện, rồi nhà nhà đều có một tivi riêng. Chúng tôi đã không còn tụ tập xem tivi cùng cả xóm như trước nữa. Mỗi đứa trẻ chúng tôi sẽ được bố mẹ định hình cho xem các chương trình phù hợp, tính cá nhân bắt đầu xuất hiện thay cho tính cộng đồng trong việc tiếp nhận và chia sẻ thông tin. Chúng tôi làm quen với việc đó.
Nhà tôi có chiếc xe máy đầu tiên. Gì chứ, xe máy tiện lợi như thế thì chúng tôi làm quen nhanh lắm. Thỉnh thoảng được đi chơi xa, ngồi xe chạy vù vù, gió vụt qua mặt mát rượi.
Năm 1998, chúng tôi vào cấp 2. Đi học trường “trọng điểm chất lượng cao” của huyện được thành lập năm đầu tiên. Lần đầu tiên, chúng tôi, đến từ các “xã lẻ” biết thế nào là “phân biệt vùng miền” khi có sự khác biệt giữa các bạn ở thị trấn và các xã quanh huyện. Đứa trẻ hơn chục tuổi, không còn học trường làng, không còn bạn cùng xóm, cũng là lần đầu tiên biết đến thế nào là “áp lực tâm lý” và áp lực học hành từ các bạn đồng trang lứa. Thế nhưng sau này, khi cùng nhau học tập, nghịch
ngợm vui chơi, chúng tôi thích nghi và chẳng còn phân biệt nữa. Vượt chướng ngại vật thành công!
VTV3 phát sóng đầu tiên năm 1996, gameshow đời đầu “SV96”,”Trò chơi liên tỉnh”; “MTV các bài hát quốc tế”, các chương trình ca nhạc, băng cassette, các làn sóng phim Hàn Quốc, Trung Quốc...
Chúng tôi lần đầu được biết, được sờ vào các cuốn truyện tranh, tiểu thuyết nổi tiếng thế giới từ các cửa hàng cho thuê truyện, từ thư viện xã, thư viện huyện, ao ước ngày nào đó có thể được sở hữu một cuốn sách mình yêu thích. Một thế giới mới mẻ ập đến, không còn giới hạn ở những bài văn, câu chuyện về chiến tranh, về làng quê mùa lúa mùa rau, về đàn gà, đàn vịt...mà đã là một chú mèo máy có đủ bảo bối
thần kỳ trên đời, về tình yêu vượt qua giới hạn tôn giáo (Tiếng chim hót trong bụi mận gai), về một người thám tử tài trí, hiểu biết nhưng tư duy lạnh lùng (Sherlock Holmes), về một chàng hoàng tử bé trên Trái đất của riêng cậu với bông hồng và con cáo....
Chúng tôi mê đắm trong Ước mơ vươn tới một ngôi sao, Trái tim mùa thu, Bản tình ca mùa đông....rồi Hoàn Châu Cách cách, Thần điêu đại hiệp, Lưu gù, Khang Hy...Chúng tôi lần đầu tiên biết tới thế nào là thần tượng, là sưu tầm poster trên báo, hoặc tiết kiệm tiền mua poster về dán đầy cuốn sổ, chép lời bài hát cũng đầy sổ...
Chúng tôi biết đến tiếng Anh, tiếng Anh hiện hữu ở đó như một bằng chứng cho một thế giới đầy màu sắc ngoài kia, nơi mà các bài hát tiếng Anh được phát trên MTV VTV3 hàng tuần khiến chúng tôi mê mẩn, yêu thích, bàn luận, và chép lời để học hát theo...
Chúng tôi cũng biết tới chơi game, trốn học chơi game...
Cả một thế giới mới ập đến, những luồng văn hóa mới, những luồng tư tưởng mới, chúng tôi ngỡ ngàng tiếp nhận và hấp thụ nhưng cũng rụt rè, bối rối, phân vân bởi định kiến của các thế hệ đi trước. Hồi đó, chúng tôi được chỉ bảo là chơi game là xấu, là hư, nghe-xem các chuyện tình yêu là không được phép; nghe-hâm mộ thần tượng là lãng
phí thời gian và tiền bạc, là bi lụy cần phải tránh. Chúng tôi đã là một thế hệ hoang mang, nơi mọi thứ mới mẻ ập như cơn lũ quét nhưng lại thiếu một điểm cao để nhìn nhận toàn cảnh.
Từ 2005-2015, chúng tôi đã chạy chặng này như thế nào?
Từ 2005, chúng tôi rời nhà trở thành sinh viên, đi học, bước ra khỏi sự bao bọc của gia đình.
Lần đầu tiên, chúng tôi biết tới thành phố thủ đô, xa lạ, lần đầu tiên cầm tiền, học cách cầm tiền chi tiêu. Lần đầu tiên chúng tôi quy đổi những bữa ăn nơi thành phố ra bao gạo, ruộng rau, ngày công phụ vữa, tiết dạy...của bố mẹ. Lần đầu tiên đi xe bus về bến ngược hướng muốn đến, lần đầu tiên vì sợ mặc cả, vì sợ người bán hàng chửi mà mua đắt gấp 3 lần...
Lần đầu tiên chúng tôi biết sao chỉ trong lớp, trong khoa mình thôi đã có nhiều bạn học giỏi tới vậy, sao có nhiều bạn có điều kiện gia đình thật tốt, và cũng có những bạn thật khó khăn về điều kiện sống...Chúng tôi cảm nhận rõ nét hơn bao giờ hết khoảng cách thành thị -nông thôn, khác biệt vùng miền, văn hóa...; xa nhà, bám víu, nương tựa vào những tình cảm bạn bè thuần hậu từ phổ thông để hòa nhập và vươn lên...
Năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO. 2008-2009, khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Sinh viên, chưa ý thức được nhiều, nhưng năm đầu bữa cơm bụi là 3000 vnd thì sau một vài năm, phải 20.000 -50.000 vnd chúng tôi mới được một suất cơm.
Những năm đầu đại học, chúng tôi cập nhật thông tin với bạn bè qua thư tay; trả 2000 vnd cho mỗi lần nghe điện thoại của bố mẹ từ quê nhà gọi lên. Rồi có quán net, tuy phải trả 2000 -3000 một giờ nhưng có thể dùng Yahoo để nhắn tin cho bạn bè, hẹn nhau giờ ra net trùng nhau để cùng kể chuyện, buôn chuyện.
Tôi có cái đài có thể nghe được cả radio, mở được băng cassette, mở được đĩa nhựa. 8000 vnd một cái đĩa được các anh chị khóa trên sao in ra đi bán, tôi sưu tầm cả một hộp đĩa nhạc tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Việt...Tôi có thể nghe tin tức radio, tôi có thể nghe băng cassette học tiếng Anh, mỗi lần muốn nghe lại đoạn nào là ấn nút + - . Năm thứ 3 đại học, tôi có cái PC lắp từ đủ thứ linh kiện cũ, CPU cũ, Ram cũ, quạt kêu vo vo, màn hình to một cục...rồi sau đó là màn hình
mỏng dần hơn, rồi tôi có chiếc usb đầu tiên, rồi cái máy nghe nhạc Mp3 256M đầu tiên... Tôi có thể viết văn bản, làm powerpoint, lưu ảnh, tự hát hò ghi âm và lưu trong máy tính, chơi game bắn bóng, trải bài... Tôi cũng có chiếc điện thoại di động đầu tiên, mua 600.000 vnd, loại bàn phím số mà mỗi lần nhắn ký tự chữ phải nhấn cứng cả tay, điện thoại màn hình đen trắng, không camera. Thế mà tôi thấy sĩ ngất đời, mê đắm trong sự tiện lợi, kỳ diệu của công nghệ và kỹ thuật.
Không chỉ tôi, chúng tôi hồi đó đều như vậy, lần đầu được nhắn tin online, lần đầu được chơi game online, lần đầu lập email, lần đầu tra Google, lần đầu viết blog 360, lần đầu dùng điện thoại nhắn tin cạch cạch mỗi đêm cho bạn, cho “người ta”....Chúng tôi là những miếng bọt biển, hút hết mọi thứ “tiên tiến” mà công nghệ mang tới.
Internet, từ ADSL qua cáp quang, chúng tôi từ sinh viên trở thành người tốt nghiệp đi làm, cũng là lúc bắt đầu mạng xã hội bùng nổ, chủ yếu là facebook, chúng tôi bắt đầu kết nối với nhau dưới dạng những tương tác cộng đồng, ít gặp mặt nhưng online nhiều.
Từ khi còn bé tới lớn lên, học tập và tốt nghiệp, chúng tôi được nuôi lớn bằng một ý thức hệ là học hành chăm chỉ, có công việc ổn định, và sẽ có thành công. Nhưng năm chúng tôi ra trường, bắt đầu tìm kiếm việc làm, cũng là năm khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra, lạm phát cao, thất nghiệp nhiều...Ý thức, tâm lý của chúng tôi chao đảo,
kỳ vọng và thực tế va chạm.
Nhưng chẳng gì dũng cảm hơn tuổi trẻ, chúng tôi đã bắt đầu có những công việc đầu tiên ở vào thời điểm đất nước bắt đầu hội nhập sân chơi quốc tế sau WTO, các công ty FDI, NGO, công ty tư nhân nước ngoài từ nhiều quốc gia khác nhau...tới Việt Nam. Mô hình làm công ăn lương kiểu công chức đã không còn là kim chỉ nam cho chúng tôi, chúng tôi tỏa ra mọi ngành nghề và khám phá khả năng bản thân. Công việc không còn được định nghĩa bằng số giờ làm ổn định mà bằng hiệu quả, bằng lượng công việc, các công ty nước ngoài tới mang tới văn hóa làm việc khác biệt, cách tiếp cận thực dụng, hoặc phải học hỏi
để thích nghi, hoặc bị rời khỏi sân chơi... Và vì thế, chúng tôi là thế hệ đầu tiên “hoài nghi” định nghĩa về “sự ổn định” của bố mẹ, và do đó, là thế hệ đầu tiên dám “nhảy việc” để tìm kiếm và thách thức giới hạn bản thân; sự trung thành với một tổ chức thay bằng trung thành với mục tiêu sự nghiệp cá nhân.
Năm 2007, thế hệ Iphone đầu tiên ra đời, sau đó là Samsung Galaxy S, thế giới chuyển dần từ bàn phím vật lý sang màn hình cảm ứng. 2009, 3G được cấp phép tại Việt Nam, có nghĩa là có thể online từ bất kỳ đâu. Sự bùng nổ của làn sóng K-Pop, truyền hình thực tế, nghệ sĩ indie, vlogger đời đầu, Facebook dần thay thế và đánh bại Yahoo, Youtube dần thay thế tivi truyền thống...Chỉ trong một thời gian ngắn,
chúng tôi đã trải qua những sự thay đổi chóng mặt về xã hội, công nghệ, văn hóa giải trí, ...rèn luyện cho chúng tôi khả năng thích nghi cực hạn. Chúng tôi học bằng bút, sách giấy, vở viết, nhưng làm việc bằng máy tính, lớn lên với đài truyền thanh, với băng cassette nhưng kiếm tiền, kết nối qua nền tảng số.
Thế nhưng, chúng tôi lại là thế hệ đầu tiên “cô đơn”. Thay vì giao tiếp trực tiếp, chúng tôi giao tiếp qua tin nhắn, qua màn hình máy tính, điện thoại; chúng tôi thấy hình ảnh bạn bè cùng lứa qua màn hình, những bữa ăn ngon, những chuyến du lịch thú vị, những nhà, những xe, những thăng tiến trong công việc...một thứ áp lực sinh ra từ sự phát triển công nghệ, khiến chúng tôi “bùng nổ” trên mạng xã hội nhưng lại “thu mình” trong thực tế.
Xã hội bắt đầu có những định nghĩa, bằng chứng về sự thành công khác với những gì chúng tôi hấp thụ từ nhỏ: thành công bằng với nhà đẹp xe to, nhiều mối quan hệ, sự thăng tiến, của cải, check in sang chảnh... Chúng tôi từ đó trở thành thế hệ đầu tiên buộc phải rời bỏ những lý tưởng, mơ mộng để trở nên “thực dụng”, tính toán tài
chính cho sự tồn tại trong xã hội của chính mình.
Giai đoạn này cũng là lúc mà văn hóa phương Tây tràn vào mạnh mẽ, chúng tôi cảm nhận được hương vị của sự tự do cá nhân, của sự “dám khác biệt”, chúng tôi bắt đầu suy nghĩ và vượt ra những cách tiếp cận thông thường, trở thành thế hệ “khó bảo, khó hiểu, khó dạy “ trong mắt các bậc cha mẹ. Sự độc lập, độc bản, sức khỏe tâm thần, tự chăm sóc bản thân...mới chính là điều trọng yếu trong tâm lý xã hội của chúng tôi, những “khái niệm” mà thế hệ trước không đồng cảm và mặc định kiểu “rỗi hơi”, “vớ vẩn linh tinh” 😊Một “chúng tôi”
lạc lõng giữa những lời dạy bảo truyền thống của gia đình, của những định kiến, nếp nghĩ xưa cũ và sự tấn công ồ ạt của những làn sóng hiện đại từ một thế giới rộng hơn ngoài kia.
Giai đoạn này, chúng tôi không chỉ bị tấn công bởi sự thay đổi của những con số vật lý về kinh tế, tài chính, công nghệ...mà còn bởi những cú đánh ngợp mặt của sự thay đổi tâm lý xã hội và thế giới quan, chúng tôi đứng giữa, bị giằng xé giữa những giá trị cũ và sự cám dỗ của những cái mới, những cuộc cách mạng trong mọi lĩnh vực.
Chúng tôi đã có một “chấn thương thế hệ” vào chính những năm tháng trưởng thành của chính mình.
Từ 2015-nay, chúng tôi đã chạy chặng này như thế nào?
Đây có lẽ là 10 năm quay cuồng và biến động nhất của chúng tôi.
Đất nước tham gia mạnh mẽ, sâu rộng hơn vào các tổ chức, hiệp hội trên thế giới, hội nhập với nhiều quốc gia, nền kinh tế; cùng với sự phát triển của công nghệ, khiến bất kỳ một biến động nào từ thế giới ngoài kia đều có thể ảnh hưởng tới bữa cơm, chiếc áo, sức khỏe của chúng tôi.
Internet, mobile data đã bao phủ đời sống, chúng tôi đã chuyển sang một trạng thái “sống” mới: đồ ăn đồ uống đặt qua app, mua sắm online qua Shoppee, Lazada...; di chuyển qua các ứng dụng gọi xe (Grab, Be, Xanh SM...), thanh toán hóa đơn tiền nhà, tiền điện, tiền nước...qua vài cú lướt trượt điện thoại, kết nối với bạn bè, người
thân qua mạng xã hội; nhận nhiệm vụ công việc, trao đổi công việc qua các ứng dụng chat; giải trí bằng tiktok, youtube, spotify, podcast, intagrams, pinterest...Không chỉ sử dụng, chúng tôi tham gia vào cỗ máy công nghệ khổng lồ này, trở thành người kiếm tiền từ chính các nền tảng số: làm youtuber, làm tiktoker, KOLs, affiliate...
Thời kỳ này, bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiều hơn các công việc phi truyền thống; trong bối cảnh kinh tế vĩ mô tương đối ổn định, vị thế đất nước được cải thiện, thị trường lao động cạnh tranh hơn, áp lực chi phí sống tăng...khiến chúng tôi rơi vào trạng thái “bất an” và “hoang mang”.
Những năm này, đáng ra là những năm tích lũy kinh nghiệm, tập trung cao hơn vào sự nghiệp thì COVID 19 ập tới và kéo dài tới 2022; giãn cách kéo dài, kinh tế tê liệt, đứt gãy công việc, thu nhập, sức khỏe thể chất và tinh thần bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Lần đầu tiên, chúng tôi buộc phải suy nghĩ về sự bình an nội tâm hơn là chạy đua sự nghiệp, danh vọng. Bỏ phố về quê, học thêm các kỹ năng, sở thích mới, thiền, tập luyện, làm việc vừa đủ...đều là các xu hướng hậu đại dịch
mà thế hệ chúng tôi dùng để “chữa lành” cho chính những “kiệt quệ” về tinh thần, thể chất của mình.
Đại dịch kết thúc, chưa kịp “chữa lành” xong, thì AI “tới”, Chat GPT ra đời, sau đó là cuộc chạy đua trí tuệ nhân tạo của các ông lớn công nghệ đã thay đổi hoàn toàn bản chất, cách thức tiếp cận và hiệu quả công việc. Đây là “cú sốc công nghệ” thứ hai mà chúng tôi phải đối mặt sau Internet. Những nhiệm vụ, công việc trước đây mất cả ngày, nửa ngày cặm cụi làm thì với AI, chỉ cần 30s là hoàn thành. Hiện thực nghiệt ngã, khiến chúng tôi rơi vào trạng thái sợ bị đào thải; vừa mới thành thạo smartphone và mạng xã hội chưa lâu thì đã phải học lại từ đầu với AI, lo lắng thế hệ gen Z có thể lấp đầy khoảng cách kiến thức, kinh nghiệm mà chúng tôi rèn rũa, tích lũy trong hàng chục năm trời chỉ bằng vài câu lệnh và cú enter. Và rồi, chúng tôi thích nghi, chấp nhận AI là một phần của cuộc sống, để rồi tận dụng, khai thác nó phục vụ cho nhu cầu công việc và đời sống của mình.
2025, 5G phủ sóng diện rộng, chúng tôi đã không thể sống thiếu các nền tảng số.
Sự phát triển của công nghệ đã khiến chúng tôi bị kẹt giữa hai kiểu làm việc, một bên là quản lý công việc kiểu truyền thống (tương tác trực tiếp, gặp gỡ, họp hành trực tiếp, chỉ đạo trực tiếp, điểm danh hàng ngày...) và thế hệ nhân viên gen Z (làm việc từ xa, thạo AI, chú trọng hiệu quả và sự hoàn thành hơn là tập trung vào củng cố quan hệ).
Từ những hưng phấn tuổi trẻ và bản lĩnh khám phá, trải qua khủng hoảng “tâm lý xã hội” và tâm lý “sống sót” sau đại dịch và khủng hoảng, những gì đang chờ đợi chúng tôi?
Chúng tôi 40 tuổi rồi, thừa 10 tuổi để có thể bồng bột và liều lĩnh thử thách nhưng cũng thiếu 10 tuổi để có thể an phận, chờ thời. Sinh ra dưới “chòm sao” “Đổi mới”, có lẽ chúng tôi cũng bắt đầu cảm nhận được giai đoạn tới sẽ là một chặng vượt rào tiếp theo mà chúng tôi không thể bỏ cuộc giữa chừng.
Từ những ngày mà một bát cơm nguội sau giờ học là tất cả những gì mong muốn, tới những bữa ăn no, tới những bữa ăn ngon, tới những bữa ăn kiêng....
Từ đi bộ trên con đường đất ướt nhão nhoét và trơn trượt ngày mưa để tới trường, tới đạp xe đạp đi học cấp 2 cách nhà 7 km, tới xe máy để đi thực tập, đi làm, rồi tự lái ô tô, rồi ngồi máy bay ra nước ngoài...
Từ được dạy phải khiêm tốn, tiết chế bản thân, không khoe khoang, tới “đấu tranh” để có thể khẳng định “cá tính” bản thân, tới sử dụng các ưu điểm, năng lực cá nhân để quảng bá bản thân, để vươn lên và định nghĩa mình...
Từ thiếu cả giấy để viết, thiếu cả sách để học và đọc, tới đài radio, đầu đĩa, tivi, máy tính, điện thoại, internet, mạng xã hội, AI...Từ số không công nghệ tới công nghệ sinh ra, công nghệ mang lại sự tiện lợi, tới việc công nghệ tạo ra sự phụ thuộc đồng thời kiểm soát con người...
Từ thiếu thông tin, tới được tiếp cận thông tin, tới đa dạng thông tin, và “lạc lối” trong biển thông tin...
Từ chơi chuyền, chơi diều, ô ăn quan, tới chơi game cài sẵn trên máy tính khi chưa có internet, tới game online, game tương tác, game có đồ họa đẹp, game có cốt truyện...
Từ nhảy xuống ao nước trong veo ôm bè chuối tới không dám nhảy xuống vì nước ô nhiễm, tới bơi trong bể bơi đầy mùi clo, tới bơi ở biển nơi có những con sóng vỗ và lại tìm về những nơi hoang sơ để có thể ngụp lặn trong làn nước trong mát...
Từ lá thư tay, tới cuộc gọi bằng điện thoại bàn, tới tin nhắn sms qua điện thoại bàn phím số, tới những dòng chat qua app không mất phí, tới tương tác mạng xã hội trực tiếp, có thể “theo dõi” nhau...
Từ những bài hát ru, ca dao, câu chèo câu tuồng, tới những bập bẹ “hello”, “goodbye”, rồi “bon jour”, “你好“, tới những bài hát, bài luận bằng tiếng nước ngoài, rồi tới các báo cáo, nghiên cứu bằng tiếng nước ngoài....
Từ sinh ra trong thiếu thốn, bao cấp, tới nhận được sự giáo dục theo mô hình cũ, tới buộc phải sống trọn đời trong những cải cách, cập nhật, “nâng level” liên tục...
Từ ngạc nhiên, thích thú khi xem mấy bác thợ đóng gạch từ đất ướt, nung qua lửa thành gạch xây nhà tới máy xát gạo chạy bằng dầu, tới xe máy ô tô đổ xăng, tới các hệ thống tự động hóa, tới máy móc quanh mình...
Nhưng:
Chúng tôi là thế hệ duy nhất có thể ngồi nghe bố mẹ, ông bà kể về những ngày chiến tranh, về đói nghèo, kìm kẹp mà không thấy xa lạ nhưng đồng thời cũng là thế hệ có thể đánh giá cao, hiểu và cởi
mở với những cái mới, những “cợt nhả” và đồng cảm với áp lực thời đại của gen Y, gen Z.
Chúng tôi cũng là thế hệ duy nhất vừa có thể kết nối với quá khứ, với cộng đồng, họ hàng, nhưng cũng là thế hệ truy đuổi “tính cá nhân” và “sự riêng tư”, độc lập của thế hệ trẻ hơn.
Chúng tôi cũng là thế hệ duy nhất được hưởng sự sẻ chia, yêu thương, thân ái giữa người với người, nhưng cũng là thế hệ phải chịu đựng cả
“cô đơn” trong một “thế giới phẳng”.
Chúng tôi cũng là thế hệ muốn sống cho mình nhưng lại cảm thấy “ích kỷ” , “có lỗi” nếu làm vậy.
Chúng tôi không an phận như thế hệ trước, nhưng cũng chưa đủ dũng cảm để nổi loạn như thế hệ sau.
Và tương lai, biết đâu đó, chúng tôi lại là thế hệ đầu tiên sáng đeo ba lô đi, tối mang ba lô về,tự chủ tài chính để ngày ngày đi tới viện dưỡng lão trong một tâm thế thoải mái, vui vẻ.
Biết đâu đó, chúng tôi có thể gặp người ngoài hành tinh...
Và biết đâu đó, chúng tôi chính là “người được chọn” để sinh ra dưới bầu trời đầy sao ngày ấy!

Quan điểm - Tranh luận
/quan-diem-tranh-luan
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất